Cứ nghĩ đến khu Hyde ở Manchester, lòng tôi lại ấm lại. Đây là nơi mẹ tôi lớn lên, cũng là nơi gia đình ngoại và bạn bè mẹ đã sinh sống. Đó là nơi của những lần viếng thăm hạnh phúc hồi tôi còn bé và là chốn hành hương trong suốt cuộc đời tôi, vì mẹ tôi được chôn cất tại đây.
Tôi cảm thấy vui khi nghĩ đến những người phụ nữ ở Hyde, bà tôi, dì tôi – họ trông không giống những người lớn tuổi sống cô độc, gầy yếu mà tôi thỉnh thoảng trông thấy. Những người phụ nữ tôi biết luôn chào đón tôi trong vòng tay ấm áp của họ, cho phép tôi bước vào cuộc sống bận rộn và những căn nhà chỉn chu của họ. Họ là một phần không thể tách rời của một cộng đồng lớn.
Năm 1998, tôi nhận được cuộc gọi đến giám định tử thi lần hai cho một người phụ nữ lớn tuổi ở ngay chính khu đó. Bà Kathleen Grundy là người gia đình tôi quen biết, là bạn học của dì tôi. Bà qua đời ngày 24 tháng 6 và được chôn cất vào ngày 1 tháng 7 trong cùng nghĩa trang nơi mẹ tôi yên nghỉ.
Tuy vậy, vào tháng tám, thi thể bà được khai quật lên và giờ đây tôi đang đứng trước thi thể bà trong nhà xác của Bệnh viện Đa khoa Tameside.
Bà đã 81 tuổi nhưng có vẻ vẫn có sức khỏe tốt. Không có dấu hiệu của sự vật lộn. Hoàn toàn khác với những người ở tuổi bà và cả thế hệ sau, các động mạch của bà chỉ có dấu hiệu bị xơ vữa rất nhẹ.
Vậy mà kết quả xét nghiệm độc học lại kể một câu chuyện khác hẳn. Mặc dù tôi không tìm thấy dấu vết của mũi kim chích, có bằng chứng rõ ràng bà đã hấp thụ một lượng lớn morphine hoặc diamorphine vài giờ trước đó khiến bà qua đời. Tôi đưa ra nguyên nhân tử vong: dùng morphine quá liều.
Thực tế, bà đã qua đời dưới sự chăm sóc của người bác sĩ mà gia đình bà tin tưởng, và sau cái chết của bà, cuối cùng Harold Shipman cũng lộ diện là tên giết người hàng loạt. Tôi vẫn nhớ hắn được bệnh nhân đánh giá rất tốt, truyền tai nhau và ngưỡng mộ. Rất nhiều người tả hắn là bác sĩ dễ thương nhất trong vùng. Hắn đặc biệt được lòng các bệnh nhân lớn tuổi vì rất vui vẻ khi đến nhà thăm người bệnh. Hồi mở phòng khám tư vào năm 1992, phòng khám của hắn ngập bệnh nhân nhờ những lời khen truyền miệng.
Những nghi ngờ quanh hắn bắt đầu dấy lên sau cái chết đột ngột của bà Kathleen Grundy, chỉ vài ngày sau khi bản di chúc của bà được sửa lại theo hướng có lợi cho hắn. Hắn làm giấy chứng tử cho bà với nguyên nhân tử vong “tuổi già”.
Các ca khác lập tức được lật lại, thêm nhiều xác chết được khai quật. Tôi dự năm trong số các buổi khám nghiệm tử thi đó. Người tiếp theo tôi giám định là một phụ nữ 73 tuổi, bà chỉ bị bệnh nhẹ ở động mạch vành và khí phế thũng không đáng kể. Bà không thể bị viêm phổi như những gì Shipman ghi trên giấy chứng tử. Bà bị ngộ độc morphine. Thi thể tiếp theo cũng kể cùng một câu chuyện. Kỳ thực, tất cả các thi thể.
Không thể tưởng tượng nổi một bác sĩ gia đình lại giết chết sáu bệnh nhân của mình. Trong một lá thư sau đó, tôi viết:
Cần thiết xác định nguồn gốc morphine và khả năng nhiễm độc... căn cứ vào sự trì hoãn sau khi chết và thời gian giám định tử thi, và những sự việc, hoạt động diễn ra quanh thi thể, khả năng nhiễm độc phải được loại trừ một cách chắc chắn... Tôi đề nghị tham khảo ý kiến của một dược sĩ để biết được xác suất nhiễm độc trong quá trình tẩm liệm, ở quan tài hoặc những thứ được đặt trong quan tài bị nhiễm các chất có morphine trong quá trình chôn cất... Cuối cùng những điểm chung giữa các thi thể cũng cần được xem xét (chất ướp xác, nhân viên nhà tang lễ...).
Dĩ nhiên lý do khiến tôi muốn mọi khả năng đều được tính đến trong quá trình điều tra không phải vì tôi là nhân chứng chuyên môn của bị cáo (đúng vậy, kể cả những tên giết người hàng loạt cũng được bào chữa) mà vì tôi cũng giống bất cứ ai, không thể chịu được ý nghĩ bác sĩ giết các bệnh nhân của mình một cách có hệ thống như vậy. Vài năm sau, khi Shipman đã ngồi tù vì tội giết hại không dưới 15 bệnh nhân của mình, dư luận dậy sóng với các kết luận trong buổi thẩm vấn công khai của Chủ toạ – Dame Janet Smith, rằng suốt quá trình hành nghề hơn 20 năm của mình, Shipman hẳn đã giết hại hơn 215 bệnh nhân và vẫn còn hàng trăm ca không thể xác định được sự thật.
Động cơ của hắn không bao giờ sáng tỏ. Nói chung, các nạn nhân của hắn sống một mình. Nói chung, chứ không phải luôn luôn, các nạn nhân của hắn là những người lớn tuổi. Nói chung, nhưng không phải luôn luôn, họ là nữ. Những người từng nuôi hy vọng sẽ có ngày Shipman tiết lộ động cơ giết người của mình và xác nhận trong tổng số 494 cái chết có bao nhiêu ca do hắn gây ra chắc sẽ thất vọng vì năm 2004, người ta phát hiện hắn treo cổ trong tù.
Trong mắt tôi, vùng Hyde đã không còn như xưa từ sau những vụ khai quật mộ. Thay vì là nơi chốn tôi nhớ tới với sự ấm áp của nhà ngoại và những người phụ nữ lớn tuổi hoạt bát, giờ đây nó trở thành nấm mồ lớn của những người phụ nữ bị chính bác sĩ họ tin tưởng sẽ chăm sóc họ sát hại.
Về lại London, vẫn còn bán tín bán nghi về những chi tiết nhỏ trong vụ án của Shipman, tôi lại có một trải nghiệm không mấy vui vẻ khác: đấu kiếm với Iain West. Tôi nghe tin ông ấy đã về hưu với tất cả sự kinh ngạc. Sau ngần ấy năm thề thốt không bao giờ ngơi nghỉ, giờ ông ấy đã chọn nó. Có tin đồn sức khỏe Iain không còn tốt nhưng tất nhiên, việc ông ấy bỏ phố về quê làm vườn ở Sussex là điều không tưởng. Ông ấy vẫn hay lù lù xuất hiện ở nhà xác và trên tòa, khi tôi từ Manchester trở về, chìm sâu trong suy tư về những tình tiết được hé lộ ở vụ án Shipman, tôi phát hiện Iain đang muốn trở thành đối địch của mình trong lĩnh vực vết thương do dao.
Chúng tôi bất đồng quan điểm sâu sắc: không phải đối đầu tận mặt mà bằng con chữ. Chúng tôi nộp báo cáo với những từ ngữ mạnh mẽ và đối nhau chan chát. Lập luận của ông ấy như thường lệ vẫn rất sắc sảo. Mặc dù vào thời điểm đó tôi đã nhận ra nó không còn sắc sảo như xưa.
Vụ án xoay quanh lời khai của kẻ tình nghi về cách thức con dao hung khí xuyên vào tim nạn nhân. Những trường hợp như vậy thường có tính sáng tạo rất cao, cho đến lúc này, tôi nghĩ tôi đã nghe đủ lý do lý giải vì sao lưỡi dao lại hiện diện trong cơ thể nạn nhân. Lời biện hộ tôi nghe quen nhất là “Anh ta lao vào con dao”. Không phải lúc nào cũng dễ đồng tình hay bác bỏ, tôi thường cần thêm càng nhiều chứng cứ càng tốt để dựng lại vụ tấn công. Trong vụ này, không có gì cả. Một người phụ nữ cãi nhau với chồng, hậu quả là người đàn ông chết, chúng tôi chỉ có lời khai của người phụ nữ như bằng chứng duy nhất. Chuyên viên điều tra cấp cao đã gọi điện cho tôi trước, việc hiếm khi xảy ra, để xin ý kiến cách lấy lời khai của người vợ, vì ông ấy biết toàn bộ vụ án sẽ phải dựa trên lời khai của cô ta.
Tôi nói: “Đừng chỉ đưa tôi những thứ chung chung. Buộc cô ta kể lại thật chi tiết ấy. Đừng cho phép cô ta nói ‘Anh ta xông vào tôi!’ Chẳng có ý nghĩa gì cả. Yêu cầu cô ta tái hiện lại, miêu tả kỹ, nói rõ ai đã ở đâu và cách cô ta cầm con dao, cầm bằng tay nào, hai người di chuyển theo hướng nào. Vậy tôi mới có thể đồng tình hoặc bác bỏ câu chuyện của cô ta.”
Ông ấy làm đúng những gì tôi yêu cầu. Tuy nhiên vụ án vẫn là một câu hỏi hóc búa.
Cặp vợ chồng đang trong quá trình ly hôn đã cãi nhau kịch liệt về việc hai đứa con trai nhỏ sẽ sống cùng ai. Họ khá giả, sống trong một ngôi nhà lớn và được coi sóc cẩn thận. Người chồng kiên quyết muốn nuôi hai con, một phiên tòa tại tòa án gia đình sắp diễn ra. Tất cả đều đang sống cùng nhau trong một ngôi nhà, dù người vợ đã thuê xong nơi ở khác để cùng các con sớm dọn ra ngoài.
Trong ngày xảy ra vụ án, người chồng đã xin nghỉ làm để đưa các con đi chơi. Người vợ vẫy tay chào khi chiếc xe từ từ rời đi, đột nhiên người chồng dừng xe lại, vào nhà, gọi vợ theo. Người vợ nghĩ anh ta đã quên thứ gì trong nhà nên đi theo. Người chồng đóng sầm cửa lại, thông báo anh ta muốn hai đứa con ở cùng mình.
Theo lời khai của người phụ nữ, mọi việc diễn ra như sau:
“Tôi nói: ‘Nhưng anh phải đi làm, anh sẽ xoay sở thế nào?’
Anh ta đáp: ‘Tôi sẽ nghỉ việc. Tôi sẽ chăm sóc các con của tôi.’
Tôi trả lời: ‘Ồ không, anh sẽ không làm vậy đâu.’”
Sau đó người vợ mô tả cơn thịnh nộ của chồng. Dấu hiệu rõ nhất là cách anh ta nghiến răng. Cô ta nhớ điều này từ lần trước, khi bị anh ta đánh. Tuy nhiên, như cách người vợ thể hiện, bất chấp phong cách sống của tầng lớp trung lưu, cô ta vẫn là cơn bão nhỏ ẩn mình, đã rút bài học từ những năm thơ ấu rằng mềm mỏng chỉ là miếng mồi ngon cho bắt nạt. Vì thế trong lần bị tấn công trước, cô ta đã đánh lại chồng và sẵn sàng lặp lại điều đó.
Cô ta không thể giải thích vì sao họ di chuyển từ hành lang ra bếp.
“Chuyện tiếp theo diễn ra là tôi đang ở bếp, tôi nghĩ anh ta đấm vào bụng tôi. Anh ta bắt đầu đấm tôi, tôi nghĩ anh ta đánh tôi nhưng khi nhìn xuống, tôi thấy một cái cán màu xanh lá, anh ta không đánh tôi, anh ta đã đâm tôi.
Tôi nói: ‘Anh đang làm gì vậy, anh đang cố giết tôi à?’
Và anh ta, anh ta rút con dao ra khỏi bụng tôi, bắt đầu đâm vào cổ tôi. Anh ta cố cắt cổ tôi. Anh ta cố cắt đứt động mạch để tôi chết..
Tôi nói với anh ta: ‘Vì Chúa, anh đang giết tôi, nghĩ về mấy đứa nhỏ đi... Đừng, đừng giết tôi, nghĩ về mấy đứa con... Anh cứ giữ con đi, giữ mấy đứa nhỏ, xin đừng giết tôi.’
Tôi không nghĩ anh ta còn một con dao hay gì khác nhưng anh ta bắt đầu đá tôi. Anh ta nắm đầu tôi đập xuống sàn. Tôi bị bầm ở đây và gãy một cái răng. Anh ta đấm đá tôi, rồi cầm một cái ghế lên nện vào người tôi. Tôi đã nghĩ, Chúa ơi, hắn sẽ không dừng lại cho đến khi nào tôi chết. Tôi đã thừa sống thiếu chết với những thương tích này rồi. Tôi thấy nếu vào nhà tắm tôi sẽ ngập trong máu.
Anh ta không nói gì mà chỉ muốn cắm con dao vào cổ tôi, tôi phải đoạt được con dao... Anh ta ôm tôi ở đây, tôi cố đoạt lại con dao bằng tay phải, tôi chụp được cán dao, hay lưỡi dao gì đó và chỉ biết nắm nó thật chặt... Máu khắp nơi, khắp sàn và cả trên tường.
Và tôi đã có... có con dao trong tay, tay phải, nên tôi vung nó lên. Tôi tiến lên trước rồi vung dao tiếp. Hẳn tôi trượt chân hoặc ngã trên sàn, tôi đè lên con dao...”
Chuyên viên điều tra dừng cô ta lại ở đó, yêu cầu diễn lại những gì đã xảy ra, hơn một lần. Ông ấy đã có thể dựng lên khung cảnh cô ta huơ con dao trong không khí khi ngồi trên sàn nhà, nhưng cô ta không thể diễn tả lại con dao chạm vào nạn nhân bằng cách nào. Cô ta còn không có lý do gì để dám tin mình đã giết chồng vì anh ta đã chạy ra khỏi phòng. Cô ta lao vào ga-ra, khóa trái cửa, gọi cảnh sát. Suốt quá trình, hai đứa con vẫn yên vị trong ô tô bị khóa.
Liệu cô ta có nói sự thật không? Hay cô ta đã giết chồng rồi làm hại mình để nguỵ tạo bằng chứng?
Các bức ảnh chụp hiện trường chứng minh câu chuyện của cô ta. Máu vấy lên tường và đầy sàn nhà. Những cái ghế xiêu vẹo. Nhìn chắc chắn giống một cuộc vật lộn.
Người chồng có nhiều vết thương:
- Một vết thương ngoài da ở ngực trên
- Một vết thương sâu 3cm ở phía dưới đùi trái
- Hai vết thương nhỏ nhưng hơi sâu hơn trong lòng bàn tay phải
- Một vết đâm vào tim, chọc thủng phần phía trước tâm thất phải và để lại một vết thương nhỏ hơn ở đỉnh
Anh ta nhanh chóng được chuyển đến bệnh viện, một cuộc đại phẫu thuật tim được tiến hành với vô số mũi khâu. Cuộc phẫu thuật không thành công do vết thương xuyên tim chí mạng.
Tuy nhiên nếu nhìn lướt qua, các vết thương của anh ta còn không nặng bằng vợ mình. Tôi không gặp cô ta, cũng chưa tận tay giám định các vết thương, thay vào đó tôi kiểm tra rất nhiều ảnh chụp các vết thương của cô ta. Tôi muốn tìm các dấu hiệu tự hoại từ những bức ảnh, dấu hiệu của một vụ giết người đã được tính toán để trông giống như tự vệ.
Các chuyên gia pháp y thường phải định đoạt vụ án nào là giết người hay tự sát, tai nạn hay cố ý gây thương tích. Các vết thương do dao đâm là cả một “bầu trời dối gian”, thường trông khủng khiếp tới nỗi người thiếu kinh nghiệm sẽ chẳng dám nghĩ ai đó lại có thể tự gây ra cho mình như vậy. Tôi đã kinh qua nhiều năm để hiểu rằng gần như không gì người ta không dám làm để tránh tội giết người. Những vết thương tự hoại thường dễ nhận diện: được ngụy tạo bằng lực nhẹ cho hiệu quả cao, thường ở phần cơ thể tay hung thủ dễ tự với tới. Những vết thương không phải tự hoại cũng dễ nhận biết, tôi hài lòng vì thỉnh thoảng cũng giúp giải oan được cho những người vô can khỏi tội danh giết người.
Người vợ trong trường hợp này có các vết thương như sau:
- Bầm ở phía trên cánh tay trái, vai trái, phía cần cổ bên trái, hông phải, hông trái, đùi phải, tay phải
- Một vết rạch há miệng nhưng không sâu ở phía trước bên cổ trái
- Những vết cào ngoài da ở cùng khu vực
- Một vết thương hở cạnh vết thương cổ
- Một vết rạch ngang xương quai xanh
- Nhiều vết rạch ở phần sau khuỷu tay trái
- Một vết rạch nằm ngang dưới ngực phải
- Nhiều vết đâm ngắn cả hai bên bụng
- Một vết thương ở đùi phải
- Một vết rạch há miệng ở tay phải
- Các vết thương ngoài da, ngắn trên ngón cái tay phải
- Một vết xước do dao trên tay trái
- Một cái răng bị gãy
Ủy ban Công tố Hoàng gia đã nhóm họp rất nhiều lần vì vụ án này. Khi gia đình người chồng quá cố nghe phong thanh vợ anh ta có thể không bị kết án, họ điên cuồng đòi truy tố dân sự. Họ thuê Iain viết một bản báo cáo so sánh bản miêu tả cuộc ẩu đả chết người mà người vợ đã khai với cảnh sát và những vết thương thật sự của cô ta.
Đây là bản báo cáo của Iain, nằm chờ trên bàn tôi khi tôi từ Manchester trở về. Ngôn từ dữ dội tới nỗi tôi có thể nghe thấy tiếng sấm sét rung chuyển bàn:
“Các chấn thương cùn trên cánh tay có thể do một loạt những cú đánh vào cánh tay. Dấu vết không giống như bị nắm.
Có khả năng một người tự gây thương tích cho mình bằng đồ vật hoặc tự cào cấu… nhưng trong trường hợp này, các vết thương trên cánh tay có thể do bị chồng hành hung.
Tuy nhiên, các vết thương tổng quát trên người cô ta hoàn toàn không có vẻ là kiểu vết thương do cuộc ẩu đả mạnh với chồng – người đang cố đâm cô ta. Làn da là một trong những phần mô mềm nhất của cơ thể con người, nếu một mũi dao đã xuyên qua, cứ cho là có một lực trung bình đằng sau nhát đâm, không gì cản được vật đó đâm sâu vào cơ thể. Trong rất nhiều trường hợp, lưỡi dao cắm ngập cán. Tất cả các vết thương trên cơ thể cô ta đều trông rất nông, ngoài da và không có vẻ bị đâm sâu.
Các vết thương tự hoại trên cổ không hiếm gặp. Không có bằng chứng cho thấy con dao đã đâm vào cổ. Căn cứ theo các vết thương trên bụng cô ta, tôi quả quyết những vết thương đó không phù hợp với hành vi dùng dao đâm mạnh có chủ ý mà giống tự gây ra hoặc bị đâm với độ kiểm soát nhất định.
Cô ta có thể đã là nạn nhân của một vụ hành hung có nắm đấm, thậm chí bị đánh bằng ghế, dù tôi không thấy bằng chứng của những cú đá vào đùi hay đầu bị nắm và đập xuống sàn. Kiểu cách chung của các vết thương phù hợp với tự hoại.”
Tôi đồng tình người vợ đã bị chấn thương do vật cùn. Tôi không đồng tình những vết thương từ dao do cô ta tự gây ta.
Tôi đưa ra vài lý lẽ cho lập luận này.
Đầu tiên, khi bị đâm vào bụng, cô ta miêu tả cảm giác giống như bị đấm, hoàn toàn không phải cảm giác bị đứt tay hay bị đâm. Đây là hiểu lầm thường thấy ở những người bị đâm, nhiều lần tôi đã nghe các nạn nhân kể họ chỉ cảm nhận được một cú đấm thay vì một con dao đang xuyên vào người. Đây là sự thật, nhưng không phải sự thật cô ta có thể biết trước đó.
Thứ hai, dù cô ta có thể tự gây ra vết thương trên cổ và bụng, rất khó tự gây ra những vết thương ở phần sau khuỷu tay và phần phía tay thuận.
Thứ ba, các vết thương trên người người chồng là phần quan trọng nhất. Ba trên bốn vết đâm và rạch đều là vết thương không chết người. Vết đâm vào đùi chứng tỏ người vợ đang ở trên sàn hoặc một vị trí thấp hơn người chồng. Vết thương vào tim gây chết người có do cố ý, nhưng trong hoàn cảnh muốn giành quyền kiểm soát con dao, tôi cảm thấy không loại trừ khả năng vết thương do vô tình gây ra. Không ai có thể chắc chắn không có cuộc xô xát nghiêm trọng nào khi nhìn chấn thương do vật cùn trên cơ thể người vợ.
Vụ án còn đầy nghi vấn và thiếu thống nhất, với tư cách nhân chứng chuyên môn, tôi không thể tuyên bố “không còn nghi ngờ gì nữa” với việc vết thương chết người ở người chồng có phải do cố tình không, vết thương của người vợ có phải do tự hoại không. Thậm chí ở mức tiêu chuẩn thấp hơn là cán cân xác suất, tôi cảm thấy không phải người vợ gây ra vết thương cho chính mình mà là chồng của cô ta.
Ủy ban Công tố Hoàng gia quyết định việc theo đuổi vụ án này không còn là phúc lợi của công chúng. Chuyên viên điều tra vụ án hiểu rõ gia đình nạn nhân đang có mặt tại tòa sẽ yêu cầu cảnh sát phải có mặt trong cuộc thẩm tra. Iain không có mặt trực tiếp để phát biểu nhưng bản báo cáo của ông ấy được nhắc đến. Tham chiếu của tôi nhận lại những tiếng la ó và đàm tiếu. Chuyên viên điều tra nhiều lần phải yêu cầu mọi người bình tĩnh.
Ý kiến của tôi được minh oan khi chuyên viên điều tra nhận định đây là vụ giết người có lý do chính đáng. Kết quả này được tuyên bố trong phòng xử án, trong không gian tĩnh lặng thoáng qua. Rồi cơn thịnh nộ nổ ra.
Tôi rời đi khi những tiếng la ó ngày càng tồi tệ. Nhưng như tôi được biết, những đe đọa tố tụng dân sự đối với người vợ không xảy ra. Lúc tôi về đến nhà, Chris đã ra ngoài còn Anna đang cặm cụi học Lý với sự tập trung đặc quánh xung quanh. Con bé gợi nhắc tôi đến hình ảnh của Jen. Ôm chồng hồ sơ dày của vụ án vừa rồi, tôi nghĩ ngợi mông lung đã bao giờ mình tập trung như vậy chưa hay bạ đâu hay đấy giống Chris.
“Hôm nay bố làm gì ạ?” Con bé hỏi.
Tôi kể với con bé về phiên tòa, về gia đình nạn nhân đầy phẫn nộ. Đó là lần đầu tiên con bé hỏi tôi về công việc.
Trước sự kinh ngạc của tôi, con bé hỏi: “Con xem các bức ảnh được không ạ?”
Có một điều kiêng kỵ con bé hiểu về công việc của tôi: Không được xem ảnh.
“Ảnh gì con?”
“Ảnh chụp thi thể người chồng.”
Lúc đó con bé 15 tuổi, còn đang học GCSE. Tôi lắc đầu: “Con còn hơi nhỏ để xem những bức ảnh chụp tại nhà xác.”
“Không. Con thật sự muốn xem. Con đã xem hàng đống hình minh họa trong sách Sinh học rồi.”
“Nhưng sách Sinh học của con không có hình ảnh vết dao đâm.”
“Con nghĩ con đủ gan để xem chúng, bố à.”
Có thể con bé đúng. Có thể đã đến lúc thôi giấu giếm công việc lạ lùng của tôi với lũ trẻ. Có thể từ những bản mẫu nghiên cứu tôi mang đến giảng đường hoặc tòa án nhưng không thể giấu đi hết, hoặc từ những cuộc trò chuyện y khoa trong các bữa ăn gia đình, nên Anna у mới thấy cái chết cũng chỉ là thủ tục.
Rồi tôi nói: “Bố sẽ cho con xem vết thương của người vợ, xem con chịu được không đã nhé. Vì cô ấy vẫn còn sống. Rồi con có thể cho bố biết ý kiến về việc cô ấy có tự đâm mình rồi làm cho nó có vẻ giống bị chồng tấn công hay không.”
Hai mắt Anna sáng rỡ.
“Bố nghĩ cô ấy không làm vậy, chuyên viên điều tra cũng nghĩ vậy, nhưng báo cáo của Iain West lại gây tổn thương và nói rằng cô ấy đã tự dựng lên mọi chuyện.
Anna gật đầu, chăm chú.
“Và chuyện này không thể, bố lặp lại là không thể mang đi thảo luận với bất cứ ai ngoài gia đình.” Tôi nghiêm khắc. Con bé nhìn tôi vẻ khuất phục.
“Trời. Con hiểu rõ điều này mà bố.”
Chúng tôi ngồi cùng nhau nửa giờ đồng hồ, thảo luận về các vết đâm, gắn kết một cách kỳ lạ. Những hình ảnh xấu xí không có vẻ khiến Anna phiền lòng. Cuối cùng vì sự nài nỉ của Anna, tôi cho con bé xem ảnh chụp thi thể người chồng và ảnh chụp vết đâm vào tim đã lấy đi mạng sống anh ta. Đã được gột rửa sạch sẽ ở nhà xác nên những vết thương trông chẳng có gì đặc biệt.
“Trông như đang nằm ngủ vậy.” Con bé nói. “Tử thi trông chẳng có gì đáng sợ cả.
“Không đáng sợ chút nào, nhưng bố sẽ không cho con xem ảnh chụp phủ tạng anh ta đâu, cũng vậy thôi.”
Con bé nhún vai.
“OK bố” Con bé nói. “Nhưng có xem thì con cũng bình thường mà.”
Lần đầu tiên tôi nghĩ lẽ nào Anna đã khám phá ra nhà bệnh lý học ẩn tàng trong con người mình.
“Bố cứ nghĩ con và Chris muốn làm bác sĩ thú y?”
“Anh Chris muốn vậy, con cũng muốn. Nhưng con cũng muốn trở thành bác sĩ.”
“Ờm, bố không nghĩ đến việc trở thành nhà bệnh lý học, chứ chưa nói đến bác sĩ pháp y.”
Con bé chớp mắt nhìn tôi, kinh ngạc. Đến tôi còn ngạc nhiên vì chính mình.
“Nhưng mẹ nói bố yêu công việc của mình mà!” Con bé phản đối.
“Bố có yêu. Nhưng...” Nhưng gì cơ? Đột nhiên những sự sỉ nhục trên tòa, những thân nhân cuồng nộ, rất nhiều cung bậc đau buồn, cái chết của những người phụ nữ lớn tuổi không ai nghi ngờ trước đó, tất cả không phải điều tôi muốn con gái mình tránh xa sao?
“Bố ơi?” Giọng con bé lo lắng. “Có chuyện gì vậy?”
Tôi nói: “Anna, bố mới nhận ra một điều. Chắc bố phải bắt chuyến bay lại thôi.”