Rốt cuộc, những nỗ lực kêu gọi thẩm tra của gia đình Stephen Lawrence đã đi đến hồi kết ngay trước thềm thiên niên kỷ mới. Trong bản báo cáo tổng luận của mình vào đầu năm 1999, Thẩm phán – Sir William Macpherson đã viết: “Chúng tôi tin hiệu quả tức thời của cuộc thẩm tra này... đã mạnh mẽ đưa ra công luận những phàn nàn chính đáng từ ông bà Lawrence. Cho tới nay đã ghi nhận sự bất bình của các nhóm cộng đồng thiểu số tại địa phương và trên cả nước về cách cư xử của cảnh sát trong vụ án này và những vụ án khác.”
Quá trình điều tra của cảnh sát trong vụ Stephen Lawrence được miêu tả là “khiếm khuyết thấy rõ”, tôi tin rằng chính nhờ vụ này công luận lần đầu gặp khái niệm “phân biệt chủng tộc có cơ cấu”. Cuộc thẩm tra này và các kết quả của nó đã chỉ rõ những thay đổi rõ rệt trong thái độ của công chúng với cảnh sát: Họ không còn là người bạn đáng tin cậy của những người vô tội nữa. Trong nội bộ Cảnh sát Đô thị London, cuộc thẩm tra có lẽ cũng dẫn tới sự thay đổi thái độ đối với những cộng đồng thiểu số.
Đối với gia đình Lawrence, mọi thứ vẫn chưa qua. Phần còn lại của câu chuyện được biết đến rộng rãi, tiếp tục được khui mở trong 13 năm tiếp theo và chưa có dấu hiệu dừng lại. Chí ít là một phần từ vụ án này, vào năm 2005, luật bất trùng khả tố đã được chỉnh sửa, một người bị buộc tội có thể bị kết án hai lần với cùng một tội danh khi bằng chứng mới xuất hiện. Năm 2011, phát triển của khoa học đã nhận dạng được DNA của Stephen trên quần áo nghi phạm và trở thành bằng chứng mới đủ để đưa nghi phạm ra tòa lần nữa. Đó cũng là lần hầu tòa gần nhất của tôi với tư cách nhân chứng chuyên môn, và có thể không phải lần cuối cùng với vụ này. Tháng 1 năm 2012, Gary Dobson và David Norris bị luận tội và lĩnh án 14 năm tù mỗi tên vì tội giết người. Không có bản án nào với ba tên còn lại trong vụ sát hại Stephen này, nhưng những kẻ tình nghi bị nêu tên công khai rất nhiều lần.
Quay lại cuối thập niên 90, guồng quay tại Bệnh viện St Georges ít nhiều ổn định, cuộc sống của tôi bắt đầu có nhiều lần bay hơn. Giờ đây tôi đã có thể bay một mình. Đúng vậy, một buổi sáng tháng Giêng lạnh giá, tôi bay lên, vào giữa những đám mây, một mình.
Tôi không hiểu vì sao cảm giác không có gì khác ngoài không khí dưới chân, trên đầu, xung quanh lại khiến tôi được giải thoát khỏi những thực tế tàn khốc trong công việc. Tôi không hiểu vì sao được bao quanh bởi thật nhiều không gian rộng mở cùng những phương tiện để tôi lèo lái lại cho tôi ảo giác tôi có khả năng kiểm soát định mệnh của mình mà không thứ gì ở mặt đất dưới kia có thể mang lại cảm giác tương tự. Tôi không hiểu vì sao việc ngồi sau bàn điều khiển máy bay lại có thể xua tan những mớ bòng bong quay cuồng trong não tôi lúc đó. Tôi chỉ biết tôi yêu nó, bất cứ khi nào bay, thứ duy nhất tôi tập trung là khoảnh khắc hiện tại.
Tôi bắt đầu tìm cách để những giờ bay không còn bị bó buộc vào các buổi chiều thứ Sáu với bên cảnh sát đô thị. Năm nay Anna sẽ học GCSE còn Chris lên A-level (*) . Cuộc sống gia đình và ở mức độ nào đó, cả công việc của chúng tôi đều xoay quanh lũ trẻ. Chúng không còn cần có người luôn túc trực bên cạnh, nhưng vẫn cần nhận được sự hỗ trợ bằng cách khác. Chỉ vài năm ngắn ngủi nữa thôi, cả hai sẽ đủ lông đủ cánh. Đó là một viễn cảnh đáng sợ. Rồi chúng tôi sẽ phải đặt thế giới của mình vào một hệ quy chiếu mới, và thừa nhận khi ngày đó đến, công việc của chúng tôi sẽ hoàn tất.
Đó là lý do vì sao chúng tôi mua nhà trên Đảo Man. Chúng tôi đều phải lòng nó trong một kỳ nghỉ hè. Nó cũng không xa nhà bố mẹ vợ tôi Austin và Maggie mấy, sẽ cần tu sửa khá nhiều nhưng chúng tôi đồng ý với nhau cuối cùng chúng tôi sẽ dọn về đó sống. Mặc dù cái “cuối cùng” đó có vẻ là thời điểm rất xa xôi.
Năm 1999, cuối cùng tôi cũng bỏ thuốc. Thiên niên kỷ mới, thế kỷ mới, liệu tôi có muốn đón chào nó với màn phổi tắc nghẽn do thuốc lá không? Không. Liệu tôi có muốn mất đi cơ hội nhìn thấy thêm một vài năm nữa của thiên niên kỷ mới bằng việc tiêu thụ lượng hóa chất công nghiệp gây ung thư mỗi ngày không? Không. Và mặc dù tôi đã cố gắng trước đó rất nhiều lần, sự tiệm cận năm 2000 đánh dấu thành công của tôi. Sau bốn, năm tháng cáu gắt, nhai kẹo cao su cai thuốc như bò nhai cỏ, cuối cùng tôi cũng làm được. Đột nhiên tôi thấy mình có thể sống thiếu thuốc lá và tôi sẽ bước đi trong thiên niên kỷ mới mà không hút thuốc nữa. Và tôi đã làm vậy.
Chúng tôi đón thiên niên kỷ mới trên Đảo Man.
“Em thật sự muốn sống ở đây” Jen nói. “Đó là điều em muốn làm trong thế kỷ mới.”
“Anh nghĩ anh sẽ sớm lấy được bằng lái máy bay. Chúng ta có thể sống ở đây và cần đi đâu thì bay thôi.” Nơi nào cũng có vẻ dễ chịu hơn nếu bạn đến đó bằng máy bay. Nhưng tôi không thấy phải vội. Tôi chưa 50 tuổi, và Đảo Man là chốn về hưu, không phải sao?
Chris lên kế hoạch theo học bác sĩ thú y vào một hoặc hai năm tới. Anna đang học A-level và khổ sở để chọn giữa bác sĩ thú y và bác sĩ.
“Bố ơi, con nghĩ để con đến thử một buổi khám nghiệm tử thi là ý kiến hay đó.”
Phản ứng tự nhiên: Không.
Anna của tôi còn nhỏ xíu, không hề có kinh nghiệm, con bé với đôi má mịn màng và đôi mắt sáng bừng, không thể để con bé chứng kiến những thực tế xấu xí ở nhà xác được. Dễ hiểu vậy thôi.
“Chris được đi! Và lúc đó anh ấy còn chưa 16!”
“Chris chỉ là được một nhân viên ngốc nghếch dẫn đi ngang phòng khám nghiệm và anh con chẳng thấy vui vẻ gì sau việc đó.”
“Lần này có thể sẽ khác, con đã được chuẩn bị. Bố sẽ hướng dẫn con suốt quá trình đó đúng không?”
Không.
“Rồi khi con nộp đơn vào trường y, thử nghĩ xem trải nghiệm này sẽ giúp ích cho lá thư tự giới thiệu của con thế nào. Con cá chẳng ai cùng nộp đơn đợt đó đã được dự một buổi khám nghiệm tử thi đâu.”
Không.
Thế rồi con bé đến nhà xác cùng tôi vào một ngày đẹp trời. Không phải để quan sát thi thể nạn nhân một vụ giết người hay tự tử mà là một vài thi thể chết đột ngột do nguyên nhân tự nhiên. Khi chúng tôi chồm về phía trước xem xét tử thi, tôi liếc nhìn Anna, hai chân mày con bé cau lại tập trung cao độ nghe tôi hướng dẫn đây là vùng xuất huyết não, đó là động mạch vành bị nghẽn toàn bộ, lá gan bị xơ thì giống hệt con cá thu đốm.
“Nếu con muốn học y, không nhất thiết phải theo bệnh lý học đâu.” Tôi nhắc lại với con bé trên đường về nhà. “Thử trao đổi với mẹ con về da liễu xem.”
Con bé nói: “Con làm rồi. Con chỉ thắc mắc con có thích hợp với vai trò nhà bệnh học hay không thôi.”
Thật kỳ lạ khi nghĩ đến việc thế hệ tiếp theo của nhà Shepherd sẽ lớn lên và nhập vào guồng quay công việc ngoài kia, vì như thế nghĩa là thế hệ trước đã già.
Tôi càng thấm thía điều này khi đến dự đám tang Iain West vào một ngày hè năm 2001. Ông ấy qua đời khi chỉ mới 57 tuổi vì căn bệnh ung thư phổi, chuyện này thì tôi không nghi ngờ gì vì thói quen hút thuốc của ông ấy, điều tôi cũng mới bỏ gần đây.
Chúng tôi đã nghe tin ông ấy rất yếu vào vài tháng trước, nhưng khi nghe tin dữ, tôi vẫn khó dám tin đó là sự thật. Tôi vừa gặp ông ấy không lâu ở tòa điều tra Westminster. Ông ấy đến đó để làm chứng, không gì trên đời có thể cản bước người lính đó. Chắc ông ấy đã biết đó sẽ là lần cuối cùng mình lên tòa, tuyên thệ và biến cả phiên tòa thành khán giả của mình. Trong văn phòng dưới lầu, tôi nhìn ông ấy và nhận ra ông đã già yếu đi nhiều. Ông ấy leo khó nhọc lên các bậc thang để đi vào căn phòng xử án ốp gỗ sồi – nhưng không một ai dám đưa tay ra đỡ. Rồi khi ông ấy đứng dậy làm chứng và tuyên thệ, một sự lột xác. Iain West năm nào vẫn còn đó, vẫn quyền uy, vẫn lừng lững.
Giờ khi ông ấy đã vĩnh viễn ra đi, tôi mới thấm thía rằng ông ấy, ngoài là người thầy, người cố vấn của tôi, người chống lại tôi như cừu địch cũng là một người bạn. Những buổi họp dài ở văn phòng hay trong quán bia cùng ông ấy, những cử chỉ tốt bụng bất ngờ, sự gần gũi được cảm nhận nhưng không được công nhận giữa những đồng nghiệp làm cùng nhau bao nhiêu năm, một tình bạn nơi công sở. Giờ thì tình bạn này không còn nữa, tôi lại chẳng nỗ lực để gặp ông ấy, vui vẻ bầu bạn với ông ấy lúc cuối đời khi ông ấy không còn lựa chọn nào khác ngoài gần như về hưu.
Rồi như thể mọi thứ chưa đủ buồn, thêm một tin dữ đến với chúng tôi, cùng ngày hôm đó, bố của Jen, Austin đáng mến đã qua đời tại Đảo Man, bỏ lại một gia đình chìm trong đau buồn.
Không chỉ một lời nhắc nhở về sự hữu hạn của đời người mà là hai. Bạn có thể nghĩ khi hành nghề pháp y, các bác sĩ luôn trừng trộ nhìn vào cái chết, do đó không cần ai nhắc nhở về cái chết nữa. Chúng tôi vẫn cần. Chúng tôi cần lời nhắc nhở từ sự ra đi của những người gần gũi mình nhất để làm những việc mình muốn làm trong đời. Với Jen và tôi, được sống ở Đảo Man là một trong những điều đó. Giờ chúng tôi tự nhủ có nên làm điều đó trước khi quá muộn không. Chúng tôi cũng nghĩ mẹ của Jen, giờ là bà góa Maggie thấy cần chúng tôi. Đó là lúc chúng tôi nhận ra nếu muốn sống ở Đảo Man, đó không phải là việc chúng tôi có thể trì hoãn mãi.
2001 cũng là năm chúng tôi nhận được báo cáo tổng luận vụ chìm thuyền Marchioness. Pháp quan (*) Clarke đã chủ trì cả cuộc thẩm tra chính thức của vụ án và phiên thẩm tra không mang tính pháp định (thường có tính linh hoạt hơn). Sau cuộc thẩm tra chính thức, vẫn còn rất nhiều kiến nghị để cải tổ hệ thống an toàn đường thủy trên sông Thames. Tại phiên thẩm tra không mang tính pháp định, Pháp quan Clarke đã công nhận những thân nhân trong vụ Marchioness là nạn nhân của các sai phạm do cả yếu tố con người và hệ thống gây ra. Báo cáo của ông công nhận sự lúng túng trong quy trình quản lý và nhận dạng: ghi nhận sự vắng mặt khi những nhân vật chủ chốt của các bộ phận đã đi nghỉ mát, rất nhiều cấp bậc cảnh sát đã không có mặt, sự phối hợp giữa cảnh sát, chuyên viên điều tra, chuyên viên sinh trắc và nhân viên nhà xác cũng không tốt.
Đối với tôi, lần thẩm tra này khép lại một chương của cuộc đời. Các bác sĩ pháp y cuối cùng đã được xá khỏi những lỗi lầm từng xảy ra. Mười một năm sau thảm họa, cuối cùng tôi cũng được giải thoát khỏi những cơn thịnh nộ do vấn đề nhận dạng, đặc biệt là tai nạn những bàn tay thất lạc. Các cuộc điện thoại và thái độ khinh khi của báo giới ngày trước quấy nhiễu cuộc sống của tôi một thời gian dài giờ biến mất chỉ sau một đêm.
Bản báo cáo của phiên thẩm vấn không mang tính pháp định đã đề xuất cách thức đối đãi với người thân nạn nhân và nhận diện nạn nhân. Đã nhiều năm từ khi tôi bắt đầu có suy nghĩ nghiêm túc về chuyện này. Thập niên 90 tôi đã tự vấn làm thế nào để chúng tôi - các chuyên gia pháp y và biệt đội ứng cứu – có thể gồng gánh nếu chẳng may London xảy ra thảm họa. Bởi vì thảm họa đang thay hình đổi tướng.
Cho đến năm 2001, hệ thống vận tải và các thành phố của chúng tôi đã an toàn hơn trước rất nhiều. Mối đe dọa lớn nhất giờ là khủng bố. Các đợt đánh bom của IRA trong suốt những thập niên 70 và 80, lan sang thập niên 90 vẫn nằm trong tâm trí chúng tôi. Các thành phố đã phải hứng chịu thiệt hại. Năm 1993, một quả bom phát nổ tại Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York làm chết sáu người, bị thương hơn 100 người khác. Năm 1995, những người cuồng tín đã xịt khí ga tàu điện ngầm ở Tokyo bằng chất độc Sarin.
Chuyên viên điều tra hiện trường khu vực Tây London, Alison Thompson đã chia sẻ những nỗi lo lắng với tôi khi lên (hoặc chính xác hơn là thiếu) kế hoạch cho London trong việc đối phó thảm họa cả tự nhiên và do con người. Phạm vi quyền hạn của cô ấy bao gồm cả Nhà xác Fulham, nơi các chuyên gia pháp y của Bệnh viện St George’s làm việc, nhưng quan trọng hơn bao gồm cả khu Sân bay Heathrow. Trong trường hợp xảy ra thảm họa, quy định bất thành văn là những thi thể sẽ được chuyển tới một kho đặc biệt ở sân bay. Chúng tôi quyết định đến đó xem xét và thấy một nơi giống ga-ra hơn, chất đầy đồ cào tuyết và các dụng cụ lặt vặt.
Tìm một nơi kém phù hợp hơn nơi này có vẻ còn khó hơn. Ngoài việc nơi này dơ bẩn, nhớp nháp, toàn những phần máy nặng nề, tiếp cận khó khăn và chỉ có duy nhất một bồn rửa tay. Chúng tôi kiến nghị với phía cảnh sát, dịch vụ cứu hộ, chính quyền địa phương và các tổ chức thiện nguyện nên có một đợt rà soát tổng thể lại kế hoạch cứu hộ khẩn cấp cho toàn bộ London. Kết quả, không chỉ có mỗi chúng tôi lo lắng về chuyện này.
Chúng tôi hiểu cách định nghĩa tình trạng khẩn cấp. Bác sĩ David Paul, chuyên viên điều tra đã về hưu có cách định nghĩa rất giản dị: “Tôi hiểu tình trạng khẩn cấp là khi xuất hiện thừa một thi thể so với công suất cáng đáng của nhà xác.”
Nhóm chúng tôi thường xuyên họp tại Trạm Cảnh sát Heathrow, điều đầu tiên chúng tôi bàn đến là dự đoán các trường hợp khẩn cấp có thể xảy ra. Chúng tôi thường ngồi uống cà phê với nhau, thảo luận cách đối phó với một đại dịch cúm. Hoặc một vụ rơi máy bay trong thành phố. Hoặc một cuộc khủng bố. Nhưng chúng tôi cũng hiểu dù cố sức tưởng tượng đến những viễn cảnh điên rồ nào, thực tế luôn khác đi, những gì chúng tôi cần làm là lập kế hoạch từ cụ thể đến khái quát.
Chúng tôi không sai. Chris gọi điện cho tôi khi vừa ra khỏi cửa, túi hành lý đã sẵn sàng để ra Bắc học khoa học thú y.
“Anna và con vừa xem trên TV...”
“Bọn con thấy gì?”
“Bố, bố không phải đi ứng phó khẩn cấp ở nước ngoài à?”
Hôm đó là 11 tháng 9 năm 2001.
Tôi mở TV, trố mắt nhìn những thước phim quay chuyến bay số hiệu 11 của American Airlines đâm vào tháp Bắc Trung tâm Thương mại Thế giới. Tôi thoáng nghĩ đến thảm họa khủng khiếp nhóm chúng tôi vẫn thường thảo luận. Nhưng khi chuyến bay United Airlines số hiệu 175 đâm tiếp vào tháp Nam không lâu sau đó, tôi nhận ra dù chúng tôi đã từng nói về cả những hành động khủng bố ghê rợn nhất lẫn thảm họa rơi máy bay, chưa bao giờ chúng tôi dám nghĩ đến hai thứ ấy kết hợp với nhau tạo nên con quái vật có sức hủy diệt ghê gớm như thế.
Không ai dám tin vào sự thật, trước mắt cả thế giới, tháp đôi đã sập. Đầu tiên là tháp Bắc, sau đó là tháp Nam. Chúng tôi lờ mờ nhận ra những kẻ khủng bố đã nâng thảm họa lên một tầm khiếp đảm, khiếp đảm hơn những gì chúng tôi có thể nghĩ tới.
Tôi kinh hoàng, như bị thôi miên cùng toàn nhân loại trước tội ác khủng khiếp này. Tôi không nghĩ mình sẽ được gọi. Tôi nghĩ các đồng nghiệp của tôi ở Hoa Kỳ sẽ lo việc cứu hộ người bị thương và nhận dạng người chết: Người Anh chúng tôi hỗ trợ được gì? Nhưng Alison Thompson sớm nhận được cuộc gọi.
Với tư cách chuyên viên điều tra vùng Tây London, Alison sẽ tiếp nhận các thi thể nạn nhân Anh tại Sân bay Heathrow và xác minh nguyên nhân tử vong. Bất cứ công dân Anh nào thiệt mạng ở nước ngoài đều được quyền có một buổi thẩm tra theo luật định. Điều này có hiệu lực từ năm 1982, sau khi bố của một nữ y tá trẻ người Anh qua đời trong một hoàn cảnh khá nhếch nhác ở Ả Rập Saudi từ chối chấp nhận nguyên nhân tử vong của con mình. Các thay đổi đã được đồng thuận vài thập kỷ sau đó.
Alison cũng nhớ rõ sự kiện một chiếc máy bay dân sự bị rơi trong vụ tấn công khủng bố bằng bom trên bầu trời Lockerbie ở Scotland hơn mười năm trước, một loạt sai phạm đã xảy ra ở khâu quản lý, ít nhất là trong khâu nhận diện một vài thi thể nạn nhân. Nhưng “một vài” sai phạm trong hoàn cảnh hết sức nguy cấp này đồng nghĩa hệ quả nghiêm trọng với gia đình các nạn nhân.
Những lo lắng của Alison khi tiếp quản các thương vong của công dân Anh đã được giải quyết bằng cách thành lập nhóm đặc vụ tại Scotland Yard (*) , gồm cảnh sát, các thành viên đội ứng biến nhanh thảm họa hiện có của chúng tôi và rất nhiều quan chức cấp cao khác.
Các câu hỏi được đặt ra: Chúng tôi có thể hỗ trợ gì các đồng nghiệp ở New York? Làm thế nào chúng tôi đưa được thi thể các nạn nhân hồi hương? Chúng tôi có nên khám nghiệm tử thi khi họ được đưa về Anh không? Các gia đình nạn nhân có đồng ý cho chúng tôi can thiệp tiếp vào thi thể người thân của họ không? Hay chúng tôi nên để tất cả những việc đó cho Văn phòng Giám định Y khoa chính (OCME) (*) của New York? Nếu chúng tôi gửi trả các thi thể về cho chuyên viên điều tra của từng địa phương, mỗi chuyên viên điều tra lúc ấy lại có những nhận định riêng sau từng cuộc thẩm tra? Chúng tôi tưởng tượng ra những buổi thẩm tra kéo dài hàng tháng, thậm chí hàng năm, rất có thể sẽ có nhiều phiên bản khác nhau của các nhận định cuối, từ tử vong do tai nạn đến giết người và giết người bất hợp pháp.
Chúng tôi đồng thuận nên đánh giá những việc OCME New York đã và đang làm trước khi có bước đi chính thức tiếp theo từ Anh và đưa ra những lời đề nghị giúp đỡ thích hợp.
Chúng tôi báo cáo trực tiếp với Thủ tướng Tony Blair tại Nhóm Điều phối thảm họa trung tâm của Văn phòng Nội các, COBR A. Họ đã quyết định sẽ cần những ý kiến trực tiếp, vì thế vào ngày 20 tháng 9, đúng sinh nhật lần thứ 49, tôi được cử đi New York xem xét cách ứng cứu thảm họa của OCME. Tôi gọi điện cho đồng nghiệp Yvonne Milewski ở OCME, thu xếp gặp bà ấy khi tới nơi. Giọng bà ấy có vẻ mệt mỏi và kiệt quệ cảm xúc nhưng vẫn nồng hậu.
Tôi đáp xuống Sân bay New York trong vẻ tĩnh mịch khác thường, nơi đây vốn chẳng bao giờ tĩnh lặng dù giữa đêm. Thành phố vẫn còn ngơ ngác sau nỗi kinh hoàng. Chín ngày sau khi tháp đôi sụp đổ, bụi bặm và mùi vẫn còn lơ lửng trong không trung. Dù các con đường và hầm vượt đều bị chặn, khi luồng phương tiện bắt đầu bị chậm lại, không ai bóp còi. Tôi nói với tài xế taxi nơi tôi ở, anh ta cho tôi biết có ít nhất bốn khách sạn cùng tên này. Chúng tôi cùng đi qua từng con đường im như tờ để kiểm tra các địa chỉ. Cuối cùng, chúng tôi biết mình đã đến đúng nơi khi thấy sảnh chờ đầy cảnh sát Anh, tôi nhận ra một vài người trong số họ. Họ chào mừng tôi nồng nhiệt, hỏi tôi có muốn uống chút gì không. Tôi từ chối. Tôi đã sắp xếp để gặp Yvonne ở Nhà xác OCME và chuẩn bị lên taxi đến thẳng đó.
Tôi đến đó vào 2 giờ 30 phút sáng, trước mắt tôi là cảnh tượng không thể nào quên. Tòa nhà kiểu hộp diêm xây từ thập niên 60, nhưng bản thân nó không phải điểm quan trọng. Những con đường lân cận và bãi đỗ xe đã được chia khu canh gác toàn bộ vì đây là khu vực tiếp nhận xác 24/7. Bước qua cổng an ninh, tôi tiến vào khu nghỉ ngơi dã chiến sáng choang, đầy những hàng cà phê, nhân viên cứu hộ tranh thủ ăn uống lấy sức. Tiếp phía trên là những xe rơ-mooc lạnh, ít nhất 30 chiếc, xếp thẳng hàng ở các khu đỗ xe với rất nhiều hoa đặt chỗ cửa ra vào, quốc kỳ Hoa Kỳ đứng nhìn buồn bã.
Tôi khịt mũi. Cái mùi đó. Không khó để nhận ra có gì trong các xe rơ-mooc: bộ phận cơ thể người.
Bất kể giờ giấc, vẫn có những chiếc xe tang đến, lùi vào bến với túi chứa xác người trên xe. Biệt đội tìm kiếm làm việc không nghỉ tại Ground Zero, các chuyên viên pháp y cũng vậy: Yvonne đã tình nguyện làm ca đêm. Và cả ca ngày. Bà ấy chỉ tranh thủ ngủ lúc nào hay lúc ấy.
Cần rất kiên cường để chống chọi lại với những hoàn cảnh vừa kỳ lạ vừa nhiễu loạn này. Rất nhiều người nhận ra mình không kiên cường như họ nghĩ, sang chấn tinh thần đối với chuyên viên cứu hộ và nhân viên nhà xác cực kỳ khủng khiếp. Vài người trụ vững. Vài người được đưa về nhà, trông như vừa trải qua cú sốc đạn trái phá.
Kiểu chia ca này đồng nghĩa sẽ không có bất cứ trì hoãn nào trong quá trình kiểm tra chính thức và nhận dạng. Có vài túi xác chứa thi thể những cảnh sát hay nhân viên cứu hoả đã xả thân mình trong chiến địa này. Đối với những con người ưu tú đó, một đội mặc đồng phục tiếp đón họ bằng nghi thức trang nghiêm trước khi đưa họ vào OCME.
Những túi xác thường chứa thi thể nguyên vẹn, hoặc gần như nguyên vẹn. Các bộ phận cơ thể nhỏ hơn được chuyển đến trong những hộp nhỏ hơn. Quy tắc cơ bản của chuyên viên cứu hộ là nếu tìm được những bộ phận cơ thể, ví dụ ngón tay, bất kể nó có thể thuộc về cơ thể nào, nó vẫn phải được phân loại riêng và đánh số riêng. Bản chất của thảm họa này, ảnh hưởng khủng khiếp của nó đồng nghĩa với việc những thi thể thường bị nghiền nát đến mức không thể gắn lắp các bộ phận cơ thể vào nhau bằng mắt thường, vị trí hay quần áo. Hầu hết công việc nhận dạng phải dựa vào kỹ thuật DNA. Sau đó, có thể rất lâu sau đó, dựa vào kỹ thuật này, chân, tay, các bộ phận cơ thể, các phần vụn mới dần hình thành được một nhân dạng, hoặc những thứ còn sót lại của nhân dạng. Trong thảm họa quy mô lớn, quá trình nhận dạng là sự kết hợp giữa việc quản lý và thao tác khoa học. Chỉ có điều trong thảm họa này, mỗi nhiệm vụ đều trở nên lớn hơn, tệ hơn và khó khăn hơn bất cứ chuyện gì từng xảy ra.
Các thi thể mới chuyển đến được đưa vào phòng tiếp nhận đầu tiên để khám nghiệm sơ bộ. Sau đó họ được chuyển thẳng đến dãy buồng khám nghiệm chính. Mỗi buồng có một đội cảnh sát, các chuyên gia pháp y, các nhiếp ảnh gia, bác sĩ X-quang và trợ lý. Quy trình khám nghiệm tử thi diễn ra như thông thường, trên toàn bộ hay một bộ phận cơ thể. Các chi tiết bao quát nhất được ghi lại, những kết quả đó được kết nối với các mẩu quần áo, vật dụng cá nhân (trang sức, thẻ tín dụng...) và bất cứ đặc điểm nào khác cùng những thông tin về vị trí tìm được nạn nhân. Tất cả đều được đánh số cẩn thận, thi thể hoặc phần thi thể được chuyển đến một vị trí riêng trên một kệ đánh số riêng trong một rơ-mooc đánh số cẩn thận.
Các thi thể được đối xử bằng sự tôn trọng tuyệt đối, các rơ-mooc đều sạch sẽ và có thứ tự. Các ngôi sao và các vạch gợi nhớ đến quốc kỳ của Hoa Kỳ còn hoa tượng trưng cho con người. Hệ thống rơ-mooc giải quyết vấn đề chính hậu thảm họa: không kéo dài quy trình khám nghiệm bằng cách bảo quản xác và chờ đến khi được nhận dạng. Sau đó, thi thể được trả về với gia đình. Mọi việc diễn ra trước mắt tôi là minh chứng rõ ràng cho hoạt động rất hiệu quả của người Mỹ, hệ thống và đầy sự tôn trọng.
Tôi cố hết sức để không cản trở guồng công việc, tất cả mọi người đều đang làm việc hết công suất tại hiện trường. Vẫn là tác phong đó khi tôi quay trở lại hiện trường để gặp Chánh văn phòng Giám định Y khoa, Charles Hirsch. Ông ấy khoảng 60 tuổi, nhỏ thó, mảnh khảnh và mang trên vai trọng trách to lớn: phụ trách toàn bộ quá trình vận hành khổng lồ này với nhiều mũi khâu trên trán và vài xương sườn bị nứt. Ông ấy là một trong những người đến ứng cứu Trung tâm Thương mại Thế giới sớm nhất, ngay trước khi tòa đầu tiên đổ sập. Bằng cách thần kỳ nào đó ông ấy đã thoát nạn, chỉ bị vết thương nhỏ khi đồng nghiệp đứng ngay bên cạnh bị đống đổ nát ập xuống người và giờ đang nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt.
Các rơ-mooc nhanh chóng bị lấp đầy. Cuối cùng cũng có kết luận, có 2753 nạn nhân với khoảng 70000 bộ phận cơ thể được tìm thấy. Rất nhiều thi thể đã bị nghiền thành tro bụi sau đợt nổ đầu tiên hoặc khi hai tòa tháp sụp đổ. Sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu chôn tất cả trong mộ tập thể, nhưng dĩ nhiên gia đình các nạn nhân không thể chịu được ý nghĩ người thân của mình bị chôn cùng những tên khủng bố.
Không lâu sau đó, các đống đổ nát của Trung tâm Thương mại Thế giới được chuyển sang một khu chứa rác thải ở Đảo Staten tại Vịnh Hudson, trùng hợp sao lại được gọi là “Fresh Kills”. Các đống đổ nát được gạn lọc không chỉ một mà hai lần, do một nhóm tinh nhuệ cảnh sát, FBI, các nhà nhân chủng học và bác sĩ dẫn đầu. Sau đó cuộc hành trình dài đằng đẳng xét nghiệm DNA của gần 3000 con người bắt đầu. Không bỏ qua một mảnh vụn cơ thể nào để nhận diện.
Chương trình này thực tế đã kéo dài rất nhiều năm, các nỗ lực nhận diện vẫn còn diễn ra tới năm 2013. Cuối cùng, năm 2015, 1637 nạn nhân được nhận diện, con số đó chỉ tương đương 60% tổng số người bị coi là đã thiệt mạng trong thảm họa, những người còn lại đã thành tro bụi. Giờ đã có những bản kế hoạch để biến “Fresh Kills” thành một trong những công viên đô thị lớn nhất thế giới.
Cũng như nhiều người khác, một nhà nhân chủng học, một người bạn của tôi đã bị chấn thương tâm lý sau khi thực hiện quá trình gạn lọc các đống đổ nát. Sau hàng tháng trời lọc rây xương thịt con người, cô ấy khiếp đảm việc phải đi máy bay. Khi quay về Anh, trước chuyến bay cô ấy viết tên mình lên mọi bộ phận cơ thể, hai chân hai tay, phòng trường hợp máy bay rơi và cô ấy phải chịu cảnh thịt nát xương tan. Mất rất nhiều năm cô ấy mới có thể trở lại làm việc.
Khi chuyến viếng thăm của tôi gần chấm dứt, tôi được dẫn tới một tòa nhà không có gì nổi bật ở khu Manhattan, nơi đặt Lãnh sự Anh tại New York. Nhóm ngoại giao đang chờ tôi ở đó. Thời điểm đó chúng tôi đã biết có rất nhiều công dân Anh chết nhưng chưa biết chính xác con số là bao nhiêu.
“Vậy giờ”, một chức sắc yêu cầu: “... chúng ta sẽ chuyển họ về nhà bằng cách nào?”
Tôi tự hỏi không hiểu họ hình dung quy trình hồi hương xác chết như thế nào. Sau đó một người trong số họ, một chính trị gia đề cập đến cách đưa tang một hàng quan tài từ sân bay về London, mỗi quan tài đều phủ quốc kỳ Anh.
Tôi lắc đầu. Tôi đã thức trắng gần hai ngày, tôi sốc và mệt. Thoạt nhìn, hàng quốc kỳ này giống một hành động kịch tính nhuốm màu sắc chính trị và là cơ hội cho cánh săn ảnh của chính phủ. Tôi cảm thấy thứ gì đó khủng khiếp dâng lên trong lòng, thứ gì đó mà nếu tôi cho phép sẽ có nguy cơ biến thành cơn thịnh nộ. Tôi chưa bao giờ giận dữ chứ đừng nói đến thịnh nộ. Nhưng giờ đây một thứ gì đó đang thoát ra khỏi vỏ bọc.
“Quan tài? Ngài vừa nói đến quan tài phải không? Hầu hết họ đã bị nghiền thành bột rồi, ngài không hiểu sao? Thay vì quan tài, ngài cũng có thể gửi họ về nước trong những hộp diêm!”
Tất cả nhìn tôi trừng trừng. Hầu như không ai nói gì thêm. Họ cảm ơn và cho tôi đi.
Bản báo cáo của tôi khen ngợi nỗ lực ứng cứu của người Mỹ và đề nghị chúng tôi có thể dùng tài liệu của họ thay vì tự soạn thêm. Kết quả, con số tử vong là 67 công dân Anh, được duy nhất một tòa án điều tra ở Anh tiếp quản bởi một chuyên viên điều tra chuyên nghiệp và đầy lòng trắc ẩn thụ lý. Chỉ một cảnh sát Mỹ bay sang Anh làm nhân chứng, cũng chỉ có một nhận định duy nhất: giết người phi pháp.
Bốn năm sau, London cũng trở thành nạn nhân của cuộc tấn công Hồi giáo. Ngày 7 tháng 7 năm 2005, 52 người thiệt mạng và hơn 700 người bị thương khi bốn quả bom khủng bố nổ tung, ba trong số đó nổ tại hệ thống tàu điện ngầm London và một trên xe buýt. Chính xác chỉ vài ngày trước thảm họa, với sự phối hợp của nhiều bên, một bản kế hoạch phản ứng nhanh trong thảm họa do chuyên viên điều tra Alison Thompson và tôi thảo luận từ thập niên 90 được ký thông qua.
Tôi không có mặt ở London vào thời điểm thảm họa xảy ra, nhưng đã lập tức bay về hỗ trợ ở một nhà xác dã chiến được dựng lên nhanh chóng và đầy đủ trong chưa tới 48 tiếng ở khuôn viên Đại đội Pháo binh Danh dự ở London. Tất cả thi thể được chuyển đến đây và cơ sở vật chất, nói đúng hơn là toàn bộ kế hoạch chúng tôi đề ra đã chứng minh đều hoạt động được. Tôi thực hiện công việc trong niềm đau đớn vô hạn. Sâu thẳm bên trong, với một suy nghĩ phi lý nào đó, tôi đã hy vọng nhờ đề đạt kế hoạch ứng phó, chúng tôi sẽ không bao giờ phải đối diện với thảm họa thật sự. Hão huyền làm sao.
Chuyên viên điều tra thảm họa này có lẽ đã có sự nuối tiếc. Các thân nhân trong vụ Marchioness đã phê phán chúng tôi kịch liệt khi tiến hành khám nghiệm tử thi toàn diện với lý do nguyên nhân tử vong quá rõ ràng. Kết quả, trong vụ khủng bố năm 2005, chúng tôi được lệnh không khám nghiệm tử thi toàn diện. Nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là nhận diện. Nếu rạch mở thi thể, chúng tôi chỉ việc nhìn thận và ruột thừa, nếu chúng đã bị lấy đi, có thể điều đó sẽ hỗ trợ cho quá trình nhận diện.
Sau cùng, dịch vụ cứu thương lại bị chỉ trích đã hành động quá lề mề khi cứu những người bị thương. Các chuyên viên không di chuyển đến những nơi có thể gây hiểm nguy cho họ và những nơi có thể vẫn còn có bom. Họ được lệnh chờ trước khi tiến vào những nơi đã phát nổ. Họ bị cáo buộc chính những trì hoãn này đã gây thêm nhiều cái chết. Thậm chí nhiều luật sư của các gia đình nạn nhân muốn đòi bồi thường từ dịch vụ cứu hộ. Chính vì không có các thông tin khám nghiệm tử thi toàn diện, chúng tôi gặp khó khăn trong việc đưa ra những bằng chứng để giải quyết khiếu nại.
Tôi đã học được nhiều từ vụ này. Nhiều năm sau, tôi là bác sĩ pháp y chịu trách nhiệm chính trong vụ tài xế taxi Derrick Bird cuồng sát ở Cumbria. Tôi nhớ về vụ Michael Ryan ở Hungerford năm nào. Nhiều người gây áp lực cho tôi không thực hiện khám nghiệm pháp y toàn diện vì nguyên nhân tử vong đã rõ rành rành. Nhưng nhớ về vụ 7/7, tôi bất chấp những lời yêu cầu đó. Mỗi nạn nhân đều được scan MRI để thấy rõ vị trí từng viên đạn, sau đó thi thể được khám nghiệm toàn diện. Cuối cùng, không có bất cứ lời chỉ trích nào về cách ứng phó của dịch vụ cứu hộ.