Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2227 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 31

Một lần nữa tôi phải đối diện với những việc Osama Bin Laden đã làm, một năm sau sự kiện 11 tháng 9, lần này ở Bali. Các phần tử Hồi giáo cực đoan liên quan đến Bin Laden đã đặt hai quả bom tại những khu vực đông khách du lịch trên hòn đảo nhiệt đới xinh đẹp này. Hơn 200 người thiệt mạng, đa số là khách du lịch phương Tây, phần lớn dưới 30 tuổi.

Một lần nữa, vài giờ sau cuộc điện báo, tôi thấy mình yên vị trên máy bay. Tôi ngồi cạnh vài người đàn ông lực lưỡng. Tôi đoán họ thuộc lực lượng đặc biệt. Chúng tôi không ai nói với ai câu nào suốt đường đi dù tôi đoán chúng tôi đều đi về cùng một hướng với cùng lý do. Có lẽ họ nghĩ tôi là nhà báo hoặc khách du lịch. Tuy nhiên khi đến Sân bay Denpasar và không ai ra đón tôi, họ đã để ý, chủ động quay sang bắt chuyện với tôi lần đầu tiên.

“Muốn đi nhờ không bác sĩ?”

“Các anh biết tôi là ai à?”

“Nhìn anh chúng tôi đoán anh là bác sĩ pháp y.”

“Vì sao?”

“Ờm... nhìn qua thì thấy anh không cười khi xem phim.”

Vậy ra đó là ấn tượng về bác sĩ pháp y. Trông đáng thương, ám ảnh với cái chết, những tên đồ tể mang gương mặt khắc khổ. Dù sao tôi cũng rất biết ơn vì họ đã cho tôi đi nhờ xe. Người đầu tiên tôi gặp ở khách sạn là Alison Thompson, cô ấy đã sống một thời gian ở Hong Kong và bay thẳng đến đây vì biết trước các thương vong của công dân Anh sẽ thuộc quyền hành của cô tại Sân bay Heathrow ngay sau khi thi thể họ được hồi hương. Chúng tôi chào hỏi nhau rất ân cần và mặc dù chỉ mới tờ mờ sáng, chúng tôi quyết định lên đường đến ngay bệnh viện nơi các thi thể đang được lưu giữ.

Trước khi rời London, tôi đã được lệnh chỉ quan sát mọi thứ từ quan điểm nước Anh. Mặc dù vậy, khi tôi bước vào nhà xác, các chuyên gia pháp y khác (đa phần là người Úc, có cả người Hà Lan và Đức) liền nhận ra tôi nhờ những buổi họp quốc tế chúng tôi cùng tham dự và lập tức đưa tôi quần áo, tạp dề, găng tay cao su và dao mổ. Rồi nói: “Của anh đó, Dick.”

Các nhân viên Đại sứ quán Anh đã hoàn thành phần việc khó khăn nhất một cách tuyệt vời nhất, họ đã định vị được tất cả thi thể của công dân Anh. Không những vậy, họ còn tìm được nhiên liệu để chạy máy phát điện cho vài cái tủ lạnh của toàn khu – nếu không muốn nói là của cả nước. Kỳ thực, trong thảm họa, giới pháp y chúng tôi chỉ là một phần của băng chuyền khám nghiệm tử thi, nhận bất cứ thi thể nào được chuyển tới, bất kể quốc tịch gì.

Vấn đề của chúng tôi lúc đó là thiếu thốn các vật dụng giữ lạnh trong khí hậu nóng sôi người. Tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng hay mùi thi thể bốc lên từ những xác chết đặt nằm trong bóng râm, phủ lên những túi đá viên mua ở siêu thị. Tôi đã rất mong mỏi có xe tải lạnh để chuyển hết thi thể vào. Những xác người biến đổi rất nhanh, theo chiều hướng xấu đi. Rất nhiều trong số đó không còn nguyên vẹn và quá trình nhận diện, như thường lệ trở thành bài thách đố kiêm ghép hình, càng rối ren thêm bởi những nhóm cứu hộ không được huấn luyện đã bỏ hết những gì tìm được ở cùng vị trí vào một túi xác. Quả là nhẹ nhõm khi tìm thấy một bàn tay đơn lẻ có đeo nhẫn cưới khắc tên ở mặt trong. Tuy là vật bé nhỏ nhưng đầy thương tâm, nhắc nhở chúng tôi về một sự kiện lớn hơn và những câu đố thương tâm hơn rất nhiều.

Đa số các nạn nhân bị cuốn hút đến hòn đảo xa hoa này là những thanh niên trẻ trung xinh đẹp. Họ đang tận hưởng kỳ nghỉ của mình ở những quán bar hoặc hộp đêm thì hai quả bom lần lượt phát nổ. Hai quả bom được các phần tử Hồi giáo cực đoan nhận viện trợ từ al-Qaeda cài đặt.

Con số được xác nhận là 28 người Anh chết, hơn 200 người bị thương và 202 người đến từ các nước khác cũng thiệt mạng. Quả là khoảng thời gian khó khăn, kiệt sức và ám ảnh. Sau đó tôi đã viếng thăm các đài tưởng niệm nạn nhân đặt tại Perth, Tây Úc nhưng tôi nghĩ mình không cần đài tưởng niệm nào để nhớ đến mùi tử khí từ những thi thể đang phân hủy, đá lạnh, một vòi nước duy nhất trong nhà xác và cảm giác bất lực trước hoạt động khủng bố bao trùm. Tôi còn không dám chắc những cảm giác này đã rời khỏi mình chưa.

Ở quê nhà, công việc của tôi bị đặt trong vòng bất ổn. Thế giới khoa học pháp y đang thay đổi, phải đối diện với những điều không chắc chắn mà thời của Simpson vĩ đại chẳng bao giờ phải đương đầu. Khoa Y của trường đại học luôn trả thù lao để chúng tôi đến thỉnh giảng nhưng họ – hết trường này đến trường khác – đã quyết định họ sẽ không tiếp tục rót vốn hay dạy khoa học pháp y nữa. Lý do chính họ đưa ra là do thiếu các nghiên cứu khoa học pháp y và sự xuất hiện của những nghiên cứu trên tạp chí khoa học danh tiếng. Tuy nhiên, chúng tôi quá bận với các cuộc khám nghiệm pháp y thực tiễn, những lần hầu tòa hoặc họp với chuyên viên điều tra hơn là theo đuổi những tiêu chuẩn một trường “đại học tốt” mới mẻ này. Thời của đánh giá học thuật qua những nghiên cứu đã tới. Giới bác sĩ pháp y chúng tôi bị xem là còn thiếu sót.

Dần dần các trường y với truyền thống pháp y lâu đời bị đóng cửa, không lâu sau cái chết của Iain West, “vương quốc” của ông ấy tại Bệnh viện Guy’s biến mất. Bệnh viện St Georges cầm cự được ít lâu, nhưng khoa mới của chúng tôi đã nhận được chữ ký đóng cửa.

Chúng tôi bị tư nhân hóa. Từ giờ trở đi, thay vì cung cấp các dịch vụ pháp y miễn phí và nhận lương từ trường đại học, chúng tôi sẽ tính phí dịch vụ trực tiếp với cảnh sát, chuyên viên điều tra hoặc luật sư bào chữa.

Tôi hiểu không có lương sẽ khó tiếp tục các công việc cần thiết nhưng không được trả thù lao, chẳng hạn công tác xã hội như các khóa đào tạo của tôi với chính quyền địa phương về phương pháp khống chế nghi phạm an toàn. Còn cả đóng góp của tôi trong việc lập kế hoạch đối phó thảm họa. Tất cả những người khác trong nhóm đều được phía cảnh sát hoặc các tổ chức khác trả lương, còn tôi không được sự bảo hộ của một trường đại học phía sau nữa.

Không chỉ thu nhập cố hữu biến mất, các bài giảng và sinh viên cũng chẳng còn, trừ một vài trung tâm chuyên ngành ở ngoại ô London. Trước nay tôi đã quen giảng trong những giảng đường chật ních diễn giả, tôi biết các sinh viên hứng thú với công việc pháp y. Tôi cảm thấy ít nhất những nguyên lý cơ bản của y học pháp y nên là một phần quan trọng trong quá trình thực tập của họ. Mọi bác sĩ, bất kể chuyên khoa nào cũng nên biết cách “đọc” những tình huống bất thường để có thể gọi chuyên gia hoặc cảnh sát. Nhưng có quá nhiều học phần về y khoa “thật sự” cùng lúc giành giật thời gian thực tập ít ỏi, pháp y giờ chỉ có thể được tiếp cận bằng một số khóa học sau đại học tại rất ít trường đại học.

Tôi thành lập một nhóm có tên “Các dịch vụ khám nghiệm pháp y được biết đến rộng rãi là FPS (*) , thông qua đó, các chuyên gia pháp y của London và vùng Đông Nam nước Anh có thể hành nghề tự tin trong thế giới tư nhân hóa đầy mới mẻ này của chúng tôi. Rồi đột nhiên, khi bị chôn vùi trong công việc chuẩn bị và lên kế hoạch cho nó, tôi lại nhận thấy mình không muốn trở thành một phần của nó nữa.

Lòng nặng nề, tôi thả Anna xuống cổng trường đại học vào mùa thu năm ấy, cuối cùng con bé đã quyết định học y. Cả hai đều đi học xa, tận phía Bắc. Dĩ nhiên chúng vẫn cần chúng tôi nhưng không như xưa nữa rồi. Căn nhà của gia đình chúng tôi to lớn và trống vắng quá. Chắc vì vậy mà chúng tôi càng ngày càng dành nhiều thời gian để ở tại Đảo Man? Nơi đó có vẻ gần bọn trẻ hơn London. Có phải vì công việc giảng dạy của tôi tại Bệnh viện St Georges đã rút ngắn, hầu như chẳng còn gì giữ chân chúng tôi lại nơi này nữa? Có phải vì chúng tôi yêu căn nhà nhỏ trên Đảo Man và muốn nâng đỡ tinh thần cho người mẹ góa bụa của Jen? Không phải vì bà cho phép sự góa bụa cản bước bà trong các mối quan hệ xã hội, mà thật ra chúng tôi tự dần dần cảm thấy bị cuốn vào thế giới của bà.

Hoặc có khi nào... công việc ở London bắt đầu vắt kiệt tôi? Vắt kiệt đến mức những buổi chiều thứ Sáu bay lượn trên bầu trời cũng không còn đủ sức làm tôi hồi tỉnh. Mỗi phiên tòa biến thành một vết cào bầm tím, đôi khi tôi cảm thấy mình không đủ kiên cường để chống chọi nữa. Bước chân tôi không còn sức sống thường thấy khi nhận cuộc gọi của cảnh sát đến khám nghiệm một thi thể mới, một vụ án mới. Tôi đã từ bỏ hy vọng phía cảnh sát sẽ gọi điện để hỏi ý kiến của tôi về một vụ nào đó. Nhìn về tương lai, tôi có thể thấy trước các chuyên viên pháp y rồi sẽ được hệ thống hợp đồng thuê, tranh đấu nhau để được khám nghiệm thi thể, thậm chí phá giá dịch vụ của nhau. Bệnh học pháp y trở thành dịch vụ, không còn là thế giới tri thức tôi bước vào, với tầm vóc công việc xứng đáng nhận được những cuộc tranh luận, để nghiên cứu học thuật và tạo ra biến đổi xã hội.

Jen cũng vỡ mộng với công việc của mình. Bất chấp những nỗ lực khó tin để trở thành bác sĩ khá muộn trong đời, khi hành nghề tại phòng khám với tư cách bác sĩ đa khoa, Jen nhận ra cô ấy không thật sự muốn điều đó. Cô ấy luôn muốn chúng tôi chuyển về Đảo Man sống, cô ấy nghĩ cô ấy có thể hành nghề trong lĩnh vực chuyên khoa da liễu của mình tại đây, và cùng lúc được sống ở nơi cô ấy yêu thích.

Còn gì khác có thể đẩy đưa chúng tôi đến đó? Ý thức về sự lão hóa của chính mình chăng? Mong ước được tận hưởng lối sống của Maggie và Austin? Hay một niềm hy vọng khi sống biệt lập cùng nhau trên đảo, chúng tôi sẽ nối lại được những mối dây giao tiếp đã đứt đoạn?

Có lẽ tôi, và cả Jen nữa, đã bị hành hạ bởi cái gọi là khủng hoảng tuổi trung niên, thứ mà chưa chuyên gia pháp y nào có thể định vị được trong cơ thể người, kể cả khi tìm kiếm dưới kính hiển vi. Nhưng khi nhận được yêu cầu biên soạn lần tái bản thứ 12 cuốn Khoa Học Pháp Y của Simpson (ấn bản thứ ba chính là bản đã đưa tôi tới với công việc này), lời mời là một sự hãnh diện lớn lao với tôi. Và một lời bào chữa. Vì thế tôi trở thành “vú em”, nhưng vẫn không là một phần của Các dịch vụ giám định pháp y. Thay vào đó, Jen và tôi rời London để tìm kiếm điều tốt đẹp hơn. Chúng tôi bán căn nhà gọn gàng ngăn nắp ở Surrey và mua một căn nhà nông thôn lộng gió trên một hòn đảo đâu đó ngoài khơi Liverpool. Mọi người, ít nhất là đồng nghiệp và những người cùng thời, đều tin tôi đã mất trí.

Tôi bận rộn và hạnh phúc tân trang lại ngôi nhà nhỏ mới. Chúng tôi đi bộ cùng nhau nhiều dặm liền trên những đồng cỏ hoang, dưới bầu trời cao xanh vời vợi đôi khi trong vắt đến mức có thể nhìn xuyên qua phía bên kia nơi dãy Mourne chìm dần xuống mặt biển. Chúng tôi ngồi bên đống lửa nghe những cơn gió rít mạnh bên ngoài. Hoặc đơn giản nhìn chăm chú những cánh đồng trải dài tới mặt biển, nơi gọi lên những trận cuồng phong từ lòng đại dương. Tôi không chạm đến buổi khám nghiệm tử thi nào.

Tại đây, chúng tôi có một cuộc sống xã hội đúng nghĩa. Chúng tôi từng quá bận rộn nhưng giờ đây chúng tôi có nhiều bạn bè. Chẳng hề gì khi chúng tôi đều trẻ hơn họ rất nhiều, tất cả các mối quan hệ xã hội đều đã được chuẩn bị sẵn nhờ Maggie, mẹ của Jen. Bà đang già đi thì sao? Bà vẫn có mặt trong mọi bữa tiệc, mặc những chiếc váy đậm chất thiết kế cao cấp được nhét căng trong các tủ quần áo trong nhà. Lúc nào bếp cũng đỏ lửa, gin và tonic trên tay và không lúc nào bà thiếu vắng một nhóm bạn đầy lòng ngưỡng mộ bên cạnh mình. Thật tốt khi được ở giữa họ, được là một phần của cộng đồng. Bọn trẻ cũng thường ghé thăm.

Dù không còn khám nghiệm tử thi, tôi vẫn theo đuổi nhiều công việc thú vị khác. Tôi biên soạn sách giáo khoa của mình về bệnh học pháp y. Tôi bay về đất liền tham dự các công việc trong ủy ban của Hội Y khoa Pháp y Anh, họ vẫn đang loay hoay giải quyết các vấn đề liên quan đến việc hợp đồng hoá với Bộ Nội vụ Anh trong bối cảnh tư nhân mới. Tôi được hỏi ý kiến về những ca phức tạp. Tôi bận rộn cộng tác với các nhóm thuộc Bộ, lập kế hoạch và giới thiệu những phương pháp khống chế nghi phạm theo cách an toàn hơn.

Dĩ nhiên tôi vẫn để mắt đến những phát triển trong lĩnh vực của mình. Tôi biết cảnh sát đã mở lại hồ sơ vụ Rachel Nickell, cuối cùng họ đã chấp nhận một kẻ sát nhân khác chứ không phải Colin Stagg đã ra tay với cô ấy. Phải mất đến sáu năm sau rất nhiều phát triển trong công nghệ kiểm tra DNA mới kết án được Robert Napper, cũng chính là kẻ đã gây ra cái chết tàn khốc cho Samantha Bisset và bị giam ở Broadmoor trọn đời. Tôi nhớ thời điểm mình tiến hành khám nghiệm tử thi lần hai trên thi thể đã bị chặt lìa của Samantha Bisset, nói với viên thanh tra tôi có linh cảm nó giống thế nào cách Rachel Nickell bị giết. Tôi ước lúc đó mình không chỉ dừng lại ở những nhận xét thoảng qua mà đã lên tiếng mạnh mẽ và dứt khoát hơn.

Vụ Sally Clark, người mẹ bị kết án giết hai đứa con trai mình cũng có nhiều bước tiến mới. Cô ta có vẻ đã lên kế hoạch kháng cáo lần thứ hai. Cô ta đã thụ án hơn hai năm, nhưng lần kháng cáo này sẽ dựa vào những bằng chứng mới, những bằng chứng bệnh học mới.

Các kết quả xét nghiệm trên mẫu máu và mẫu mô từ con trai thứ hai của cô được phát hiện, những chứng cứ này không được công khai trước đó. Theo góc nhìn của vài chuyên gia, tất nhiên không phải tất cả, con trai thứ hai của cô ta có thể chết vì nguyên nhân tự nhiên, do nhiễm khuẩn tụ cầu.

Nhiệm vụ của tòa phúc thẩm là xem xét bồi thẩm đoàn có biết những thông tin này vào thời điểm phiên tòa và lời buộc tội được đưa ra không. Ba thẩm phán quyết định những thông tin có thể đã thiếu và ảnh hưởng đến sự vững vàng của lời cáo buộc.

Năm 2003, Sally Clark được tại ngoại khi đã trở thành một con nghiện rượu tàn tạ. Cô ta qua đời bốn năm sau đó.

Sir Roy Meadow, người đã tuyên bố con số thống kê đầy ấn tượng trước tòa – chỉ 1 trên 73 triệu khả năng có hai đứa trẻ chết vì nguyên nhân tự nhiên trong cùng một gia đình, đã mất tín nhiệm trên diện rộng. Nhiều người mẹ khác cũng do ông ấy làm chứng cáo buộc đã kháng án thành công. Các logic toán học của ông ấy bị những chuyên gia thống kê thách đố, ông ấy bị gạt ra khỏi Hội đồng Y khoa Tổng hợp ở Anh (GMC). Sau này dù đã thành công kháng cáo từ khi bị gạt ra khỏi hội đồng, ông ấy cũng đã ngoài 70. Chỉ một chi tiết ứng khẩu trước tòa đã đặt dấu chấm hết buồn thảm cho một sự nghiệp rạng rỡ trước đó.

Bác sĩ pháp y đã khám nghiệm cho cả hai đứa trẻ, người đã thay đổi nguyên nhân tử vong của một trong hai và không thông báo toàn bộ kết quả khám nghiệm trước đó, bị tuyên bố có tội và gạt ra khỏi GMC. Ông ta bị cấm hành nghề và làm việc cùng Bộ Nội vụ Anh trong 18 tháng.

David Southall đóng vai trò người bình luận hơn là tham gia trực tiếp vào vụ Sally Clark nhưng việc Clark được thả đã làm chất xúc tác cho những công kích nhắm vào ông ta và việc bảo vệ trẻ em. Có thể ông ta đã giúp tất cả chúng ta có thêm hiểu biết về những nguyên nhân tử vong ở trẻ em nói chung và SIDS nói riêng, nhưng những áp lực giận dữ đã hình thành từ phía các bậc phụ huynh đang bị đặt dưới diện tình nghi và những người cảm thông với họ. (Chẳng phải tất cả chúng ta đều dễ cảm thông với những người cố gắng đấu tranh vì họ bị kết án sai sao?)

Các nhóm hoạt động đó đã đệ đơn lên GMC. GMC mang đơn kiện đến Toà Xét xử Y khoa. Giáo sư Southall nhận được quyết định không đủ khả năng hành nghề, và bị gạt ra khỏi hội đồng. Sau đó ông ta cũng mất rất nhiều năm theo đuổi và kháng án để lật ngược bản án. Tuy vậy bản tuyên án của GMC với ông ta được công nhận rộng rãi đến mức bản xá tội cho ông ta sau đó hầu như không được ai đoái hoài.

Vụ Sally Clark có lẽ đã làm nên lịch sử trong mối tương quan giữa tất cả chúng tôi với căn bệnh SIDS. Các kiểu suy luận khác nhau, lẽ ra không được có chỗ đứng trong sự thật khoa học, nhưng thực tế không như vậy. Mười năm trước hẳn cô ta đã được xem là một người mẹ phải chịu bi kịch khi mất đi hai đứa con. Vào thời điểm đứa con đầu lòng của cô ta qua đời, nguyên nhân tử vong do SIDS đã giảm nhưng vẫn phổ biến. Khi con trai thứ hai của cô ta ra đi, các suy luận đã có nhiều bước tiến khiến vụ án của cô ta được suy xét cẩn thận hơn. Nguyên nhân tử vong được đưa ra là hội chứng rung lắc trẻ em, phản ánh chủ đề nóng hổi được bàn luận vào thời điểm đó. Nói ngắn gọn, vụ án này hé mở những hoài nghi mới mẻ của chúng ta với các bà mẹ có con nhỏ qua đời. Sau đó bản kháng cáo thành công của cô ta lại khiến công luận đổi chiều.

Kỳ thực, dù bác sĩ pháp y liên quan đã mắc sai phạm trong việc ghi chép và lưu trữ thông tin, chúng ta hiểu các bằng chứng y khoa thật sự rất phức tạp, gây nhiều tranh cãi, khiến nhiều chuyên gia phải xếp hàng dài tại tòa, bất đồng nhau trên mọi phương diện về cái chết của hai đứa trẻ. “Sự thật” trong vụ Sally Clark minh chứng nó không những không cố định mà còn mang tính bất định không thể dự liệu. Tòa án yêu cầu sự trung thực và sự thật nhưng rồi lại chọn lọc để đưa ra những kết quả của riêng họ dựa trên những vấn đề y khoa phức tạp.

Không ai còn bình yên vô sự sau vụ Sally Clark. Đối với giới pháp y, đó là lời nhắc nhở khủng khiếp nhất về trách nhiệm lớn lao mà nghề chúng tôi gánh vác.

« Lùi
Tiến »