Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2229 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 32

Dù yêu thích cuộc sống trên Đảo Man, sau vài năm tôi bắt đầu thấy nhớ lịch trình làm việc đảo điên của thế giới pháp y. Tôi nhớ không khí thân tình bằng hữu tại nhà xác và tại hiện trường, cảm giác chung lưng đấu cật. Tôi nhớ sự nhân văn của bản chất công việc mình làm, tương phản trực tiếp với các bằng chứng ác độc và phi nhân tính trước mắt.

Công việc với ủy ban lấp đầy khoảng trống đó. Cụ thể tôi hỗ trợ cảnh sát và chính quyền địa phương thành lập hệ thống hướng dẫn đối phó với tội phạm ma túy đá. Loại ma túy này mang đến cho người dùng trạng thái tinh thần hưng phấn tới nỗi một số người trở nên khỏe như bò mộng và nguy hiểm gấp bội. Làm thế nào để khống chế những người đó để bảo vệ dân thường mà không giết họ? Đi tìm câu trả lời cho những vấn đề này là việc làm tốt đẹp nhưng nó không giống việc giải quyết các bài toán đố tại nhà xác. Tôi như kẻ bị tách rời khỏi những điều thật sự đang diễn ra trong thế giới pháp y.

Thế rồi năm 2004, tôi bị cuốn vào một vụ án thu hút rất nhiều sự chú ý của công luận, bất chấp vụ án đã diễn ra bảy năm trước và ở một nơi rất xa tôi.

Tôi không phải bác sĩ pháp y chịu trách nhiệm chính với Bộ Nội vụ vào cuối tuần đó, 31 tháng 8 năm 1997. Đồng nghiệp của tôi tại Bệnh viện St Georges, Rob Chapman đảm nhận vị trí đó. Tờ mờ sáng hôm ấy, Công Nương xứ Wales và Dodi al-Fayed qua đời trong một tai nạn giao thông tại đường hầm ở Paris, ông ấy chết ngay tại chỗ còn bà chết tại bệnh viện sau một cuộc phẫu thuật. Hai thi thể được chuyển về Anh bằng Không quân Hoàng gia tại Northolt cùng ngày. Chuyên viên điều tra hiện trường thụ lý khu Tây London, John Burton tình cờ cũng là chuyên viên điều tra của hoàng gia đã có mặt. Buổi tối hôm đó Rob tiến hành khám nghiệm tử thi tại Fulham, bị vây quanh toàn các cảnh sát cấp cao, chuyên viên điều tra, nhiếp ảnh gia của Cảnh sát Đô thị, nhân viên nhà xác và nhân viên phụ trách đám đông hiếu kỳ bên ngoài. Cả hai thiệt mạng do những vết thương của vụ tai nạn.

Các câu hỏi xoay quanh hai cái chết chẳng bao giờ biến mất. Trong nỗ lực xua tan các thuyết âm mưu quanh nó, một cuộc thẩm tra do cảnh sát tiến hành được mở lại vào năm 2004. Cuộc thẩm tra được Sir John Stevens, lúc đó là Ủy viên Hội đồng Cảnh sát Đô thị London, sau đó trở thành Lord Stevens dẫn dắt. Mục đích của phiên điều tra là xem xét mọi khả năng khác cho hai cái chết trên ngoài nguyên nhân tai nạn giao thông. Chuyên viên điều tra mới của hoàng gia, Michael Burgess đã đề đạt tôi làm chuyên gia pháp y của cuộc thẩm tra. Dĩ nhiên hai thi thể đã được chôn cất từ lâu, tôi phải dựa vào các tài liệu đồng nghiệp của tôi đã viết năm 1997.

Có rất nhiều suy đoán xoay quanh nguyên nhân dẫn đến cái chết của Diana và Dodi, nhưng tôi không nghĩ có nghi ngờ gì về việc họ rời Khách sạn Ritz bằng cửa sau trên chiếc Mercedes của khách sạn, tài xế của họ là Henri Paul. Họ băng qua các con phố của Paris với tốc độ cao, bị cánh săn ảnh đuổi theo, rồi xe họ đâm vào cột bê-tông thứ 13 trong đường hầm Alma khi đang chạy với vận tốc hơn 95km/giờ.

Nếu một chiếc xe dừng hẳn lại sau cú va đập như vậy, trừ phi được dây an toàn giữ lại, bằng không những người ngồi trong xe sẽ không dừng lại như xe. Họ sẽ lao về phía trước vào kính chắn gió, vào bảng đồng hồ hoặc vào những người ngồi trước.

Diana và Dodi ngồi ở ghế sau, họ không thắt dây an toàn. Tài xế cũng thế. Anh ta đập vào vô-lăng, các vết thương của anh ta cho thấy điều đó, rồi gần như ngay sau đó, anh ta tiếp tục bị cả cơ thể của Dodi đập vào. Dodi là người đàn ông to lớn, cơ thể ông ấy vẫn còn di chuyển về phía trước với tốc độ hơn 95km/giờ. Henri Paul nghiễm nhiên trở thành túi khí an toàn của Dodi và chết ngay lập tức. Dodi cũng không thoát khỏi số phận.

Diana may mắn hơn một chút vì Trevor Rees-Jones, vệ sĩ của al-Fayed ngồi bên cạnh tài xế, ngay trước mặt bà. Thông thường các vệ sĩ sẽ không thắt dây an toàn vì giới hạn cử động nhưng Rees-Jones, hoặc vì cảm thấy sợ trước cách lái xe của Henri Paul hoặc cảm thấy tai nạn có thể sẽ xảy đến nên đã thắt dây an toàn vào phút cuối cùng. Dây an toàn được thiết kế để không siết quá chặt khi bị va đập. Anh ta đã được dây an toàn giữ lại, được chèn đỡ một phần nữa khi túi khí bung ra vào thời điểm cơ thể Diana lao lên trước từ hàng ghế sau theo quán tính. Bà nhẹ hơn Dodi rất nhiều, dây an toàn của Rees-Jones cũng khiến tổng lực giảm bớt khá nhiều. Điều này làm giảm nhẹ lực từ cú va chạm tới bà ấy, vì thế, may mắn hơn Dodi, bà chỉ bị gãy vài cái xương và một chấn thương nhẹ ở vùng ngực.

Chính vì Dodi al-Fayed và Henri Paul chết ngay lập tức, đội cứu thương đã đúng đắn khi quay sang cứu những người bị thương. Họ không nhận ra Diana, theo báo cáo bà vẫn có thể tự giao tiếp được. Trevor Rees-Jones bị bội thương sau cú va chạm, do trọng lượng cơ thể của chính mình và trọng lượng cơ thể Diana đập vào người anh ta từ phía sau, vì thế anh ta bị thương nặng hơn rất nhiều. Do đó anh ta được đưa ra khỏi xe trước. Diana bị mắc kẹt sau ghế lái phụ cho đến khi người ta di chuyển được Rees-Jones ra ngoài.

Rees-Jones bị thương nặng hơn nên đã được đưa lên xe cứu thương thứ nhất. Tiếp theo Diana được đưa ra khỏi xe và đến bệnh viện để cấp cứu. Lúc đó không ai biết bà bị một vết xước nhỏ xíu trong tĩnh mạch của một lá phổi. Nếu nhìn theo giải phẫu học, đó là một phần bị khuất hẳn ở trung tâm lồng ngực. Các tĩnh mạch dĩ nhiên không có khả năng chịu áp lực cao như các động mạch. Nó chảy máu chậm hơn rất nhiều, chậm đến mức việc nhận diện vấn đề trở nên khó khăn hơn và khi nhận diện được, việc hồi phục lại càng khó khăn.

Đối với nhóm cứu hộ, bà trông có vẻ đã bị thương, nhưng ổn định, nhất là khi bà còn có thể tự giao tiếp được. Khi tất cả mọi người hướng sự tập trung về Rees-Jones, tĩnh mạch chầm chậm chảy máu vào lồng ngực bà. Bà từ từ bất tỉnh trong xe cứu thương. Khi tim bà ngừng đập, mọi nỗ lực đã được thử để làm bà hồi tỉnh, tại bệnh viện bà được phẫu thuật sau khi các bác sĩ tìm thấy tĩnh mạch chảy máu và cố hồi phục nó. Đáng buồn thay, tất cả đã quá muộn. Giai đoạn tỉnh táo và khả năng sống sót ban đầu của bà là đặc tính của một vết thương nhỏ trên tĩnh mạch mang tính sống còn. Vết thương của bà hiếm gặp tới nỗi tôi không nghĩ mình đã gặp vết thương nào như vậy trong toàn bộ sự nghiệp của mình. Vết thương của Diana nhỏ vô cùng, nhưng xảy ra ở nơi không nên xảy ra.

Cái chết của bà là ví dụ kinh điển cho cách chúng ta vẫn thường nói sau mỗi cái chết: giá như. Giá như bà đã lao vào phía sau ghế một góc hơi khác đi, giá như bà đã lao về phía trước với vận tốc chậm hơn chỉ một chút, giá như người ta đã đưa bà lên xe cứu thương sớm một chút. Nhưng điều giá như lớn nhất, trong trường hợp của Diana lại hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay bà: Giá như bà đã thắt dây an toàn. Nếu bà được dây an toàn giữ lại, hẳn bà đã xuất hiện trước công chúng hai ngày sau đó với một con mắt bầm, thêm một chút hụt hơi vì mấy cái xương sườn bị nứt và một bên tay gãy quấn băng.

Hồ sơ pháp y của bà thật khó lòng chối cãi, tôi tin như vậy. Nhưng xung quanh vết rách nhỏ trên tĩnh mạch phổi còn rất nhiều điều đan xen nhau, vài điều trong số đó lờ mờ tới mức làm dấy lên cơ số những giả thuyết.

Một trong những thuyết gia âm mưu là bố của Dodi, Mohammed al-Fayed, tin rằng vụ tai nạn đã được dàn xếp. Sự “gợi ý” được biết đến nhiều nhất có lẽ là cặp đôi bị ám hại vì Diana sắp thông báo mình có thai, một việc làm sẽ khiến Hoàng gia Anh muối mặt. Vì không đích thân khám nghiệm tử thi cho Diana, tôi không thể nói dứt khoát bà không có thai. Rob Chapman đã khám nghiệm, rồi được kiểm tra chéo, ông ấy đã giải thích không có bằng chứng cho chuyện này. Nếu có, các thay đổi trên cơ thể đã được phát hiện khoảng hai hoặc ba tuần sau khi thụ thai, thậm chí trước cả khi bà biết mình đang mang thai.

Vài người đã hỏi tôi có khi nào Rob bị ép nói dối không. Câu trả lời là một chữ “không” được nhấn mạnh. Ông ấy sẽ không bao giờ bỏ qua quy chuẩn hành nghề và đồng ý che giấu sự thật sau cuộc khám nghiệm tử thi (trong vấn đề này, tôi cũng sẽ không bao giờ làm vậy).

Những thuyết âm mưu không chỉ vin lý do Diana có thai. Rất nhiều lý do khác được đưa ra để giải thích vì sao chiếc xe lại gặp nạn đúng đêm hôm đó, các lý thuyết được châm ngòi bởi rất nhiều chi tiết dị thường quanh vụ việc.

Đầu tiên, sự xuất hiện của một chiếc xe khác, một chiếc Fiat Uno màu trắng. Chiếc xe này được cho là đã va quẹt với chiếc Mercedes của Khách sạn Ritz trước khi chiếc Mercedes đâm vào cột trụ bê-tông. Tuy nhiên, không ai biết chuyện gì đã thật sự xảy ra vì cả chiếc xe lẫn người tài xế đều bốc hơi khỏi mọi nỗ lực tìm kiếm khắp nước Pháp và Châu Âu.

Sau đó là những điểm bất thường về tài xế, Henri Paul. Các mẫu máu cho thấy anh ta đã say, nhưng điểm này lại nhận được những tranh cãi nảy lửa từ gia đình nạn nhân và những người bên cạnh anh ta ngay trước khi vụ tai nạn xảy ra. Có những cáo buộc cho rằng mẫu máu của Paul đã bị đánh tráo bằng mẫu máu của người khác, một phần vì mẫu máu của anh ta chứa các thành phần thuốc chữa giun của trẻ em. Paul không có giun, càng không có con. Tuy nhiên loại thuốc này cũng được dùng để “cắt” cơn nghiện, dù rõ ràng Paul không dùng cocain, ít nhất là không dùng đêm đó hoặc vài ngày trước đó. Hơn nữa, lượng cacbon monoxit (CO) trong máu Paul cao bất thường dù không đủ gây chết người, cũng không ai giải thích được rõ điều này.

Bất thường không kém, thi thể Diana được tiêm hóa chất ướp. Một nhân viên nhà lễ tang người Pháp đến bệnh viện và tiến hành làm việc này, không ai có thể giải thích vì sao ông ta được gọi đến và do ai gọi, nhưng chắc chắn không phải do các chuyên gia pháp y tại Paris. Có khả năng lời giải thích sẽ nhắc tới việc Diana là thành viên hoàng gia, vì thế việc ướp xác là quy trình bình thường. Tuy nhiên, cả hai thi thể đều được chuyên cơ chở về Anh ngay lập tức và Rob sẽ khám nghiệm tử thi cho họ trong vòng 24 tiếng, thật sự không cần các đồng nghiệp Pháp tiêm hóa chất ướp xác bà. Làm vậy chỉ khiến các kết quả độc học không còn chính xác. Nhiều người nhận thấy hành động này đáng ngờ nhưng vì Diana lẫn Dodi đều không trực tiếp lái xe, cũng khó xét tới các hệ quả độc chất học ảnh hưởng.

Sau nhiều cuộc cãi cọ ngoại giao tơi bời và thủ sẵn thật nhiều câu hỏi, nhóm cảnh sát và tôi lên đường đi Paris. Chính quyền sở tại không chào đón chúng tôi nồng hậu lắm, cũng không có thiện chí giúp đỡ nhưng rồi chúng tôi cũng thấy được hiện trường vụ tai nạn và cả chiếc xe. Những chuyên gia khác bắt đầu cố gắng giải thích hàm lượng CO trong máu Paul và lập tức kiểm tra túi khí, còn nhiệm vụ của tôi đưa tôi đến thẳng nhà xác.

Tại đây tôi gặp Giáo sư Dominique Lecomte, bác sĩ pháp y duyên dáng nhưng xui xẻo phải nhận ca trực đêm đó. Cô ấy đã đích thân khám nghiệm tử thi Henri Paul. Cô ấy sử dụng tốt tiếng Anh, nhưng chỉ cho đến khi tôi đề cập tới quá trình khám nghiệm tử thi và hỏi liệu có sự nhầm lẫn nào trong hệ thống ghi chép khiến mẫu máu của Paul bị nhầm với mẫu máu của người khác không. Cô ấy hầu như không nói gì nữa, yêu cầu được tiếp tục với thông dịch viên và thường xuyên tìm lời khuyên từ luật sư ngồi cạnh.

Tôi hy vọng cô ấy hiểu tôi thông cảm cho cô ấy thế nào. Một ca trực đêm thứ Bảy như thường lệ sẽ toàn những vụ tai nạn giao thông, những kẻ say xỉn, nạn nhân của các loại tội ác và cãi cọ. Ở Paris, các bác sĩ pháp y thường không xử lý những ca như thế này vào cuối tuần mà chờ đến sáng thứ Hai. Giáo sư Lecomte vì thế bị lôi vào guồng quay áp lực khủng khiếp này khi đang ngủ giữa đêm khuya. Gương mặt được chụp ảnh nhiều nhất thế giới đã qua đời trong một tai nạn ô tô, tài xế và bạn trai bà cũng được chuyển đến nhà xác. Ở bên ngoài, các nhân viên chính phủ, gia đình và báo giới kêu gào giáo sư đưa ra kết luận.

Quy tắc chung để xử lý các ca nổi tiếng là dừng lại. Tiến hành mọi việc thật chậm rãi. Tuân theo thứ tự các bước nghiêm chỉnh. Rất đáng cẩn thận như vậy vì đối với cái chết của người nổi tiếng, mọi hành động của bạn sẽ bị gạn hỏi suốt một thời gian rất lâu sau đó, ở chốn công khai cũng như riêng tư. Trong suốt thời gian sự việc diễn ra, bạn cố mọi cách để hoàn thành mọi việc chính xác nhất có thể với một nửa thời gian và một nửa lượng thông tin so với bình thường. Bạn phải đưa ra các câu trả lời đơn giản cho các câu hỏi y khoa hóc búa. Tôi đã rút ra bài học đau thương sẽ không ai cảm ơn bạn trong những trường hợp như vậy. Những lời nhận xét duy nhất được đưa ra rất quan trọng: Bạn đã làm việc bạn không nên làm hoặc (thường thấy hơn) bạn không làm những việc đáng lẽ bạn phải làm.

Đáng tiếc các bác sĩ pháp y trong những trường hợp như vậy thường chịu thua trước áp lực khổng lồ yêu cầu họ phải nhanh hơn, phải đi lối tắt, phải chấp nhận những điều trước mắt. Họ không còn tuân theo trình tự và có thể phản ứng theo những cách rất nguy hiểm, không hề giống họ ngày thường. Tôi không có ý nói Giáo sư Lecomte đã thực hiện khám nghiệm tử thi một cách vô tổ chức. Tôi nghĩ cô ấy đã hoàn thành rất tốt công việc của mình, mặc dù sau đó tôi phát hiện vài sai phạm, tôi không chỉ trích cô ấy. Tôi rất hiểu phản ứng tự vệ khi có một đồng nghiệp Anh đến tra khảo cô ấy về những quy trình cô ấy phải tuân theo khi làm việc ngay sau khi bị dựng dậy giữa đêm sau một ngày làm việc mệt mỏi bảy năm trước.

Phiên thẩm tra của Sir Stevens tiêu tốn triệu bảng Anh và cho ra bản báo cáo dày 900 trang được nộp cuối năm 2006. Nội dung là “Kết luận của chúng tôi dựa trên tất cả các chứng cứ có sẵn vào thời điểm này, không có âm mưu ám hại bất cứ người nào có mặt trên chiếc xe đó. Đó là một tai nạn thương tâm.”

Bản báo cáo này không thể bắt các thuyết gia âm mưu im miệng, với Mohammed al-Fayed lại càng không. Năm 2007, sau rất nhiều áp lực, một cuộc đại thẩm tra được mở. Tôi được gọi đến với tư cách nhân chứng chuyên môn, phía Pháp lúc này đã bị thuyết phục nộp thêm tài liệu từ phía họ. Tôi được đọc toàn bộ báo cáo khám nghiệm tử thi của Henri Paul. Sau đó vào tháng chín, khi cuộc thẩm tra gần diễn ra, cuối cùng chính quyền Pháp đã đưa ra những bức ảnh chụp buổi khám nghiệm Henri Paul.

Năm 1997, các nhiếp ảnh gia pháp y còn sử dụng máy ảnh chụp phim. Các con số trên phim âm bản được in trên mặt sau ảnh tráng, nghĩa là sẽ dễ theo dõi thứ tự của các bức ảnh được chụp trong nhà xác. Những bức ảnh đầu tiên cho thấy Henri Paul được đặt nằm sấp vào thời gian đầu khám nghiệm. Trong bệnh học pháp y, bạn sẽ được hướng dẫn nhìn vào tổng thể của các mẫu thử dưới kính hiển vi, vì lúc nào cũng có khả năng có những tế bào ung thư ở phần rìa. Luật tương tự áp dụng cho các bức ảnh. Hãy lờ đi những điều hiển hiện trước mắt và chú ý vào phần nền. Vì thế tôi nhìn phần nền những bức ảnh của Paul, thấy một hàng chai thủy tinh rỗng xếp dài, chờ lấy mẫu máu của anh ta. Chúng nằm trên bồn rửa tay cạnh bàn đặt thi thể, sau xác Paul.

Giáo sư Lecomte miêu tả một vùng chảy máu rộng sau cổ Paul, có thể đã bị gây ra do cú va đập với cơ thể Dodi từ phía sau. Không có gì bất thường ở điểm này. Nhưng khá lạ, tôi có thể nhìn thấy xuất hiện thêm nhiều chai chứa mẫu máu khi tôi lướt qua các bức ảnh theo thứ tự. Vài chai đã đầy trước khi thi thể được lật ngửa lại để tiến hành mở lồng ngực.

Lẽ ra các chi tiết này cũng không có gì lớn lao nếu trong bản báo cáo của mình Giáo sư Lecomte cho biết những mẫu máu được lấy từ tim Paul, không phải từ cổ.

Tất nhiên cô ấy có thể đã lấy máu từ cổ sau đó đổ bỏ đi, khi lật thi thể nằm ngửa lại, cô ấy quyết định lấy máu từ tim (thật ra mẫu máu lấy từ tim được chấp nhận nhưng mẫu máu lấy từ phần đùi là tốt nhất). Làm thế không sai, với điều kiện cô ấy ghi chép lại các bước mình đã thực hiện.

Hoặc cô ấy đã ghi nhãn những mẫu máu từ cổ là mẫu máu từ tim. Không quá quan trọng việc mẫu máu được lấy từ bộ phận nào, nhưng nói rõ máu được lấy từ bộ phận nào lại quan trọng vì vị trí lấy máu có thể ảnh hưởng tới kết quả xét nghiệm độc học, việc dán nhãn sai có thể dẫn tới những sai sót lớn.

Có thể bạn sẽ nghĩ đây là một trường hợp sơ suất hoặc hệ thống lưu trữ thông tin chưa tốt. Nhưng trong một vụ án thế này, mọi chi tiết dù là nhỏ nhất đều làm dấy lên rất nhiều câu hỏi về sau, và chắc chắn nó sẽ châm ngòi cho những cáo buộc đó không phải mẫu máu của Paul. Những phần máu còn sót lại trong mẫu cho thấy đó là máu của Paul nhưng vẫn không thể làm nguôi vấn đề vì còn các mẫu máu bị thất lạc, bị đổ, hoặc được chia với những phòng thí nghiệm khác... Chỉ vậy đã đủ thông tin cho những ai muốn đặt thêm câu hỏi.

Tất cả tùy thuộc vào bồi thẩm đoàn, những người sẽ đưa ra các đánh giá về tầm quan trọng từ bằng chứng tôi nộp ở phiên thẩm tra. Đó là một vụ lớn, được Pháp quan Scott Baker chủ trì, ông ấy được bổ nhiệm làm chuyên viên điều tra riêng cho vụ này. Ông ấy đi cùng ba luật sư đại diện, Mohammed al-Fayed dẫn theo ba luật sư, hai luật sư đại diện cho Khách sạn Ritz, hai luật sư đại diện gia đình Henri Paul. Thêm nữa, lực lượng Cảnh sát Đô thị London có ba luật sư đại diện, Tình báo Anh và Bộ Ngoại giao được hai luật sư đại diện. Những bên liên quan khác như hai con trai của Diana và chị của Diana cũng có luật sư riêng tại phiên thẩm tra.

Tất nhiên có rất nhiều đại diện của báo giới nhưng đa phần luật sư có mặt tại tòa áp đảo số lượng báo giới lẫn công chúng.

Việc đặt câu hỏi cho các nhân chứng như thường lệ do luật sư của chuyên viên điều tra thực hiện, nhưng thường được nối tiếp với các phiên kiểm tra chéo của các luật sư khác. Mọi chi tiết dù là nhỏ nhất trong đêm đó và những tháng trước đó cũng được xem xét. Đóng góp của riêng tôi thật nhỏ bé nhưng tôi nghĩ, quan trọng với kết quả chung. Tôi được hỏi về suy nghĩ của mình qua sự kiện này. Kết luận của tôi ư? Một tai nạn giao thông tốc độ cao, liên quan đến cồn, đơn giản vậy thôi.

Nhận định của bồi thẩm đoàn không gây ngạc nhiên và đã thỏa mãn rất nhiều người:

“Một vụ giết người bất chính từ cách lái xe rất nguy hiểm của chiếc Mercedes và các phương tiện bám theo. Vụ tai nạn xảy ra hoặc tồi tệ thêm do tốc độ, cách điều khiển chiếc Mercedes cũng như các phương tiện bám theo và sự thiếu khả năng phán đoán của tài xế chiếc Mercedes do ảnh hưởng của chất cồn.

Ước gì Giáo sư Lecomte đã không phản ứng quá mạnh trước những câu hỏi không ác ý của tôi và nói nhiều hơn, sự im lặng của cô ấy nếu giải thích một cách pháp y nghĩa là đã có sự mập mờ ở đâu đó. Nhưng không có nghĩa tôi ủng hộ thuyết âm mưu. Tôi không tin những việc diễn ra ở nhà xác đêm đó nằm trong một kế hoạch lớn và nguy hiểm để sát hại người phụ nữ ấy, rồi sau đó che giấu chứng cứ. Đơn giản Giáo sư Lecomte đã gây ra những sai phạm nhỏ vì áp lực, nếu trong một vụ án khác không có quá nhiều nỗ lực bới lông tìm vết, những sai phạm đó chẳng hề gì. Tôi hoàn toàn tán thành các nhận định của bồi thẩm đoàn.

« Lùi
Tiến »