Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2231 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 33

Năm 2006, Tony Blair vẫn đang làm Thủ tướng, mùa hè năm đó nóng đổ lửa, và show truyền hình CSI (*) đang ăn khách trên toàn thế giới. Chris sắp trở thành bác sĩ thú y còn Anna được nửa chặng đường học y khoa. Trên Đảo Man, bản thảo ấn bản thứ 12 cuốn Khoa Học Pháp Y của Simpson không những đã hoàn chỉnh mà đã được xuất bản. Niềm tự hào của tôi còn được tôi luyện thêm bởi ý thức về sự trọn vẹn do việc hoàn thành cuốn sách mang lại. Khi đọc các trang sách của ấn bản thứ ba, tôi bắt đầu bước vào con đường này. Liệu ấn bản thứ 12 sẽ dần khép lại sự nghiệp ấy chăng?

Tôi vẫn còn nhiều việc phải làm: tham dự các ủy ban, đóng góp ý kiến cho các vụ án phức tạp, làm nhân chứng tại những phiên thẩm tra công khai. Nhưng cuộc sống đã rất khác so với nhịp sống bận rộn tôi biết trước đây khi nó xoay quanh các thi thể, những cái chết không rõ nguyên nhân, những cái tên không được biết đến.

Thỉnh thoảng tôi trải qua cảm giác trống rỗng khi đi dạo cùng mấy chú chó trên những ngọn đồi và nhìn chăm chăm về hướng biển. Đó là cảm giác gì? Phải mất một thời gian tôi mới nhận ra điều mình hiếm khi trải nghiệm trong suốt cuộc đời: sự chán nản. Hay sự cô đơn? Tôi cũng không rõ.

Việc ai nấy làm sau các sự kiện và tiệc tùng, Jen và tôi có vẻ không còn mấy thứ để chia sẻ cùng nhau. Chẳng còn cần nói chuyện với nhau về lũ trẻ như trước đây vì chúng đã lớn, căn nhà phong cách đồng quê của chúng tôi cũng đã được sửa xong, chẳng còn gì để nói thêm. Jen mua mấy con cừu rồi bắt đầu học cách chăn chúng. Tôi cũng cố gắng thích thú công việc chăn nuôi cừu. Nhưng sự thật, dù rất yêu căn nhà hướng biển của mình, tôi vẫn thấy nó im lặng quá đỗi. Tôi ao ước có bão thổi qua nhà, đập vào cửa sổ, cào cấu mái nhà để nghe tiếng động và khiến căn nhà có sức sống hơn.

Khi chuyển đến sống ở đảo, chúng tôi đều hy vọng tìm được việc làm bán thời gian tại đây, tôi làm ở nhà xác còn Jen làm ở phòng khám da liễu. Nhưng chẳng có cơ hội nào vì nhiều nguyên nhân liên quan đến hậu trường chính trị mà chỉ sống ở đây mới biết. Cuối cùng Jen dành một tuần mỗi tháng để làm việc tại một phòng khám tại đất liền. Năm 2006, tôi được đề nghị một công việc liên quan đến pháp y ở Liverpool vào cuối tuần, dĩ nhiên tôi nhận.

Có lẽ tôi lê thân đến Đảo Man vì đã quá mệt mỏi với công việc ở London, với màu sắc chính trị trong đó, với những cung cách quản lý, đối nội và đối ngoại trong thế giới tư nhân hóa hoàn toàn mới mẻ. Phải đến lúc này tôi mới nhận ra mình nhớ những gì: bản chất công việc tôi làm - xoay quanh những bí ẩn của cái chết. Đứng giữa nhà xác ở Liverpool trong lớp áo bảo hộ, con PM40 chắc nịch trong lòng bàn tay, tôi có cảm giác hồi tỉnh đầy tươi mới trong niềm hân hoan khi khám nghiệm nạn nhân đầu tiên sau rất nhiều năm, một nạn nhân say xỉn bị đâm chết và được tìm thấy trong một máng rác. Đây là công việc pháp y mang tính dự phòng tôi cộng tác với cảnh sát, để làm việc này, tôi lưu lại tại khách sạn một cuối tuần mỗi tháng. Đôi khi tôi được gọi đến khám nghiệm một loạt các ca giết người nhưng cũng có lúc tôi tràn trề thất vọng, tôi chẳng có việc gì để làm.

Tôi chưa rời bỏ công việc trực tiếp bao lâu nhưng thế giới pháp y xem chừng đã hoàn toàn thay da đổi thịt. Những thay đổi không chóng mặt nhưng là một chuỗi phát triển không ngừng nghỉ, bắt đầu từ khi tôi còn làm ở London.

Sự thay đổi bắt đầu từ những thi thể. Lượng mỡ dày lên trông thấy trong cơ thể người dân. Trừ phi nạn nhân là người vô gia cư hoặc bị ung thư, thật già hoặc thật nghèo đói đến nỗi không có ăn, hầu như tôi không còn thấy tạng người tôi từng thấy vào thập niên 80 khi mới vào nghề. Nhìn lại các bức ảnh pháp y thời đó, tôi không khỏi kinh ngạc vì sự mảnh dẻ như vậy được xem là bình thường thời bấy giờ.

Các thi thể trông cũng rất khác vì đa số đều được “trang trí”, thời đó hình xăm chỉ xuất hiện trên cơ thể thủy thủ hoặc chiến binh. Giờ đây đa số các thi thể tôi gặp trong nhà xác đều xăm và xỏ khuyên. Bên cạnh đó, tự hoại cơ thể gần như rất hiếm gặp thời trước, còn giờ tôi kinh ngạc với số lượng thi thể, nhất là những người trẻ, được chuyển đến nhà xác với những vết thương tự gây ra trông đã cũ. Các vết thương kể tôi nghe về cuộc đời người chủ của chúng, về một xã hội đang đổi thay, nhưng lại không cho tôi biết về nguyên nhân tử vong của họ, và thường cũng không liên quan trực tiếp tới việc tự hoại.

Đối với các bác sĩ pháp y vào thập niên 80, HIV và viêm gan là những kẻ thù được công nhận rộng rãi, đến giờ vẫn vậy. Tuy nhiên vào thời điểm tôi quay lại công việc, căn bệnh lao lại trở thành nỗi hiểm nguy rình rập những người làm việc trong môi trường nhà xác, tôi biết đã có nhiều bác sĩ pháp y và nhân viên nhà xác nhiễm bệnh. Lao dễ lây hơn mọi người tưởng nhiều, không hiếm gặp trường hợp trong buổi khám nghiệm tử thi, các bác sĩ và nhân viên không biết mình sắp tiếp xúc với căn bệnh lây lan cao, rất dễ bị nhầm với chứng viêm phổi này.

Các bản báo cáo khám nghiệm tử thi cũng đã thay đổi. Hồi tôi mới bắt đầu, ba trang đã đủ. Khi quay trở lại, tôi bị khiển trách nếu nộp báo cáo ngắn hơn mười trang, nó vừa phải lan man, vừa phải miêu tả bộ máy hoạt động của cơ thể người thật dài dòng văn tự.

Vào thập niên 90, kỹ thuật DNA đóng góp rất lớn cho quy trình pháp y, và khoa học pháp y sớm vượt mặt bệnh học pháp y để trở thành đóng góp hàng đầu trong nỗ lực phá án. Trước khi tôi rời đi, cảnh sát yêu cầu chúng tôi đeo găng tay ở hiện trường. Khi tôi trở lại, tôi phải đeo găng tay, ủng, đồ bảo hộ Tylex trắng và khẩu trang. Kỹ thuật phân tích DNA nhạy đến mức chúng tôi hiểu mỗi hơi thở, mỗi câu nói cũng có thể phát tán nước bọt có DNA khắp nơi. Những ngày tháng bác sĩ pháp y và cảnh sát đi quanh hiện trường trong bộ quần áo văn phòng đã không còn nữa. Các bộ đồ bảo hộ màu trắng chắc chắn không được thiết kế để mang lại sự thoải mái cho người mặc, nhất là khi phải mặc lúc cả thế giới báo chí cố gắng quay phim mình. Cởi ra phút nào thoải mái phút ấy, để nó được đặt vào túi chứng cứ – đúng vậy, đồ bảo hộ cho bác sĩ giờ cũng phải giữ lại làm chứng cứ.

Trên tòa, tôi để ý nhiều năm nay các vụ án bên nguyên không còn được nghiên cứu thấu suốt và có tổ chức nữa. Các cuộc họp về vụ án với phía luật sư không còn. Không còn những cuộc điện thoại từ phía cảnh sát, từ Ủy ban Công tố Hoàng gia, hay từ phía luật sư. Nếu may mắn, tôi sẽ có mười phút với luật sư trước khi bước lên bục nhân chứng. Thông thường các luật sư không có chút khái niệm gì về nội dung tôi sẽ nói và sẽ hỏi lại tôi. Thường họ cũng không cho tôi cơ hội tự giới thiệu với bồi thẩm đoàn và vì sao ngần ấy năm kinh nghiệm trong nghề có thể giúp tôi nói được những gì tôi sẽ nói. Họ chỉ nói: “Bác sĩ Shepherd, ông là bác sĩ được cấp phép hành nghề, hãy cho chúng tôi biết ông phát hiện được gì sau khi khám nghiệm thi thể này.”

Thời của các luật sư khoa trương, ồn ào trên tòa đã qua khi tôi rời London. Viên luật sư bị cáo tấn công tôi tới tấp trong vụ thiếu niên làm “trai bao” nọ đã trở thành quá khứ xa vời. Có lẽ vì lý do kinh tế, Ủy ban Công tố Hoàng gia chuộng làm việc với các luật sư trẻ tuổi hơn là những luật sư kinh nghiệm, đắt đỏ. Tất nhiên, những luật sư dày dạn kinh nghiệm, dù không còn quá ồn ào vẫn hành nghề và hầu như luôn tham gia bào chữa cho bị cáo.

Tòa án giờ đây chỉ hứng thú lắng nghe các nhân chứng chuyên môn trình bày lời khai dựa trên bằng chứng chứ không dựa trên kinh nghiệm bất chấp bề dày kinh nghiệm chúng tôi có. Các thẩm phán thường cắt lời và chỉ nói “Xin chỉ cho chúng tôi nghe có hay không, Bác sĩ Shepherd” khi tôi đang trả lời đầy đủ một câu hỏi rất dài và chi tiết từ phía luật sư.

Mô hình tư nhân hóa của bệnh học pháp y ở England và xứ Wales xuất hiện hồi tôi rời bỏ London hầu như đã khóa sổ khả năng nghiên cứu pháp y. Đa số chúng tôi không còn làm việc hay giảng dạy tại các trường đại học. Y khoa pháp y không còn chỗ đứng trong chương trình giảng dạy y khoa. Nỗ lực nghiên cứu luôn bị Cơ quan Quản lý Mô người (HTA) (*) chặn đứng vì cho rằng phải có sự đồng thuận của gia đình người đã khuất trước khi các mẫu, hay thậm chí các vi mẫu được sử dụng cho mục đích nghiên cứu. Vậy người ta có thể đặt câu hỏi, làm thế nào các chứng cứ trên tòa còn mang tính chất “dựa trên bằng chứng”?

Lúc nào cũng có các vụ giết người, tự sát và tai nạn, nhưng số vụ pháp y thông thường sẽ bao gồm cả những vấn đề liên quan đến sự bất cẩn tại các viện dưỡng lão. Và cả những vụ dùng ma túy quá liều. Xấu hổ thay, gồm cả những vụ qua đời trong trại giam, điều nói lên rất nhiều vấn đề trong nhà tù: 316 vụ chết người trong tù chỉ tính đến tháng 3 năm 2017, gồm 97 vụ tự sát. Cùng năm đó, đã có hơn 40000 vụ tự hoại trong tù và hơn 26000 vụ tấn công. Những con số này không có dấu hiệu hạ nhiệt qua từng năm.

Nhưng điều khiến tôi sốc nhất khi trở lại với nghề là các chuyên gia pháp y được gọi đến điều tra các vụ tử vong mỗi lúc một ít đi. Chi phí và quy trình giấy tờ mở phiên thẩm tra khiến nhiều chuyên viên điều tra chùn bước, lướt qua các tình tiết đáng ngờ. Nếu có một nguyên nhân tử vong “có lẽ” tự nhiên và một bác sĩ “có lẽ” sẵn lòng ký giấy, rất nhiều chuyên viên điều tra sẽ chấp nhận làm vậy để không phải kéo dài thẩm tra. Đáng buồn là, thay vì phải bỏ ra vài nghìn bảng cho một trong gần bốn mươi chuyên viên pháp y có đăng ký với Bộ Nội vụ, phía cảnh sát cho rằng cái chết (nhất là những cái chết gần cuối năm tài khóa) không có gì đáng ngờ và có thể được một nhà bệnh học không chuyên về pháp y ở địa phương xử lý.

Phần lớn mọi người đều đồng tình một xã hội văn minh sẽ nỗ lực tìm ra nguyên nhân thật sự đằng sau mỗi cái chết bằng bất cứ giá nào. Chi phí của các phiên tòa, cuộc điều tra chính thức cũng như những phiên thẩm tra công khai trong cái chết của Stephen Lawrence nên được xem là lời nhắc nhở cho bất cứ ai đang ngờ vực, rằng mọi thứ sẽ tốt lẫn rẻ hơn rất, rất nhiều nếu mọi việc được giải quyết đúng đắn ngay từ đầu.

Tôi thấy mình thích được quay lại guồng quay công việc ở Liverpool, mặc dù nó vừa giống vừa khác trước đây. Thỉnh thoảng tôi được mời đến thỉnh giảng tại các tổ chức y khoa hoặc cho các nhóm chuyên gia, tôi cũng hứng thú với nhiệm vụ đó. Cuối mỗi buổi giảng, thính giả sẽ mạnh dạn tiến về phía tôi và đặt câu hỏi. Sau một buổi giảng ở London, một bác sĩ pháp y nhi khoa trò chuyện với tôi về công việc của tôi. Một bác sĩ pháp y nhi khoa thường gặp các vụ án xâm hại trẻ em, cả mặt thể chất lẫn mặt tình dục, kỳ thực đó mới chính là lĩnh vực chuyên môn của họ, không phải về cái chết, mà về bảo vệ sự sống. Cô ấy hỏi tôi về vấn đề các vết bầm, chúng tôi đồng tình với nhau chúng tôi nên kết hợp các kiến thức của mình bằng cách viết một bài nghiên cứu học thuật về vấn đề này. Công việc của chúng tôi giao nhau ở một điểm gây tranh cãi, giữa nghiên cứu của tôi về nguyên nhân tử vong thật sự ở một đứa trẻ, và nghiên cứu của cô ấy về việc những anh em còn sống của đứa trẻ vừa qua đời có gặp nguy hiểm không. Chúng tôi gặp nhau vài lần để trao đổi về công trình nghiên cứu đó trong các chuyến đi tiếp theo của tôi vào đất liền.

Trên Đảo Man, ngôi nhà của chúng tôi ngày càng trở nên im ắng. Jen chăn lũ cừu, tôi vùi đầu vào việc nghiên cứu.

Một ngày nọ cô ấy nói: “Chúng ta thật sự phải thảo luận về cuộc hôn nhân này.”

Và tôi trả lời: “Cuộc hôn nhân nào? Nó hầu như đã không còn tồn tại nữa rồi.”

Mọi việc kết thúc như thế. Một đêm tháng hai. Không có một tiếng đổ vỡ, chỉ có tiếng thút thít. Rất ít đối thoại. Rất nhiều đớn đau. Sau ba mươi năm trời.

Chỉ thế thôi, ba mươi năm hôn nhân thật dài nhưng sự gãy đổ mới nhanh chóng làm sao. Có lẽ mọi thực thể đều có hạn sử dụng. Có lẽ sự lão hóa được lồng ghép vào mọi mối quan hệ cũng như cách nó được cài đặt vào cơ thể con người. Đối với tôi, dường như chẳng còn gì sót lại sau cuộc hôn nhân này nhưng không thể nói, không thể nghĩ đến nó mà không làm tấy lại nỗi đau và những cơn thịnh nộ. Vẫn còn một quá khứ, còn hai đứa con và căn nhà chung, dĩ nhiên tất cả sẽ phải được thảo luận, dĩ nhiên đa phần trong chua cay, dĩ nhiên với sự tổn thương cho cả hai phía. Nhưng ngoài những điều đó, chúng tôi hầu như chẳng còn chia sẻ được với nhau điều gì khác, đến nỗi tôi chắc chắn rằng khi tất cả những tiếng gào thét qua đi và cơn đau lắng dịu, ngày tháng tốt đẹp hơn sẽ chờ đợi hai chúng tôi.

Jen đệ đơn ly hôn tôi, toàn bộ quá trình được xử lý trong vòng một năm.

Vào thời điểm đó tôi không nghĩ mình sẽ phải lòng bác sĩ pháp y nhi khoa cùng nghiên cứu công trình với mình chứ đừng nói đến việc cô ấy sẽ trở thành vợ tương lai của tôi. Nhưng tôi không bao giờ có thể thuyết phục được Jen về sự vô can của mình trong việc này. Đúng là tôi đã dành thời gian ở bên cạnh một người phụ nữ sở hữu sự ấm áp hiếm gặp, lòng trắc ẩn cùng trí thông minh, nhưng tôi không nghĩ gì hơn vào lúc đó. Linda lại càng không. Cô ấy vốn là một góa phụ từ khi ba con gái còn rất nhỏ, và cô ấy vẫn đang trong một mối quan hệ hẹn hò vào thời điểm đó. Cả mối quan hệ đó lẫn cuộc hôn nhân của tôi đều chấm dứt trong lùm xùm và giận dữ.

Bất chấp sự cương quyết trong việc ly hôn, Jen đau khổ vô cùng. Chúng tôi chia tay gây nên những nỗi buồn lớn lao cho hai đứa con, mà tôi nghĩ chúng cũng có nghi ngờ sai lầm rằng tôi bỏ Jen vì Linda. Anna lúc này sắp trở thành bác sĩ, trong khoảng thời gian thấy mẹ mình quá đau buồn còn bản thân quá phẫn nộ, đã tuyên bố rằng sẽ không bao giờ trở thành bác sĩ pháp y như tôi.

Tôi mừng khi biết Jen cũng tìm được hạnh phúc bên người mới. Tháng 9 năm 2008 Linda và tôi kết hôn. Từ đó tôi có thêm một gia đình mới, tôi thấy mình có lại cuộc sống bận rộn với những đứa trẻ mới lớn, và có lại bố mẹ già. Nhưng bất kể gia đình mới có đầy yêu thương và đón chào thế nào, tình cảm giữa mỗi cá nhân, giữa hai gia đình vẫn phải được xây dựng chậm rãi, qua nhiều năm. Chúng tôi đã áp dụng các bài học mới mẻ và hy vọng kết quả sẽ là một gia đình mạnh mẽ, gắn kết trong yêu thương.

Từ thời gian đó, tôi sống và làm việc tại phía Bắc nước Anh với tư cách bác sĩ pháp y. Cuộc sống ở đây đủ đầy và phong phú: công việc đầy hào hứng, một mái ấm đầy yêu thương, những kỳ nghỉ thú vị, những chuyến thám hiểm đầy bất ngờ, một chiếc máy bay chung để di chuyển, năm đứa con của chúng tôi, và đối với riêng tôi, thêm hai đứa cháu.

Chris con trai tôi giờ đã là bác sĩ thú y chuyên về ngựa. Thằng bé sống ở nước ngoài, tôi hy vọng đó là nơi cả phong cảnh lẫn tầm nhìn đều rộng mở hơn. Dù sao thằng bé cũng đã thoát khỏi một nơi trả lương thấp và những buổi sáng xám mù mịt. Thằng bé cũng bắt chước tôi ở một điểm: bay lượn trên không trung.

Anna giờ là nhà tư vấn mô bệnh học, đúng vậy, con bé có niềm yêu thích mãnh liệt với những buổi khám nghiệm tử thi và y học pháp y, thậm chí còn làm việc cho những chuyên viên điều tra tôi từng là đồng nghiệp nhiều năm trước. Chúng tôi thường xuyên nói chuyện về các vụ án: tôi hỏi ý con bé về những phương pháp kiểm tra mới lạ, con bé hỏi ý tôi về các nguyên nhân tử vong. Con bé đổi họ sau khi kết hôn, vì thế không ai nhận ra những nối kết giữa họ bố và các thành tựu của con bé. Nhưng có lẽ không ai làm điều đó, vì từ đầu con bé đã chỉ là chính con bé mà thôi. Anna không bị giằng xé giữa quy tắc hành nghề đương thời và đam mê trở thành Keith Simpson. Không, thế giới của Anna rất phức tạp và trách nhiệm so với thế giới tôi biết khi bằng tuổi con bé bây giờ. Tôi nhìn thấy một thế giới không đa sắc bằng. Con bé thì khác. Nhưng con bé không bao giờ biết được những chân trời vô tận của Simpson.

Tôi luôn nói những điều tôi biết về cái chết đã giúp tôi trân quý những nhiệm màu của sự sống, tôi đắm chìm trong những khoảnh khắc ấy: một đứa trẻ được yêu thương vui đùa trên một thảm lá thu rơi, hay say mê lần đầu ngón tay theo những rãnh nhăn trên gương mặt của chính mình, lửa bập bùng khi những hạt mưa rơi xiên đập vào cửa sổ, chú chó nhỏ cuống quýt chạy lại mừng khi tôi về đến cửa nhà, một bàn tay dịu dàng đặt lên tay tôi. Tôi nào phải kẻ xa lạ với niềm vui trên đời. Tôi hiểu niềm vui chỉ có thể được những kẻ đã từng đi xuyên qua cơn bĩ cực nếm trải. Và bĩ cực là điều không thể tránh khỏi trong đời.

« Lùi
Tiến »