Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2233 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 34

Một buổi sáng nọ chuông điện thoại reo vang, một giọng nữ đầy giận dữ gần như hét lên: “Anh đọc cái quỷ đó chưa? Anh đọc chưa?”

Tôi lập tức nhận ra giọng Ellie. Cô ấy là bác sĩ pháp y nhi khoa tôi đã cộng tác trong vài vụ án. Và “cái quỷ” cô ấy đang nói đến? Chúng tôi đã cùng nhau khám nghiệm thi thể một em bé tên Noah 18 tháng trước và chỉ ra SIDS là nguyên nhân tử vong. Tôi biết có những diễn biến mới trong vụ này, đang nằm trong hòm thư của tôi chờ được mở.

Ellie vẫn không dừng lại.

“Sao chúng ta lại có thể bỏ sót những vết thương trên môi và những vết nứt ở xương sườn phía sau được? Sao thế được? Các vết thương trên môi đứa nhỏ có trong quá trình hồi sức, nếu không tôi sẽ là Naomi Campbell (*) ! Chúng ta đã cùng khám nghiệm và chẳng thấy bất cứ vết rạn sườn sau nào, chuyên viên X-quang cũng không thấy gì. Vậy thì tay bác sĩ này làm thế nào chỉ nhìn những bức ảnh mà có thể thấy các thương tổn do bị nghẹt thở và các vết rạn xương cũ? Nói tôi nghe xem Dick!”

Bố mẹ của Noah giờ đã sinh thêm con. Các dịch vụ xã hội hoàn toàn có cơ sở nghi ngờ ca SIDS trước đó nên để bảo vệ đứa bé mới sinh, họ tách nó khỏi bố mẹ. Họ tiến hành bằng cách tiếp cận tòa án gia đình. Gần đây, tòa đã yêu cầu bản sao báo cáo giám định pháp y Noah của chúng tôi, những ghi chép và các bức ảnh chụp buổi khám nghiệm. Tất cả giờ đây được một bác sĩ pháp y khác chuyên làm việc cho tòa kiểm tra lại. Tôi mở email. Đây rồi, các nhận xét của ông ta.

“Ellie, ông ta đâu có nói chúng ta bỏ sót...”

“Có đấy!”

“Để tôi xem mấy bức ảnh rồi sẽ gọi lại cho cô.”

Tôi thấy muốn bệnh. Có khi nào tôi đã khám nghiệm một đứa trẻ qua đời do bị ngược đãi và giết hại mà không nhận ra các bằng chứng? Sau đó kết luận nguyên nhân tử vong là SIDS, tha cho bố mẹ đứa trẻ, làm hại những đứa trẻ khác của gia đình đó trong tương lai? Các bằng chứng liệu có rõ ràng đến mức 18 tháng sau, một chuyên gia pháp y khác chỉ cần nhìn những bức ảnh cũng nhận ra?

Tôi bới hồ sơ cũ ra. Vụ của Noah đã qua khá lâu rồi. Tôi cố gắng nhớ lại ngày hôm đó.

Tôi được phía cảnh sát gọi đến nhà xác vì người mẹ phát hiện ra con mình chết sáng hôm đó. Ngồi cạnh hồ cá “nổi tiếng” trong nhà là Ellie. Cái chết gây nhiều hoài nghi của một đứa trẻ phải được hai bác sĩ bệnh học xem xét, một người pháp y, một người nhi khoa. Cộng tác với Ellie khá dễ chịu, cô ấy hóm hỉnh và thông thái, cô ấy thể hiện 100% chắc chắn về những kết luận của mình khiến tôi bí mật thấy thật ghen tị.

Giờ tôi lướt qua các ghi chú của mình. Người mẹ cho Noah bú một bình vào tám giờ tối hôm trước, vì đứa bé sổ mũi nên cô ta cho uống Paracetamol. Noah đi ngủ rồi thức dậy hai lần trong đêm. Lần đầu tiên khoảng hai giờ sáng, người bố dỗ bé ngủ lại. Lần thứ hai vào năm giờ sáng, người bố đã thức dậy vì phải đi làm ca sáng. Anh ta dỗ đứa bé lại giường rồi rời nhà lúc sáu giờ sáng mà không đánh thức vợ dậy. Vào lúc bảy giờ, cô ta phát hiện đứa bé đã chết. Cô ta vừa hét vừa chạy ra đường. Một người hàng xóm đã xem các kỹ thuật hồi sức từ show truyền hình EastEnders vội chạy vào, cố làm tỉnh đứa bé cho đến khi xe cứu thương tới. Không ai thành công.

Các bức ảnh chụp ngôi nhà cho thấy sự bừa bộn dễ thấy khi nhà có trẻ nhỏ. Hầu như không có bàn ghế vì đã bị các món đồ chơi công kềnh bằng nhựa bà ngoại đứa bé mua ở Argos chiếm dụng. Tủ lạnh hầu như trống trơn ngoài mấy bình sữa và hộp đồ ăn mang đi. Trên tầng, phòng ngủ gần như bị lấp đầy toàn giường và cũi, từng chồng quần áo trẻ con xếp trên sàn nhà trống.

Dễ thấy nhất là nhiệt độ căn nhà. Chúng tôi thấy ảnh chụp bảng nhiệt kế chỉ con số 30°C, nhiệt độ phòng ngủ ở mức cao nhất. Phía cảnh sát cũng nhận xét bên trong căn nhà rất nóng. Dĩ nhiên có một mối liên hệ giữa SIDS và những em bé bị quá nhiệt.

Một thời gian sau khi chúng tôi đã hoàn thành báo cáo giám định pháp y, vài tình tiết bất thường và sai sự thật mới xuất hiện. Những người hàng xóm Hồi giáo bị sốc khi phát hiện thùng rác nhà họ chất đầy vỏ chai rượu đã uống cạn và báo điều này với cảnh sát. Bố mẹ Noah sau đó đã thú nhận họ lén vứt vỏ chai rượu giữa đêm. Các kiểm tra độc học đã ngoại suy lượng cồn trong máu người bố ngược về thời điểm Noah thức giấc lần đầu tiên và phát hiện nó nằm ở mức 200mg/100ml máu, cao gấp 2,5 lần mức cồn tối đa cho phép khi lái xe. Những lần kiểm tra cũng cho thấy cả hai đều sử dụng cần sa.

Người bố đã có một tiền án gây tổn thương thể lý trầm trọng trái pháp luật sau một trận ẩu đả, nhưng không có tiền sử bạo hành gia đình. Đứa trẻ bị một chấn thương vai đã lành, nhưng chuyện này cũng có thể xảy ra trong quá trình sinh nở khó khăn của người mẹ. Phía cảnh sát nghi ngờ cặp đôi này nhưng không thể nói rõ vì sao, sau đó họ phát hiện căn nhà quá nóng vì trên tầng gác mái có một vườn cần sa nhỏ. Đội cứu thương cho biết đứa trẻ đã chết vài giờ trước khi họ có mặt chứ không phải chỉ một giờ như người mẹ khẳng định. Nhưng họ cũng không chắc chắn. Tất cả những dấu vết trên cơ thể Noah có thể được lý giải do kỹ thuật hồi sức không qua đào tạo của người hàng xóm, theo sau là những nỗ lực bất thành của nhóm cứu thương.

Ellie và tôi phải đồng ý về nguyên nhân tử vong. Với tư cách bác sĩ pháp y nhi khoa, cô ấy soạn báo cáo, còn tôi chỉnh sửa và ký.

Ellie rất chắc chắn với nội dung cô ấy viết trong báo cáo. “SIDS, Dick. Là SIDS.”

“Nhưng có quá nhiều chi tiết trong vụ này không bình thường lắm. Là tôi, tôi sẽ ghi không xác định.”

“Trời đất, việc của chúng ta ở đây có phải đánh giá họ trồng cần sa trên tầng áp mái hay uống tí rượu hay không đâu. Rõ ràng họ không phải cặp nghiện ngập gây rối. Người bố có một công việc ổn định. Đứa trẻ khỏe mạnh và được chăm sóc tốt, họ có mặt đúng hẹn mỗi kỳ thăm khám sức khỏe và tiêm vắc-xin. Gia đình lớn của họ, bà và chị cũng hỗ trợ nhiều. Cho nên, không, đừng để chữ ‘không xác định’ đó lởn vởn ám cặp đôi nghèo đang khổ sở tìm cách làm lại cuộc đời này.”

Thế là chúng tôi chọn ghi SIDS.

Để rồi giờ một chuyên gia pháp y khác nhìn lại các bức ảnh và quyết định nguyên nhân tử vong không phải như vậy.

Tôi phóng to các bức ảnh trên màn hình máy tính. Đây là môi của đứa trẻ. Nó đỏ hơn những gì tôi nhớ, các dấu vết để lại trên đó cũng dễ nhận diện hơn, nhưng tôi không thấy có dấu sưng hay vết bầm. Các dấu vết này xuất hiện trong quá trình hồi sức. Rồi tôi tìm những bức ảnh chụp liên tiếp phần khung xương sườn đứa bé. Tôi thấy các vệt trắng ở vài vùng, đó có thể là những vết thương cũ, nhưng cũng có thể là những điểm lóa do đèn flash máy ảnh.

Tôi gọi lại cho Ellie. “Môi đứa bé trông đỏ hơn và có nhiều dấu vết hơn so với tình trạng thật sự, tôi cũng thấy những vệt trắng ở mặt sau xương sườn.” Tôi có thể cảm thấy cô ấy sắp bùng nổ, tôi nói nhanh: “Chúng ta đều biết mọi chuyện không phải vậy. Nếu cô nhìn kỹ các bức ảnh, có thể thấy những phủ tạng khác có màu bất thường, trông như những bức ảnh đã bị lóa đèn flash. Là do chất lượng ảnh.

“Ai chụp vậy?” Cô ấy gào lên. “Ai chụp đống rác này vậy?”

Tôi nhớ có một nhân viên hiện trường hơi lóng ngóng với máy ảnh. Liệu đó có phải nhiệm vụ “chính thức” đầu tiên của anh ta không?

Anh ta đã vài lần phải hỏi ý kiến của tiền bối và khi đèn flash rời không hoạt động nữa, anh ta dùng đèn flash gắn sẵn trong máy ảnh.

Tôi lướt tiếp qua các bức ảnh còn lại, chất lượng ảnh tệ đến mức tã trắng quấn bé Noah ám màu xanh. Sao tôi không để ý chi tiết này sớm hơn nhỉ?

“Đừng lo, Ellie.” Tôi nói. “ Chắc đây chỉ là lỗi kỹ thuật với đèn flash rồi độ phân giải thấp họ dùng khi lưu trữ ảnh khiến mọi thứ trở nên tệ hơn.”

“Tôi không lo lắng” Cô ấy điềm nhiên trả lời. “Không. Tôi rất, rất giận. Tay chuyên gia pháp y đang chỉ trích anh và tôi không tự khám nghiệm tử thi. Và chắc chắn cũng không có mặt ở đó. Bác sĩ pháp y đại diện cho phía gia đình cũng đồng ý với chúng ta đúng không? Vậy sao tay này dám thách đố chúng ta khi mà...”

“Bởi vì, ờm... cô đã đọc hết hồ sơ chưa?”

“Chưa, tôi chưa đọc hết!”

“Bởi vì giờ người ta phát hiện ra đủ thứ chuyện về hai phụ huynh này. Những điều họ không biết trước đó, khiến họ hiểu về mọi thứ khác đi. Chúng ta cho rằng cặp đôi này trẻ người non dạ và đang cố gắng làm lại cuộc đời bằng cách trồng cỏ trên tầng áp mái... Nhưng hóa ra người bố đã từng có con với người khác, đâu đó ở phía Nam, khoảng bốn năm về trước. Đứa trẻ chết. SIDS là nguyên nhân tử vong.”

Những điều tôi vừa nói khiến Ellie im bặt hồi lâu.

Rồi tôi nói tiếp: “Người bố là một kẻ nghiện ma túy vẫn dùng thuốc cai nghiện gây tê cho đến mãi gần đây đấy. Tôi ước họ nói hết cho chúng ta biết những điều này từ đầu.”

“Ồ, anh tiếp đi chứ. Biến người đàn ông đang cố gắng hoàn lương này thành vật tế thần đi chứ. Anh ta có dùng chất cai nghiện khi đứa bé chết không?”

“Không.”

“Anh hiểu vấn đề rồi đó.”

“Khi anh ta gặp mẹ Noah, anh ta đã rất muốn sống cuộc đời lương thiện hơn. Đó là những gì tôi đọc được từ báo cáo thẩm vấn của cảnh sát.”

“Chính xác, nếu chúng ta lấy mọi đứa trẻ ra khỏi các đối tượng đã cai nghiện ma túy, tôi e nhiều vùng chẳng mấy chốc sẽ hết sạch trẻ em.”

“Nghe này Ellie. Chúng ta sẽ ra tòa, đưa ra chứng cứ, giải thích các bức ảnh đó bị lỗi và chúng ta chắc chắn đứa bé không có các vết rạn xương từ trước, giải thích rằng chuyên gia X-quang cũng đồng tình với việc này. Mọi vấn đề sẽ sáng tỏ.”

“Không đơn giản vậy đâu. Chúng ta đã đưa ra nguyên nhân tử vong là SIDS, bọn họ không muốn nghe điều đó. Tôi nghĩ họ chỉ muốn tước đứa bé mới sinh ra khỏi cặp vợ chồng. Không khó thấy họ tin Noah bị sát hại.”

“Tòa án được lập để tìm ra sự thật, không phải ngồi đó để nghe điều họ muốn nghe.”

Rồi tôi nghe những tiếng ồn lớn, xen giữa giọng cười và tiếng khịt mũi, sau đó cô ấy biến mất.

Phiên tòa thật sự không làm tôi lo lắng. Kỳ thực tôi thấy tò mò hơn. Các tòa án gia đình giữ lại những điều bí ẩn cho tôi cũng như cho mọi người quan tâm vì đến giờ, chỉ có bằng chứng của tôi được mang ra sử dụng. Những phiên tòa như thế thường xét xử các vụ có độ nhạy cảm và riêng tư cao tới mức không cho phép cánh báo giới và công chúng có mặt. Không ai được phép tham dự nếu không có lý do liên quan trực tiếp, kể cả họ hàng thân thiết với người đã khuất.

Ellie chờ tôi bên ngoài. Trông cô ấy rất lo lắng.

“Anh nên nhìn xem có bao nhiêu người trong đó đi.”

“Làm gì? Không ai được phép vào trừ luật sư và nhân chứng mà.”

“Có một tỉ luật sư ngồi sẵn trong đó. Bà mẹ có một luật sư phụ trách vụ án, một luật sư riêng và một luật sư thâm niên. Ông bố và đám chính quyền địa phương cũng có từng ấy người đi theo. Đứa bé mới sinh cũng thế! Chưa đầy ba tháng tuổi mà con bé đã có ba luật sư! Chưa gì đã có 12 người rồi, chưa kể các nhà chức trách. Dick, bên tòa hình sự cắt ngân sách pháp lý cho luật sư rồi, nên họ bâu qua tòa gia đình như kền kền vậy. Các vụ án kéo dài hàng tuần!”

Tôi nghĩ cô ấy nói quá rồi.

“Vậy chắc chỉ còn chỗ cho một thẩm phán hả?” Tôi nói. “Nghe chừng không còn đủ chỗ cho bồi thẩm đoàn quá.”

Nhưng vừa bước vào phòng xử án, tôi lập tức thấy trong đó quả nhiên chật kín luật sư chờ sẵn. Phiên tòa không có bị cáo, dĩ nhiên. Mục đích của thẩm phán là quyết định xem hai phụ huynh này có bị tước quyền nuôi con hay còn cách nào khác để bảo vệ đứa bé không. Có rất nhiều yếu tố để ông ấy xem xét sự việc nhưng câu hỏi liệu, theo cân bằng xác suất, một trong hai phụ huynh có giết chết bé Noah không là câu hỏi trọng tâm. Không xử án, chỉ có một nhiệm vụ phải giải quyết là tìm ra sự thật. Nhưng với một màn trình bày đầy tính đối kháng, phía luật sư đặt câu hỏi, biện cãi, kiểm tra chéo nhau để bảo vệ thân chủ của mình. Tôi chợt nhớ Aeschylus (*) từng nói, sự thật chính là thương vong đầu tiên trong các cuộc chiến.

Tôi được phép ngồi trong phòng xử án trong khi Ellie đưa ra lời khai, vì thế tôi có dịp quan sát hai phụ huynh này. Họ ngồi riêng, không nhìn nhau. Họ vừa có chung một đứa con mới sinh nhưng không có vẻ vẫn còn trong một mối quan hệ, tất nhiên, nhóm pháp lý của mỗi người chuẩn bị đấu tố nhau.

Người mẹ giận dữ. Một người phụ nữ thừa cân, hầu như không nhúc nhích nổi, gương mặt bạnh ra như bị sưng, cô ta tạo ra bầu không khí ồn ào quanh mình và trong cả phòng xử án. Người bố gầy nhẳng, khụt khịt mũi và bồn chồn như thể cuộc xét xử này đang cản trở anh ta làm việc gì quan trọng hơn. Nếu bọn họ đã giết Noah, chẳng có gì đáng tội nghiệp, nhưng nếu không phải vậy... họ chỉ giống hai con người không hạnh phúc, không được yêu thương đang chật vật học cách thương yêu đứa con của mình.

Trên bục nhân chứng, Ellie mất dần sự điềm tĩnh vốn có. Tôi ngồi quan sát với nỗi lo ngại càng lúc càng lớn khi hết luật sư này đến luật sư khác đặt dấu chấm hỏi về khả năng chuyên môn của Ellie qua việc cô ấy kết luận SIDS là nguyên nhân tử vong của Noah. Khi họ giáng xong búa tạ lên Ellie, tôi hiểu chuyện gì sắp xảy ra.

Gần như ngay sau khi tôi vừa tuyên thệ, luật sư đầu tiên bắt đầu chỉ ra Noah đã mặc một bộ áo liền quần màu xanh dương họa tiết con thỏ xanh lá – bực mình thay, Ellie đã viết ngược chi tiết màu sắc này trong bản báo cáo khám nghiệm và tôi không để ý con thỏ không phải màu xanh dương. Cô ấy cũng mắc một lỗi nhỏ khi viết ngược ngày và tháng, một lần nữa tôi cũng bỏ sót. Không phải những lỗi trầm trọng nhưng là màn lý sự cùn trước khi bước vào trận chiến lớn, cố tình đưa ra bắt lỗi khiến tôi mất tự tin. Và trận chiến lớn, dĩ nhiên là chi tiết vết thương trên môi đứa bé, những vết nứt cũ ở xương sườn phía sau.

“Bác sĩ Shepherd, ông có đồng ý những vết thương cũ đã lành từ các vết rạn xương sườn là minh chứng cho sự ngược đãi trong cuộc đời ngắn ngủi của đứa bé không?”

“Tôi đồng ý nếu thật sự có những vết rạn đã lành, ngược đãi có thể là một cách giải thích.”

“Ông có xem xét những vết rạn đó không?”

“Tất cả các xương sườn đều được khám nghiệm rất cẩn thận...”

Tôi chỉ ra việc các bức ảnh chất lượng không tốt, không phản ánh đúng những gì chúng tôi đã thấy. Nhưng điều này bị gạt phăng: “Tất cả chúng tôi đều thấy có những vết rạn ở xương sườn phía sau qua các bức ảnh, Bác sĩ Shepherd. Vậy tại sao ông lại không?”

Mọi thứ lặp lại y như vậy đối với vết thương trên môi đứa bé.

“Xin nhìn các bức ảnh mà nói chuyện, Bác sĩ Shepherd! Các vết thương đều hiện diện rất rõ!”

Tôi đã giải thích đó là do cách các bức ảnh được lưu trữ, gửi chuyển và in bằng một loại máy in chất lượng kém, không thể tin tưởng chủ quan vào chúng được. Nhưng rõ ràng những lời giải thích của tôi không đi đến đâu. Họ nhìn thấy những thứ họ nhìn thấy. Hoặc tôi là kẻ ngốc, hoặc người mù mới không thấy những điều đó. Dù sao tôi cũng đứng trước mặt họ như một kẻ cố tình làm mọi thứ rối tung lên để tránh né sự thật tôi – chúng tôi, và tôi, với bảy mươi năm kinh nghiệm của cả hai cộng lại, đã coi bằng chứng của đè ngạt thở là những vết thương do nỗ lực hồi sức.

Chuyện xảy ra sau đó là một buổi chiều căng thẳng tại tòa án mà tôi chưa từng trải qua trước đó, kể cả những vụ ở Tòa án Hình sự Trung ương. Theo một cách nào đó, phiên tòa diễn ra tệ hơn bao giờ hết. Thay vì một luật sư tấn công, rất nhiều đại diện các bên thay nhau công kích tôi từ những góc độ không ai giống ai. Tôi cố gắng giữ lập trường, nhìn nhận có khả năng chúng tôi đã sai sót, nhưng rất khó hai chuyên viên pháp y dày dạn kinh nghiệm cùng lúc bỏ sót những bằng chứng ngược đãi trẻ em quá rõ như thế.

“Ông có phải bác sĩ bệnh học chuyên khoa xương không, Bác si Shepherd?”

“Tôi không phải.”

“Nhưng ông lại lo ngại về những xương sườn của đứa bé, những vết rạn ở phía trước?”

“Lo ngại về những vết rạn xương vì chúng mở ra nhiều hướng diễn giải, và người hàng xóm chưa qua đào tạo thực hiện thô bạo quá trình hồi sức đứa bé đã...”

“Ông lo ngại, nhưng không đủ nhiều để chuyển kết quả tìm được cho một bác sĩ chuyên khoa xương?”

“Tôi không nghĩ ông ấy có thể làm sáng tỏ thêm điều gì từ những cái xương đó. Chúng tôi đã thấy cái xương nào bị gãy và chúng tôi biết...”

“Ông nghĩ hiểu biết của ông không thua gì chuyên gia, phải vậy không?”

“Chuyên viên X-quang nói không có vết rạn ở xương sườn phía sau. Xương sườn phía trước chúng tôi dễ dàng nhìn thấy. Tôi thấy chuyên gia xương cũng không phát hiện được thêm điều gì.”

“Không phải vậy hơi kiêu ngạo sao, Bác sĩ Shepherd?”

“Tôi không nghĩ mình là người kiêu ngạo. Tôi xin lỗi nếu tôi khiến ông có cảm giác như thế.”

Những dòng chữ của Alexander Pope chợt hiện lên trong đầu tôi như thể bố tôi vừa thêm chúng vào:

“Thừa nhận lỗi lầm trong quá khứ bằng niềm vui

Biến mỗi ngày thành lời phê bình sau cuối.”

“Ông có thừa nhận khả năng mình đã phạm phải sai lầm khi đưa ra nguyên nhân tử vong là SIDS không?”

“Quá trình đánh giá nguyên nhân tử vong trong các trường hợp như này thường rất khó khăn, các đường biên rất mơ hồ. Dựa trên các bằng chứng chúng tôi có được vào thời điểm báo cáo, SIDS có ưu thế. Nếu chúng tôi có đầy đủ thông tin về hoàn cảnh sống và cái chết của đứa bé, tôi tin chúng tôi đã đổi sang Không xác định.”

Ngạc nhiên nhất trong phiên tòa hôm đó chính là sự công kích không dừng lại ở mức độ chuyên môn mà chuyển sang công kích cá nhân. Ngạc nhiên thứ hai nằm ở bản đánh giá giấy trắng mực đen. Mất vài tuần thì nó được đưa ra. Trong đó dẫn chứng qua nhiều tuần xử án, nhiều nhân chứng đã đưa ra các ví dụ về việc bố mẹ Noah đã bỏ bê con mình như thế nào. Người mẹ hóa ra là một kẻ nghiện rượu, người bố thường sử dụng ma túy. Chị của người mẹ và một người dì đã hỗ trợ nuôi Noah, khiến những người xung quanh lầm tưởng người mẹ có khả năng tự nuôi dưỡng đứa trẻ. Theo thẩm phán, chính người thân chứ không phải bố mẹ Noah đã cố gắng cho đứa bé có được sự chăm sóc tốt nhất, cũng như đưa Noah đến các buổi hẹn tiêm vắc-xin.

Ông ấy cho rằng Noah đã bị ngược đãi và rất ngạc nhiên với sự khước từ sự thật, hoặc thiếu khả năng chuyên môn của hai bác sĩ pháp y kỳ cựu khi không thấy những điều ai cũng thấy qua các bức ảnh. Kỳ thực ông ấy đã viết các bác sĩ pháp y vẫn cho rằng SIDS là nguyên nhân tử vong. Ông ấy cũng không hề đề cập đến chất lượng các bức ảnh, hoặc sự thiếu sót thông tin về bố mẹ đứa bé mà chúng tôi lẽ ra phải được biết vào ngày khám nghiệm tử thi, hoặc việc không ai cập nhật cho chúng tôi biết khi có thêm thông tin về hai phụ huynh đó.

Rồi ông ấy tiếp tục dựa trên cán cân xác suất như một bài kiểm tra để đưa đến kết luận người bố đã giết Noah. Sau khi kiểm tra chéo, kết quả cho thấy đêm cuối cùng của đứa bé, người bố đã sử dụng ma tuý và một lượng lớn đồ uống có cồn, khi đứa bé khóc, người bố đã có phản ứng. Thẩm phán cho rằng có thể người bố đã ấn ngực, và có thể là cả mặt đứa bé, khiến đứa bé ngạt thở và bị gãy nhiều xương sườn. Có những bằng chứng trên xương sườn sau của đứa bé cho thấy những chuyện này đã từng xảy ra trước đây, ông ấy nói. Lần này, người mẹ yêu cầu người bố làm bất cứ việc gì để đứa bé ngưng khóc, mặc dù cô ta ý thức được chồng mình có dấu hiệu bạo hành với con, cô ta đã không làm gì để can ngăn. Vì lẽ đó, cặp đôi này không nên có quyền nuôi thêm đứa bé nào nữa. Đứa bé mới sinh cần được gia đình khác nhận nuôi.

Tôi không thể tưởng tượng nổi cảm giác của bố mẹ Noah khi nghe quyết định này. Nó nghiền nát tôi, tới nỗi tôi thấy hụt hơi. Không khó để nhận ra những lời lẽ nặng nề của thẩm phán về một chuyên viên pháp y của Bộ Nội vụ sẽ để lại những âm hưởng tồi tệ. Tôi đã gần sáu mươi tuổi, đã nỗ lực rất nhiều trong suốt thời gian qua để theo đuổi công lý bằng những hiểu biết y khoa của mình. Và rồi giờ đây dường như công lý đang bị tước đoạt khỏi tôi.

Đêm đó tôi không ngủ được. Thậm chí việc hít thở cũng trở nên khó khăn. Những lời nhận xét cay nghiệt ấy chắc chắn phải điều tra thêm và với tư cách chuyên gia pháp y của Bộ Nội vụ, tôi có nhiệm vụ giải trình với bộ. Liệu họ có điều tra tôi không? Chuyển trường hợp của tôi lên Hội đồng Y khoa Tổng hợp? Hội đồng có thể tước quyền hành nghề của một bác sĩ họ cho rằng có hành vi vi phạm nghiêm trọng.

Viễn cảnh bất công này khiến tôi ngồi bật dậy. Chỉ dựa vào những bức ảnh tệ hại mà tôi bị cáo buộc đưa ra nhận định thiếu suy xét. Những vết thương trên môi và tổn thương đã lành ở sau xương sườn có thể là bằng chứng cho sự ngược đãi trong quá khứ, nhưng ở đây không có vết thương nào trên môi và phần trước ngực mà không liên quan đến những nỗ lực hồi sức đứa bé. Phần xương sườn sau cũng không có dấu vết gì. Tôi chắc chắn về điều đó, Ellie cũng vậy, chuyên viên X-quang cũng thế. Chúng tôi đều đã viết trong bản báo cáo, mặc dù các vết thương ở phần xương sườn trước ngực có thể là kết quả của những nỗ lực hồi sức, nhưng không loại trừ khả năng là thương tích do cố ý. Dĩ nhiên chúng tôi đã quyết định SIDS là nguyên nhân tử vong.

Ai dám chắc tôi sẽ không bị Hội đồng Y khoa Tổng hợp gạch tên sau tất cả những chuyện này?

Cuối cùng giấc ngủ khó khăn cũng tới, tôi bị nhấn chìm trong những hình ảnh của phòng xử án và các em bé. Hôm sau những suy nghĩ vẫn vây bủa tôi. Không cần cố tình suy nghĩ về vụ án, các tình tiết vẫn hiện diện trong mọi hành động của tôi. Bụng dạ tôi ám đầy những nỗi sợ hãi. Đầu tôi vất vưởng tình trạng báo động. Ngồi bất động ở bàn làm việc chiều hôm đó với trạng thái lo âu không lý giải được, tôi mất khả năng chiến đấu. Tôi biết chuyện gì đang diễn ra. Những vấn đề này bắt đầu xuất hiện trở lại trong chuyến bay gần đây của tôi, ngang qua Hungerford. Rồi tái diễn sau đợt đánh bom ở Paris. Tôi học cách bấu chặt nắm tay bằng một lực sống còn mãnh liệt như thể cố lê thân tàn ra khỏi vực thẳm. Để rồi nó lại đang mở ra trước mắt tôi lúc này.

Tôi nhắm nghiền mắt. Nó chờ tôi đến. Thi thể chất cao thành đống, mùi hôi hăng phân rữa và cái nóng, những người trẻ đang nhảy nhót khi quả bom bất ngờ phát nổ, khi con tàu chìm, những thanh niên mất tay, xác những đứa trẻ trong quan tài bị quật mộ, những thi thể bé xíu làm chứng nhân bất lực cho sự phi nhân tính, những thi thể đã ra tro, những thi thể chết đuối, những thi thể không còn nguyên vẹn hình hài trên đường ray. Một hố sâu, sâu thẳm những nỗi đau khổ của con người.

Tôi ngước lên, chớp mắt. Tôi đưa mắt nhìn quanh văn phòng của mình. Máy tính, bàn, hình ảnh, hồ sơ, mấy chú chó. Tất cả đều bình thường. Lại là một trong những chuyến du hành ngắn đến địa ngục mà thôi, cũng đột ngột và gây sốc như một cơn động kinh.

Dù sao tôi cũng về thực tại rồi. Tôi đang chuẩn bị để tiếp tục công việc của mình: viết thư gửi Bộ Nội vụ báo cáo về những nhận xét của quan tòa về chính tôi sau vụ Noah.

Không phải đợi lâu, Bộ Nội vụ hồi đáp. Họ đã biết về vụ này một thời gian nhưng không thông báo cho tôi biết. Viên cảnh sát liên quan đến vụ này đã báo cáo lên họ, họ chuyển hồ sơ của tôi sang Hội đồng Y khoa Tổng hợp. Họ nói có thể tôi sẽ muốn thảo luận với luật sư của mình.

Chắc chắn tôi sẽ làm vậy. Cô ấy trấn an tôi nhưng tôi không thấy an tâm chút nào. Đêm đêm những giấc mơ chập chờn vây kín tôi, ban ngày ở văn phòng tôi chiến đấu với những cơn ác mộng.

Cuối cùng, một lá thư được gửi đến. Tay tôi run lẩy bẩy mở lá thư ra. Tôi chỉ muốn nó nói mọi cáo buộc đã bị bác bỏ, tất cả đã qua.

Lá thư nói tôi đang được Hội đồng Y khoa Tổng hợp điều tra. Khả năng chuyên môn của tôi bị đặt dấu chấm hỏi do nguyên nhân tử vong trong bản báo cáo khám nghiệm tử thi tôi ký tên.

Tất cả niềm vui vụt biến mất. Tất cả những sự kiện đã trải qua mà tôi không dám gọi là những cơn hoảng loạn? Vâng, giờ tôi phải thừa nhận đó là cái tên chính xác dành cho chúng.

Tôi đã dành cả sự nghiệp của mình để xem xét lại các ca, và giờ tôi trở thành một ca. Và giờ tôi bị xem xét lại. Hội đồng Y khoa Tổng hợp về thực chất là một tòa án tư, điều tra tối mật theo tiến độ riêng của họ. Họ không đưa ra thông tin gì về quãng thời gian xử lý các vấn đề, không giao tiếp gì hơn ngoài việc đưa ra yêu cầu - sau khi nhận được tôi phải hồi đáp lại trong thời gian cho phép rất ngắn.

Tôi biết Hội đồng Y khoa Tổng hợp đang bí mật liên hệ với các đồng nghiệp, chuyên gia hiện trường, cảnh sát hay bất cứ ai từng làm việc với tôi để hỏi ý kiến của họ về tôi và năng lực chuyên môn của tôi. Hội đồng không đề cập đến việc vụ của tôi có chuyển lên tòa không. Tôi sẽ được thông báo nếu điều đó xảy ra.

“Tòa” ở đây là Tòa Xét xử Y khoa, hoạt động độc lập với Hội đồng Y khoa Tổng hợp. Họ xem xét các bằng chứng, các bước kiểm tra và kiểm tra chéo của luật sư, rồi gửi trả nhận định liệu bác sĩ nào đó còn đủ khả năng hành nghề không. Thật sự, đây là một tòa án.

Tất cả xảy ra vì một bác sĩ pháp y làm việc cho tòa gia đình thấy tôi đã mắc sai phạm, tôi đã bỏ sót những vết thương rõ rành rành và đưa ra nguyên nhân tử vong của bé Noah mà ông ta cho là không chính xác. Bệnh học là sự kết hợp giữa sự kiện có thật, kinh nghiệm và đánh giá cá nhân. Nhưng tòa có thể sẽ không xét đến tất cả những điều này và kết luận dựa trên các cáo buộc về tôi, rằng tôi không đủ tín nhiệm để đưa ra nguyên nhân tử vong thật sự ở một đứa bé và gây nguy hiểm cho anh chị em còn sống của đứa bé. Họ có thể quyết định gạch tên tôi ra khỏi danh sách hành nghề.

Khi Hội đồng bắt đầu quá trình điều tra, tôi cũng bắt đầu trải qua những cơn hoảng loạn mỗi lúc một nhiều. Những đợt ngưng tim, những hình ảnh kinh khủng hoàn toàn choán hết tâm trí tôi.

Tôi cố thử nhìn nhận vấn đề từ góc trung lập như thường lệ. Xem nào, các đợt tấn công tinh thần này xuất hiện khi tôi đang bay ngang qua Hungerford. Chính xác vì sao nó diễn ra và vì sao nó kết thúc? Rõ ràng đợt điều tra của Hội đồng đã tạo đà cho chúng quay lại. Phải chăng những hoài nghi của công luận về người đàn ông được cho là không bao giờ mắc sai lầm là tôi đã mở ra cánh cửa đi vào vực thẳm của những nỗi sợ bị che giấu? Và những nỗi sợ đó giờ đây dần trở nên mất kiểm soát?

Tuyệt nhiên không có câu trả lời. Chỉ có những hình ảnh xâm chiếm tâm trí tôi vào những khoảnh khắc không ngờ tới nhất. Tất cả những gì tôi cần làm là thả vài viên đá vào ly nước cho Linda, tôi thấy mình trở lại Bali, nhìn chăm chú những thi thể trẻ măng đang thối rữa trong các túi xác chứa đá lạnh. Chưa cần bàn đến việc tôi không chạm vào đống hồ sơ ở văn phòng, vì trong đó chất đầy hình ảnh, và vì trong đầu tôi đã chứa quá nhiều hình ảnh, quá đủ. Một linh cảm sợ hãi khiến tôi bất động. Tôi chìm trong nỗi kinh hoàng chỉ có thể diễn tả bằng từ “ngập ngụa”. Mùi hương từ địa ngục chưa bao giờ từ bỏ tôi.

Mỗi lần chúng đánh úp tôi là một lần tôi mất ngủ, tước mất khỏi tôi những niềm vui, tra tấn tôi trong lo âu và nghi ngờ chính mình. Việc mất ngủ không lâu sau khiến tôi mất khả năng đọc, vì giờ tôi không còn khả năng quyết định mình sẽ cầm cuốn sách nào lên chứ đừng nói là mở nó ra. Chính xác tôi không còn khả năng quyết định bất cứ việc gì. Tôi có muốn uống một tách trà không? Tôi không biết. Tôi không biết có nên thức dậy mỗi buổi sáng không chứ đừng nói đến việc tự mặc quần áo. Tương lai: một thứ không tồn tại. Tất cả mọi thứ tôi nghĩ tôi từng biết đến hay yêu thương đột nhiên không còn chút ý nghĩa nào sót lại. Tôi dành phần lớn thời gian của một ngày cố gắng không chớp mắt vì tôi đã thấy những hình ảnh lởn vởn trước mắt, chực chờ đánh cắp tâm trí tôi, chực chờ vồ lấy tôi nếu chẳng may tôi nhắm mắt.

Một ngày hè nóng nực, đầu óc tôi bị các thi thể thối rữa rượt đuổi. Đây là những đoạn ruột. Kia là những lá gan lỗ chỗ. Những trái tim không còn đập. Những bàn tay ở đây. Bàn tay này đeo nhẫn cưới. Tôi phải nạy nó ra để đọc những dòng chữ khắc ở mặt trong, để biết ai là chủ nhân của nó. Tử khí khiến tôi muốn ngừng thở.

Tôi nghĩ, nếu chết được còn tốt hơn sống thế này.

Nhưng chết bằng cách nào?

Nhảy vào đường ray tàu hoả thì nhanh nhưng ích kỷ. Những người nhảy vào đoàn tàu luôn gây ra sang chấn cho lái tàu và để lại một đống lộn xộn sẽ ám ảnh người thân họ suốt quãng đời còn lại. Treo cổ có thể không thành, hoặc không chết quá nhanh. Tự sát bằng súng cũng được, nhưng mua súng ở đâu? Lái xe lao xuống vực có vẻ là lựa chọn ổn thoả, nhưng tôi phải tìm một vách núi xe có thể đến được, mà cũng không dễ khi giờ đến đi xe tôi còn gặp khó.

Tôi không biết phải nói gì hay làm gì, tất cả những gì tôi thấy là thế giới trong chính tâm trí mình, một nơi chẳng ai muốn tiếp tục sống. Những hành vi của tôi, dù là cái quái gì, cũng đáng báo động với Linda. Cô ấy đưa tôi đi cấp cứu mà không gặp phải bất cứ sự kháng cự nào, ở đó tôi được giao cho Khoa Tâm thần. Bác sĩ Shepherd tỉnh táo, biết điều, dày dạn kinh nghiệm ngày nào giờ ngồi đây run cầm cập khi bác sĩ tâm thần nhẹ nhàng xin ông kể lại những hình ảnh ông đã thấy. Tôi cố gắng diễn tả, nhưng không từ ngữ nào thoát ra khỏi miệng.

Bệnh tôi không khó để chẩn đoán. Tôi dám nói tất cả những ai đọc cuốn sách này đều nói được tôi mắc chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) (*) . Có vẻ chỉ mình tôi là người duy nhất không nhận ra điều này.

Chứng PTSD của tôi không do ca khám nghiệm cụ thể nào trong số 23000 ca khám nghiệm tôi từng thực hiện gây ra, cũng không do tất cả những ca đó gộp lại. Nó không vì một thảm họa cụ thể mà tôi tham gia giải quyết, cũng không vì tất cả những thảm họa đó gộp lại. Nó xuất phát từ quá trình làm nhân chứng cho sự vô nhân đạo của con người đối với đồng loại, một cách trọn vẹn và thay mặt tất cả mọi người: tòa án, thân nhân, công luận, xã hội.

Kết quả chẩn đoán? Mùa hè năm 2016 nghỉ ngơi hoàn toàn.

Hai phương thuốc chữa trị: trò chuyện, thuốc men.

Và cuốn sách này.

Tôi được sắp lịch để trở lại khám nghiệm tử thi vào mùa thu năm đó, nhưng tôi chẳng biết mình có làm việc lại được nữa không. Tôi không biết làm thế nào để một lần nữa cắt các động mạch thành từng phần nhỏ, hoặc nhấc bộ não ra khỏi hộp sọ, kiểm tra mặt trong của não người, đứng giữa nhà xác toàn người ra kẻ vào liên tục sau thảm họa với hàng dài thi thể chờ đợi tôi. Thêm nữa, thêm nữa và thêm nữa. Tương lai của tôi trong ngành pháp y là việc tôi không còn tưởng tượng nổi.

Rồi sau đó những thay đổi nhỏ bắt đầu. Tôi bắt đầu trò chuyện. Tôi nhớ lần Jen và tôi ngồi trong văn phòng tư vấn hôn nhân ở Clapham nhiều năm về trước, cách tâm trí tôi rong ruổi nhưng miệng tôi nín lặng trong phần lớn thời gian. Giờ đây trong căn phòng im ắng cùng chuyên viên tâm lý, tôi cho phép tâm trí mình lang thang, chỉ một chút thôi, rồi tôi kể với chuyên gia suy nghĩ của tôi đã đi đến đâu. Quả là trò chơi nguy hiểm khi để đầu óc mình đi lang thang, chỉ có Chúa mới biết nó sẽ đi đến tận đâu nếu tôi không kiểm soát được. Nhưng với sự đồng hành của chuyên gia tâm lý, mỗi tuần trôi qua tôi lại kiểm soát được cách cho những suy nghĩ thoát ra, dù rất chậm. Và tôi nhận thấy nhờ kể lại những chuyến du hành đến địa ngục của mình, chúng dần xuất hiện ít đi. Từ từ.

Một ngày nọ chỉ mới gần đây, tôi bắt đầu thấy khá hơn. Vẫn chưa có tin tức gì từ Hội đồng nhưng tôi không còn biết mùa hè đã biến mất từ khi nào, hay vì sao mùa thu đột ngột xuất hiện trước mắt mình, nhưng thật bất ngờ, những nỗi hoảng loạn của tôi biến mất nhanh chóng như lần hoảng loạn về Hungerford. Phiến đá tảng nghiến nát tôi đột nhiên mất đà. Cơn sợ hãi đè nặng tôi bấy lâu khiến tôi không đi đứng, suy nghĩ được đột nhiên bốc hơi, bay mất thật nhẹ nhàng như những đám mây phóng xạ.

Chúng được thay thế bằng điều gì đó mang hình thù của những niềm vui tôi từng nếm trải. Tôi hiểu chúng không kéo dài lâu, chúng chỉ là hương vị thoáng qua của sự bình thường, nhưng bình thường một chút cũng đủ rồi. Tôi muốn níu lấy khoảnh khắc này, bước vào một chiếc máy bay, bay lên không trung để cảm nhận sự hồi hộp của việc cất cánh bay, vượt lên trên những tầm thường và trần tục. Nhưng dĩ nhiên sau mùa hè bão bùng đó, tôi bị treo bằng tạm thời.

Tôi ùa vào phòng tìm Linda, cô ấy đang ngồi làm việc, hơi cau mày vì một ca ngược đãi trẻ em sắp phải ra tòa.

“Ra ngoài đi dạo nào!” Tôi hét lên, có vẻ hơi lớn tiếng. Cô ấy nhìn tôi lạ lùng nhưng ngay lập tức dừng công việc lại.

Chúng tôi đặt con chó già và con chó nhỏ vào trong xe, sao tôi thấy nắng mùa thu hôm nay rực rỡ hơn thường lệ. Sự tráng lệ của miền quê khiến tôi ngạc nhiên quá đỗi, như thể cả đời tôi chưa bước chân ra khỏi thị trấn. Khi chúng tôi đến một nơi không còn bóng người, những thảm lá vàng ruộm, trở mình loạt soạt khiến chúng trông như bóng đèn gắn trên sườn đồi. Con chó nhỏ chạy vòng quanh, sủa vang hào hứng, con chó già cũng chạy láo nháo theo. Thế giới thật đáng yêu, nó diện lên mình thứ thời trang huy hoàng như thể đang chuẩn bị cho một bữa tiệc. Cả mùa hè nó đã đẹp rạng rỡ như thế, và cả mùa hè tôi đã chối từ ngắm nhìn nó như thế.

Linda nói: “Trông anh...”

“Đỡ hơn hả?”

Cô ấy gật đầu, tôi nhìn gương mặt cô ấy không cử động, như thể tuân theo một quy luật bí ẩn nào đó, tôi thấy tất cả tế bào trên gương mặt cô ấy đang thay đổi vị trí. Cô ấy còn chẳng cần phải cười để trông thật hạnh phúc. PTSD quả là một bài kiểm tra khó khăn cho những ai phải nhìn thấy nó.

Tôi cố thu vào mọi vẻ đẹp của vùng đồi, những thảm lá, những chú chó, Linda và vẻ đẹp của thế giới này. Nốc ừng ực nó vào lòng như người ta ừng ực bia, trước khi bóng tối phủ lên tôi một lần nữa. Bởi vì tôi biết nó sẽ như vậy. “Khỏi bệnh”, không may thay, lại là từ không thuộc về thế giới PTSD. Tuy nhiên những khoảnh khắc nhìn ngắm thế giới không bệnh tật thường sẽ kéo dài hai hoặc ba tiếng đã đủ để tôi muốn có được nó nhiều hơn. Lần tiếp theo thường sẽ dài hơn. Cuối cùng sẽ kéo dài suốt một ngày. Dần dần thế giới của sắc màu và những vẻ đẹp thành hình quanh tôi lần nữa, như một miếng xếp hình.

Vẫn còn nhiều bước thoái bộ, dĩ nhiên. Nếu Linda pha một ly nước, cô ấy sẽ tự bỏ đá vào ly của mình. Bất cứ liên lạc nào của luật sư về vụ Hội đồng đang điều tra, dù để báo không có tin mới, đều khiến tôi bất động cả ngày, như thể nó đã dùng sức xô ngã tôi. Tại văn phòng, tôi biết có những hồ sơ tôi phải tránh đi vì nó có những bức ảnh tôi không thể nhìn. Thậm chí với cuốn sách này, tôi đã viết rồi lại bỏ, rồi viết lại suốt một, hai năm, vẫn có những chương tôi thà không nhắc đến vào thời điểm này. Nhưng mùa hè năm ấy đã nói với tôi, tôi muốn hoàn thành cuốn sách này. Tôi không muốn công việc cả cuộc đời của mình lại trở thành điều gì đó ma quái, kỳ dị trong mắt công chúng. Bởi vì, dám nói về những thứ một xã hội văn minh yêu cầu những người văn minh đứng ra làm sẽ khiến tất cả chúng ta trở nên lành mạnh hơn.

Thế rồi một ngày nọ điện thoại tôi reo vang. Là luật sư của tôi. Cô ấy chưa nhận được thư nhưng đã nghe thông tin nó đang trên đường được gửi đến. Vụ khởi tố tôi đột nhiên chấm dứt, không một lời giải thích, cũng như cách nó bắt đầu. Thậm chí còn chưa đến giai đoạn cần tới phòng xử án.

Tôi không thể gọi đây là chiến thắng. Tôi đã kinh qua một hành trình quá dài và đau đớn vì nó, nhưng một gánh nặng được dỡ bỏ. Thế giới thật sự trong trẻo hơn, sắc nét hơn như thể ai đó vừa chỉnh lại tiêu cự trong mắt tôi. Tôi không biết mình nên cảm thấy thế nào. Có điều tra từ Hội đồng hay không, vẫn còn một khe nứt tâm lý thăm thẳm trong tôi đã mở ra, tôi biết nó sẽ luôn ở đó.

Khi thông báo tin tốt lành đến với Linda, sự nhẹ nhõm và hạnh phúc trên gương mặt cô ấy phản chiếu vào gương mặt tôi, khiến tôi bắt đầu cảm thấy chút gì đó từ niềm vui của cô ấy và có lẽ của cả chính tôi. Bao nhiêu năm dấn thân phục vụ chẳng thể kết thúc vì một vài lời cáo buộc phi lý. Tôi vẫn có thể tiếp tục công việc, nếu tôi muốn.

Cảm giác trở lại làm việc thật đáng sợ. Tôi đồng ý lịch hẹn, nhưng đến gần ngày, tôi lại cảm thấy không thể làm được. Chuyên gia tâm lý đã nhắc tôi nhớ rằng mình đã học được cách làm chủ những ký ức xấu của mình. Cô ấy nói đúng. Tôi có thể lấy chúng ra ngoài, xem xét, rồi đặt chúng lại trong ngăn tủ khi tôi muốn. Chúng không biến mất. Nhưng chúng được quản chế. Tôi sẽ quay trở lại công việc.

Tôi bước vào nhà xác ngày đầu tiên sau khi trở lại, có một khoảnh khắc tôi ngửi được mùi của nơi này, khi cánh cửa đóng sầm lại sau lưng tôi, tôi như người mất đà.

Tôi đứng như chôn chân.

Tôi không thể tiến lên. Tôi không thể lùi lại. Thật không chịu nổi cảm giác phải bước vào trong đó, nhưng cũng chẳng thể tưởng tượng nổi nếu tôi bỏ chạy. Tôi bồn chồn, tâm trí tôi lại xao động. Vào đúng thời điểm đó, một viên cảnh sát tiến đến gần.

“Chào bác sĩ, thật tốt vì lại được gặp ông ở đây, ông sao rồi?”

Tôi không còn đường lui. Nhưng tôi cũng chẳng muốn tiến lên, chúng tôi có thể đứng nguyên đó nói chuyện. Tôi vẫn đứng như chôn chân.

Viên thanh tra là người tôi biết và thích làm việc cùng. Anh ta nói: “Hôm nay có ca này rất kỳ lạ cho ông đấy, thật háo hức muốn biết ông nghĩ gì về nó.”

Sao cơ, một ca kỳ lạ? Chắc chắn đó là những từ ngữ thúc tôi về phía trước. Năm phút sau tôi ngồi trên sô pha, một tay cầm ly trà bốc khói, một tay cầm bánh quy.

Viên thanh tra lướt qua ghi chép của mình.

“Người chết đang tuổi ngũ tuần, nghiện rượu nặng, nói thẳng ra tính tình khá khó chịu. Con rể mượn bà ta một số tiền rồi bỏ con gái bà ta và chưa trả lại số tiền đó. Vì vậy hôm đó bà ta mới đến nhà con rể để ba mặt một lời. Chửi bới loạn lên. Anh ta khai anh ta chỉ đẩy nhẹ, nhưng bà ta đã quá say và tự ngã. Bà ta nói bị anh ta xô. Dù sao đi nữa, bà ta cũng lăn kềnh ra đất.”

Tôi nghe chẳng thấy có gì kỳ lạ cả, mấy vụ kiểu này xảy ra trong thế giới của tôi suốt.

“Vậy anh ta có xô bà ta không?” Tôi hỏi.

“Chúng tôi cho là có. Mặc dù ban đầu cô bạn gái mới của anh ta nói anh ta không làm vậy, cô ta là nhân chứng duy nhất.”

Vẫn chưa có gì kỳ lạ.

Tai tôi có thể nghe thấy tiếng lách cách của cánh cửa tủ xác khi thi thể được di chuyển ra vào. Tôi nuốt nước bọt. Đó là tiếng động kích hoạt rất nhiều thảm họa, rất nhiều thi thể trong tâm tưởng. Tôi cố gắng tập trung vào viên thanh tra.

“Câu hỏi cho ông này, bác sĩ, nếu anh ta đã xô bà ta, đó có phải nguyên nhân khiến bà ta mất mạng không?”

“Vậy bao lâu sau cú ngã thì bà ta qua đời?”

“Nhiều ngày. Bà ta ngã ra đất và không thể tự đứng dậy. Anh ta gọi xe cứu thương. Ở bệnh viện, họ bảo bà ta bị nứt xương chậu nhưng họ không thể làm gì hơn, cứ uống thuốc giảm đau thôi, đó là cách chữa thông thường. Bà ta cứ thế tiếp tục quát tháo các nhân viên y tế ở Khoa Cấp cứu khiến họ chỉ muốn tống bà ta đi càng nhanh càng tốt.”

Liệu có khi nào điều đó biến ca này thành một trường hợp cẩu thả trong y tế không? Tôi uống một ngụm trà. Bắt đầu thú vị rồi đây.

“Rồi bà ta về ở cùng con gái, được chiều chuộng với đủ thứ cồn bà ta mê mẩn. Nhưng bà ta bị đau khá nhiều nên bia rượu hay thuốc giảm đau cũng chẳng giúp ích được mấy. Cuối cùng vài ngày sau, con gái bà ta gọi cấp cứu, lần này đến một bệnh viện khác. Họ cho biết không phải bà ta bị một mà đến năm vết nứt ở xương chậu, bà ta phải nhập viện. Nhưng bà ta như bị hụt hơi, bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình quyết định chuyển bà ta qua khu chăm sóc y tế vì bà ta bị cơn suyễn hành nặng nề.”

“Rồi các chuyên viên bên đó đồng ý? Sao ngốc vậy. Vậy thì bà ta là một bợm rượu hạng nặng bị suyễn với năm vết nứt trên xương chậu?”

“Tôi nghĩ bà ta còn bị động kinh nữa, kỳ thực là...” Viên thanh tra đẩy xấp hồ sơ bệnh án của bà ta về phía tôi, tiếp tục nói khi tôi lướt mắt qua những trang giấy: loãng xương, hen suyễn, nghiện rượu, động kinh...”

“Ồ, cả tiểu đường nữa.” Tôi nói.

“Người phụ nữ này đã bước một chân vào cửa tử rồi.” Một trong những viên cảnh sát lên tiếng. “Nghe bà ta như một cuốn từ điển y khoa vậy.”

Viên thanh tra rất nhạy bén: “Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc bà ta qua đời vì nguyên nhân tự nhiên.”

“Đúng thế.” Tôi đồng tình. “Vậy chuyện gì xảy ra tiếp theo?”

“Tại khu chăm sóc y tế, họ phát hiện bà ta ho rất nhiều nên cho у uống thuốc suyễn và nhiễm trùng lồng ngực. Bà ta cứ ho, rồi ho không dứt cho đến khi ngất xỉu. Khoảng năm ngày sau bà ta lại bị một trận ho khủng khiếp như thế. Thế rồi bà ta vật ra và qua đời.”

“Phía bệnh viện đã làm gì?”

“Hồi sức cấp cứu, đương nhiên. Họ nghĩ đó là chứng th… th...”

Tôi tiếp lời: “Thuyên tắc phổi? Nứt xương chậu và nằm bất động trên giường nhiều ngày liên tục, không ngạc nhiên khi họ chẩn đoán như thế.”

“Đúng nó đó. Rồi họ cố làm hồi tỉnh để... ờm...”

“Làm tan máu đông?”

Tôi tiếc khi phải nghe điều đó. Chắc chắn đó là việc đúng đắn phải làm, nhưng không cứu được bệnh nhân và chắc chắn cũng không giúp ích gì cho các chuyên gia pháp y. Nếu có một phần máu đông ở đâu đó mà tôi phải tìm kiếm, giờ nó cũng tan rồi.

“Trước đó chúng tôi chờ bà ta tỉnh lại để thảo luận về việc truy tố con rể bà ta với tội danh gây tổn thương thể lý. Chúng tôi gọi điện cho bệnh viện xem được phép trò chuyện với bà ta chưa thì y tá trả lời: ‘Ồ chúng tôi quên thông báo với các anh, bà ta chết rồi.’ Bất ngờ nó trở thành một vụ ngộ sát.”

Tôi uống cạn tách trà. Giờ, đây chính thức trở thành một vụ kỳ lạ. Tôi vừa được nghe đến năm nguyên nhân tử vong đều có thể là sự thật, và cũng có thể là nguyên nhân thứ sáu, thứ bảy hay một thứ gì đó hoàn toàn khác. Chỉ có thi thể của bà ta mới nói được cho chúng tôi biết vì sao bà ta chết, thi thể đó đang chờ chúng tôi. Tôi đứng dậy. Tôi tò mò muốn biết về sự bí ẩn này.

“Được rồi. Đi xem thi thể bà ta muốn nói gì nào.”

Trên đường đến phòng khám nghiệm, tôi nói với viên thanh tra: “Đây là chuyên môn của các anh, không phải của tôi, nhưng các anh không có nhiều bằng chứng về việc con rể xô bà ta ngã. Nếu bà ta say xỉn, có khả năng bà ta tự ngã và bị thương trước khi sang nhà anh ta.”

“Thật sự thì bây giờ chúng ta có cô bạn gái của anh ta. Họ chia tay nhau rồi, giờ thì cô ta đổi lời khai, bảo rằng cô ta trông thấy anh ta đẩy mạnh khiến bà ta bị ngã.”

Hừm. Chẳng có bồi thẩm đoàn nào muốn nghe một nhân chứng đổi lời khai 180 độ như vậy cả.

“Chúng tôi cũng đã trích xuất camera an ninh của người đã khuất, khoảng năm phút trước khi bà ta đến nhà con rể, bà ta đi đứng bình thường. Vậy nên để khởi tố chúng tôi cần kết quả giám định pháp y của ông, bác sĩ ạ.”

Tôi sẽ tìm các chứng cứ đó nhưng với ý thức sẽ có một bản án ngộ sát và nhiều năm tù treo lơ lửng trên đầu bị cáo. Tôi phải hoàn toàn chắc chắn về các chứng cứ của mình trước khi đưa ra lời khai cho phía cảnh sát.

Người phụ nữ 56 tuổi nhưng nhìn như 96 tuổi.

“Anh chắc chắn về tuổi của bà ta chứ?” Tôi hỏi.

Họ gật đầu.

Tôi kiểm tra bên ngoài thi thể đang trương phình. Đầy những vết trầy trụa và sẹo, rất thường gặp ở những người nghiện rượu. Mỗi vết trầy đều được đo và ghi chép lại. Tôi cũng có những ghi chép riêng, nhiếp ảnh gia pháp y cũng không ngơi nghỉ giống tôi.

“Anh chỉnh chất lượng ảnh chụp như thế nào?” Tôi hỏi.

Anh ta nhìn tôi đầy ngạc nhiên.

“Độ phân giải thấp nhất, bác sĩ.”

Ngạc nhiên chưa!

“Tại sao lại là chế độ thấp nhất, anh phải muốn chất lượng tốt nhất chứ?”

“Đúng vậy, nhưng hệ thống máy tính của cảnh sát không thể xử lý dung lượng ảnh quá lớn, vì vậy chúng tôi đều phải dùng độ phân giải thấp.”

Không có lời giải thích nào cho sự chấp nhận tính thiếu chính xác này, tôi cũng không nghe thấy chút gì bất bình trong giọng nói của anh ta. Từ cách hiểu của anh ta về hệ thống máy tính của cảnh sát, kết luận đó hoàn toàn đúng đắn và đơn giản. Đối với anh ta, việc những bức ảnh anh ta chụp sẽ được dùng để kết án hàng trăm con người không hề mang ý nghĩa quan trọng gì, vậy mà nó suýt đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp của tôi. Tôi chỉ biết thở dài. Tôi làm gì khác được đây?

Rồi cũng đến thời khắc tôi rạch vết đầu tiên. Tôi đứng bên phải bệnh nhân, chiếc PM40 trong lòng bàn tay. Tôi có cảm giác lần cuối cùng tôi đứng cạnh một tử thi đã là quá khứ rất xa xưa rồi. Tôi có thật sự muốn làm việc này không? Lại chất chồng thêm những ký ức tồi tệ vào cuốn sổ nháp trong đầu tôi, thứ có thể tự lật mở bất cứ lúc nào không báo trước.

Tôi chậm rãi phơi trần thi thể trước mặt mọi người ở đó với một nhát rạch độc nhất vô nhị. Độc nhất vô nhị vì tôi là người phát minh ra nó. Nhát rạch Shepherd. Thay vì rạch các thớ cơ dọc theo đường giữa thân trên, tôi cắt dọc theo đáy xương sườn, xuống bụng, rồi gấp dọc phần cơ của vách bụng, tương tự mở nắp hộp từ bên hông. Gọn gàng, hiệu quả. Ở đây tôi tìm thấy vùng chậu bị nứt, máu rất nhiều ở cơ và mô.

“Trông hứa hẹn đấy!” Viên thanh tra nói.

“Bà ta chắc chắn đã bị xuất huyết.” Tôi đồng ý, thu thập chỗ máu đó và tiếp tục nhìn phần phủ tạng đang phô ra ở ngực và ổ bụng. “Nhưng nhìn không có vẻ nó xuất hiện mới đây.”

Khi tôi nhìn chăm chú, nhấc và chọc ngón tay vào phủ tạng, quãng đời bà ta đã đi qua trải ra trước mắt tôi.

“Đó là gan của bà ta phải không?” Một viên cảnh sát hỏi, tay chỉ một bộ phận nhỏ màu xám nằm ở phần bụng. Đến một tay ngang cũng thấy được đây không phải bộ phận nội tạng khỏe mạnh suốt một thời gian dài. “Nhìn như một con vẹt chết nhỉ.”

“Ông không cần ngâm để bảo quản nó nữa đâu bác sĩ à, bà ta đã ngâm giúp ông rồi.” Một người khác tiếp lời.

Viên thanh tra lắc đầu. “Bác sĩ, làm ơn đừng nói với tôi lá gan này đã giết chết bà ta.”

Tôi trả lời: “Tôi đồng ý nhìn nó rất tệ, nhưng tôi biết nguyên nhân chính xác sau khi kiểm tra dưới kính hiển vi... Phổi bà ta trông cũng không khá hơn là mấy, trông giống khí phế thũng lắm.”

Bà ta hẳn đã sống cả đời cạnh quốc lộ, hoặc đã làm việc trong một nhà xưởng dơ bẩn, hoặc đã hút thuốc như ống khói. Hai lá phổi của bà ta tối màu, nhiều vùng còn đen kịt và thủng lỗ chỗ.

“Tôi cũng không muốn nghe rằng chứng suyễn đã giết bà ta đâu.” Viên thanh tra trầm giọng xuống. “Nếu ông nói bà ta còn có cả vấn đề về tim mạch, tôi sẽ khóc đấy.”

“Có thể. Tôi phải lấy tim bà ta ra ngoài xem xét cẩn thận.”

“Bác sĩ, đừng đưa cho tôi những nguyên nhân tự nhiên. Tôi thật sự phải tóm tên này. Bà ta tuy chỉ mới 56 tuổi nhưng trông vừa già vừa yếu, tên kia to xác, đẩy ngã bà ta làm vỡ xương chậu với năm vết nứt, rồi bà ta qua đời. Anh ta không thoát tội đơn giản thế được.”

Tôi nói: “Gia đình bà ta có khả năng sẽ kiện bệnh viện đầu tiên vì đã cho bà ta xuất viện với Paracetamol dù bà ta bị năm vết rạn xương chậu. Tất nhiên trừ phi bà ta ngã ở nhà con gái và bị bốn vết nứt còn lại.”

“Con gái bà ta không nói gì, nhưng chúng ta sẽ xem xét phim X-quang của bệnh viện đầu tiên.” Tôi vừa trả lời viên thanh tra vừa ghi chú. “Tôi không hào hứng với các đơn kiện bệnh viện đâu, ban đầu bà ta bị nứt xương chậu vì bị xô ngã.”

“Sao người ta có thể mất mạng chỉ vì nứt xương chậu nhỉ?” Một viên cảnh sát khác hỏi.

“Một nguyên nhân gián tiếp gây ra tử vong do nứt xương chậu có thể liên quan tới thuyên tắc phổi đấy, bà ta đã nằm một chỗ nhiều ngày trời, đồng nghĩa đã có máu đông ở chân, di chuyển dần lên trên qua các mạch máu, đến hai lá phổi. Không may bệnh viện đã cho bà ta uống thuốc tan máu đông trong quá trình hồi tỉnh nên tôi sẽ khó tìm dấu vết – nếu nó từng ở đó.”

“Chúa lòng lành” Viên thanh tra nói. “Chúng tôi cần chứng cứ.”

“Ừm... một nguyên nhân tử vong thường gặp khác sau khi bị rạn xương là một loại tắc nghẽn khác gọi là thuyên tắc mỡ. Chúng ta không biết rõ vì sao nó xảy ra. Có thể do mỡ từ tủy ở vùng bị nứt di chuyển lên trên qua các mạch máu bị thương tổn rồi di chuyển vào phổi. Khi đến đó, nó có thể di chuyển qua phổi, tim, thận và cả não... thường gây chết người đấy. Kỳ lạ là thường mất một tuần từ khi nạn nhân bị chấn thương cho đến lúc tử vong.”

“A!” Gương mặt viên thanh tra sáng rỡ. “Thế khi nào ông mới biết được bà ta có thật sự bị vậy không?”

“Bà ta có thể bị như vậy, nhưng chỉ ở một mức độ nào đó. Nhiều người cũng gặp trường hợp này sau khi bị rạn xương chậu nhưng vấn đề là bị nặng đến mức nào... Tôi cần biết mức độ thuyên tắc mỡ của bà ta và liệu đó có phải con số gây tử vong không trước khi tôi có thể tuyên bố đó là nguyên nhân.”

“Vậy khi nào ông có thể biết điều đó, bác sĩ?”

“Khoảng một tuần, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ cần kết quả xét nghiệm độc học nữa.”

Viên thanh tra nhìn tôi rồi nói: “Đã bảo với ông đây là một ca kỳ lạ mà.”

Tôi nhoẻn cười: “Tôi đồng ý. Lạ lùng thật đấy.”

Tôi nghĩ rất nhiều về ca này, nhưng không phải trong hôm sau, vì tôi vừa có lại bằng phi công, tôi đi bay. Chỉ một mình, khi không bị giăng mắc bởi bất cứ điều gì ở giữa không trung, khi dưới chân tôi là khung cảnh đồng quê tuyệt mỹ của nước Anh và trải dài trước mắt tôi là sắc xanh thâm trầm của đại dương. Chiếc máy bay chao liệng, tôi chao liệng. Tâm trí tôi cũng rộng mở, thoáng đãng như bầu trời trải dài trên mặt biển kia.

Khoảng một tuần sau tôi gặp lại viên thanh tra đó tại buổi khám nghiệm tử thi khác. Một vụ kỳ lạ khác.

Một người đàn ông ra khỏi quán bia, sau đó người ta tìm thấy xác anh ta dưới sông. Gia đình nhất mực cho rằng anh ta bị ai đó đánh gục và đẩy xuống sông rồi chết.

“Ờm...” Viên thanh tra nói chuyện với trong lúc đứng phía bên kia thi thể. “Có tin vui gì về nguyên nhân tử vong của người phụ nữ bị đẩy ngã chưa?”

Tôi lướt mắt nhìn thi thể người đàn ông trước mặt. Tôi có một giả thuyết trong đầu.

“Tôi đang rất đau đầu về chuyện đó. Người phụ nữ đó là một ca rắc rối. Tôi đã kiểm tra vài chỗ thuyên tắc mỡ ở phổi và não bà ta nhưng theo kết quả nghiên cứu, không hoàn toàn có thể chứng minh chúng nguy hiểm đến tính mạng.”

Anh ta rên rỉ.

“Vậy nên tôi sẽ đưa ra nguyên nhân tử vong là xương chậu nứt, gây xuất huyết và thuyên tắc mỡ. Ở phần tiếp theo, tôi sẽ thêm vào những bệnh nền, ví dụ như xơ gan, tiểu đường...”

Viên thanh tra nhìn tôi trừng trừng.

“Vậy là do những vết rạn xương rồi!”

“Nhiệm vụ của tôi là đưa ra nguyên nhân tử vong theo ý kiến của tôi. Những người khác có thể bất đồng quan điểm, cuối cùng vẫn do Ủy ban Công tố quyết định có muốn truy tố hay không. Tôi nghĩ họ nên làm vậy. Nhưng anh cũng biết ủy ban bây giờ...” Tôi chùng xuống. “Rồi còn tùy vào bồi thẩm đoàn sẽ quyết định các chứng cứ có được xem như ‘không còn nghi ngờ gì nữa’ hay không.”

“Họ sẽ không thể quyết định nếu tên đó không bị khởi tố. Cảm ơn bác sĩ. Tôi sẽ ra lệnh bắt tên đó với tội danh ngộ sát.”

“Ủy ban sẽ chỉ cho phép anh làm vậy khi họ biết họ sẽ thắng vụ kiện. Giờ thì họ chưa chắc.”

“Điều gì ngăn cản họ?”

“Họ muốn tôi nhấn mạnh thêm những bằng chứng về xương chậu bị nứt.”

Anh ta tiếp tục nhìn tôi trừng trừng.

“Vậy bác sĩ có làm được không?”

Tôi trừng trừng nhìn lại anh ta từ phía bên kia thi thể nằm trên bàn.

“Tôi đã chạm đến giới hạn xa nhất mà lương tâm tôi cho phép”

“Nhưng…”

“Nguyên nhân tử vong tôi đưa ra đã nói lên tất cả. Bà ta chết vì những chuyển biến phức tạp từ phần xương chậu nứt, nhưng dù sao bà ta cũng đã là một phụ nữ ốm yếu đầy bệnh mạn tính. Các anh cũng đối xử với nạn nhân theo đúng tình trạng các anh tìm thấy họ, đúng không? Nếu chỉ vì vài tay cấp dưới ở Ủy ban không hiểu những gì tôi viết trong tờ khai – mà tôi nghĩ thật sự họ không hiểu đâu, rồi lại từ chối thẳng thừng đề nghị của tôi để bàn luận về kết quả tôi tìm được, tôi có thể làm gì nữa đây?”

“Bác sĩ.”

“Tôi đã cư xử công bằng. Công việc của tôi là vậy, tìm ra sự công bằng.”

Cho đến lúc này, tôi hiểu một thanh tra có thể phát rồ với bác sĩ pháp y, nên tôi tập trung vào thi thể trước mặt. Tôi đoán đây sẽ là một trong những ca điển hình tử vong do tiểu tiện. Ai cũng biết những người say rượu có thể mất thăng bằng và đứng không vững. Trong hoàn cảnh bình thường, không thành vấn đề, dù việc này khiến nhà vệ sinh trở nên nhếch nhác. Nhưng lảo đảo có thể trở thành vấn đề lớn nếu những người say xỉn dừng lại giữa đường để “trút bầu tâm sự” bên bờ sông hoặc bờ hồ. Nếu họ lảo đảo nhiều, một sự kết hợp chết người xảy ra, vừa say xỉn vừa bị ngâm mình trong nước lạnh.

Tôi khám nghiệm thi thể người đàn ông rất cẩn thận để xem xét có những dấu vết mà gia đình họ vin vào rằng đây là một vụ giết người hay không. Vài vết bầm nhẹ, vài vết rách da, nhìn như những vết thương khi nạn nhân ở trong lòng nước. Và kết quả quan trọng nhất là nút quần mở, bộ phận sinh dục phô ra bên ngoài. Tôi gần như chắc chắn tôi sẽ thấy một bàng quang đầy nước khi khám nghiệm phần xương chậu của anh ta. Xuất hiện rất nhiều bọt trắng ở miệng và mũi nạn nhân, dấu hiệu điển hình của việc đuối nước. Vậy là anh ta vẫn còn sống khi rơi xuống nước và...

Tôi tập trung đến nỗi gần như quên bẵng sự có mặt của viên thanh tra đang giận dữ.

“Bác sĩ...?”

Tôi ngước lên, chớp mắt.

“Tôi thật sự ngưỡng mộ ông.”

Tôi chớp mắt mạnh hơn. Chưa có một cảnh sát nào nói với tôi như vậy. Chưa hề.

“Ông đã làm một công việc suốt bao năm, việc mà đa số mọi người còn chẳng buồn nghĩ đến. Nhưng ông vẫn say mê nó. Tôi có thể thấy điều đó khi nhìn cách ông làm việc. Đây là mấy tên ngốc tự ngã chết khi đang đi tiểu. Kia là người đàn bà nghiện rượu hết hy vọng cảm hóa và dù sao cũng ở trước ngưỡng cửa tử thần rồi. Vậy mà ông vẫn rất tận tâm. Dù có chuyện gì xảy ra, ông vẫn muốn có được sự công bằng.”

Sau lưng chúng tôi, nhà xác vang rền những tiếng bánh xe đẩy thi thể tới lui. Gần đó, trong căn phòng sơn màu phấn nhạt là một người nhà nạn nhân đang than khóc rất to. Xung quanh chúng tôi là nhóm cảnh sát chờ đợi, chăm chú nhìn theo con dao mổ trên tay tôi. Tôi nhìn thi thể nằm trước mặt mình. Thừa cân, hói, da ngón tay nhàu nhĩ và trắng ởn đã bắt đầu bong tróc. Một vài dấu hiệu của sự phân hủy, thật nhiều dấu hiệu của vận xui. Đồng loại của tôi.

Tôi cố trả lời những câu chữ của viên thanh tra bằng vài câu nhẹ nhàng, nói để rồi quên, kiểu như vâng tôi vẫn thích được giải những câu đố của cuộc đời sau bốn mươi năm. Nhưng sao tôi chẳng thể nói được. Vì tôi biết anh ta đã nói đúng. Tôi đã tận lực, đến bây giờ vẫn vậy.

« Lùi
Tiến »