Từ thuở thơ ấu, tôi đã có “duyên” với cái chết, lúc gần lúc xa. Tôi lớn lên ở một ngôi nhà ấm cúng gần London. Bố tôi là viên chức kế toán, di cư từ phía Bắc nước Anh xuống miền Nam để lập nghiệp cùng mẹ tôi. Cũng chẳng có thành tích gì quá ghê gớm nhưng gia đình chúng tôi sống thoải mái với cái mác “trung lưu”, nếu mọi người muốn gọi ngắn gọn. Tôi có một người chị hơn tôi mười tuổi và một người anh hơn tôi năm tuổi. Tôi là đứa út ít của gia đình và chúng tôi chỉ khác người ở một điểm duy nhất: mẹ chúng tôi bị bệnh tim, đồng nghĩa với việc mẹ cứ hao gầy dần đi.
Mẹ tôi trải qua một trận sốt thấp khớp khi còn bé, một trong những hệ lụy từ trận sốt ấy khiến van tim mẹ không ngừng gặp tổn thương nặng nề. Giờ thì tôi đã hiểu điều đó. Ngày xưa thì không, tất cả những gì tôi biết là mẹ cứ hay bị hụt hơi dù chỉ vận động một chút và phải ngồi thụp xuống, không giống những bà mẹ khác.
Helen, chị cả của tôi vẫn cam đoan với tôi rằng thời trẻ mẹ từng là một thiếu nữ năng động, vui vẻ, thường ngoan cố lôi bằng được cái gã cứng ngắc và e dè là bố tôi lên sàn nhảy bất cứ khi nào có thể. Cũng người thiếu nữ ấy đã nhấn bố tôi lên chiếc xe đạp đôi thiết kế đặc biệt, du lịch vòng quanh Châu Âu ngay trước khi thế chiến bùng nổ. Một thiếu nữ luôn là tâm điểm của mọi bữa tiệc.
Tôi vẫn thường thích thú ngồi trong phòng khách lắng nghe những câu chuyện chị Helen kể về mẹ khi còn trẻ. Các bức vách thời đó vẫn còn mỏng manh nhưng được cái thảm trải sàn ấm áp bù lại. Nơi góc nhà là tivi đen trắng, loại tivi mà sau khi tắt vẫn còn chấm trắng lì lợm án ngữ giữa màn hình, án ngữ như thôi miên suốt vài phút trong bóng tối. Có một cái vô tuyến điện báo (loại kết hợp giữa máy hát đĩa và vô tuyến) phủ tấm khăn siêu mỏng phát ra tiếng nhạc cổ điển nhè nhẹ, loại nhạc được tầng lớp trung lưu ưa chuộng nghe suốt. Lò sưởi điện hắt ra tia sáng ấm áp, mà có lẽ nhiều tia sáng hơn là sự ấm áp. Chiếc ghế bành bị ngồi đến nát cả vải nhưng được “bao che” bởi áo ghế. Ngồi cuộn trong phòng khách ầm ĩ nhưng ấm áp đó nghe kể những câu chuyện về mẹ là việc tôi ưa thích, dù người mẹ trong câu chuyện chẳng có vẻ gì giống người mẹ chúng tôi thường bắt gặp vùi mình trong chăn trên lầu, hay trong bệnh viện.
Quá trình nhập viện của mẹ vừa dài vừa thường xuyên, hoặc ít ra đối với một thằng bé con, tôi nghĩ vậy. Tôi thường được đến “nghỉ dưỡng” bên bờ biển cùng bà ngoại ở Lytham St Annes (*) , hoặc đến nhà dì ở Stockport (*) . Chẳng mấy chốc tôi phát hiện ra mục đích không phải để tôi được rong chơi nhiều hơn, mà để mẹ có thêm thời gian phẫu thuật và hồi sức.
Ở nhà cùng tôi, mẹ luôn gắng hết sức để được “bình thường”. Sáng nào mẹ cũng dậy chuẩn bị đồ cho tôi đến trường bằng tất cả sự trìu mến (thời đó trẻ con vẫn tự đi bộ đến trường). Đến một ngày nọ, tôi để quên đàn violin của mình ở nhà, khi bất ngờ quay về, tôi thấy mẹ nằm bất động trên giường. Tôi nhận ra sáng nào mẹ cũng bị thế nhưng cố chịu đựng cho tới khi tôi ra khỏi nhà. Tôi chỉ không chắc giữa mẹ và tôi, ai bị sốc hơn khi đối mặt nhau như vậy. Tôi quá sợ, đến nỗi tôi còn mắng mẹ. Tôi chỉ muốn mẹ khỏe lại và trở thành người phụ nữ ngày xưa, người mà tất cả mọi người còn nhớ rõ. Nhưng tôi có thể thấy rõ năng lượng của mẹ dần biến mất ngay trước mắt tôi.
Một ngày tháng mười hai, tôi đi học về và thấy mẹ đã không còn ở nhà nữa. Mẹ đã được chuyển đến bệnh viện, giờ tôi biết đó là Bệnh viện Hoàng gia Brompton. Lại cần thêm xét nghiệm và hồi sức. Mẹ tôi lúc đó bốn mươi bảy tuổi.
Tôi được dắt đến thăm mẹ vào Giáng sinh năm đó. Ký ức về chuyến thăm đó vỡ nhòe dưới sức nặng của vô vàn ký ức, trong khung cảnh vô số bệnh viện đã hiện diện suốt quá trình làm việc của tôi. Tôi có thể đào bới lại từng địa tầng ký ức cho tới lúc chạm tay vào Giáng sinh năm 1961, nhưng tất cả những gì tôi có thể tìm thấy lại vỡ vụn thành nhiều mảnh nhỏ khi tôi cố nhìn chúng. Tôi chỉ có thể thấy chúng qua những cái nhìn lướt thật nhanh.
Tôi ý thức được những đứa bé chín tuổi thường không được chào đón tại các biệt khu trong bệnh viện. Tôi được dặn dò phải biết nghe lời. Khi đã thấm nhuần lời dặn, tôi được dắt đi dọc theo những hành lang vừa cao vừa ngoằn ngoèo, mỗi bên là những căn phòng khổng lồ. Mùi thuốc khử trùng. Xuyên qua những khung cửa sổ xa xa là bầu trời xám xịt của London. Tôi vội chạy tới phía sau bố để đi vào một khu rộng lớn, hàng giường dài ngoằng, tất cả trắng toát, sẵn sàng cho bệnh nhân tiếp theo. Trong trí nhớ của tôi, tất cả giường đều trống, chỉ trừ một chiếc duy nhất, chiếc giường có mẹ tôi. Cũng trong trí nhớ của tôi, mẹ tôi là bệnh nhân duy nhất nằm viện mùa Giáng sinh năm đó.
Ước gì tôi nhớ cách mẹ chào đón tôi, cách mẹ nhìn tôi. Tôi mong mẹ ôm tôi và nắm lấy tay tôi. Tôi nghĩ mẹ đã làm vậy. Tôi mong được trèo lên giường và khoe mẹ những món quà tôi nhận được, hoặc có lẽ tôi sẽ mở thêm vài món cùng mẹ. Tôi nghĩ tôi đã làm vậy. Tôi hy vọng tôi đã thật sự làm vậy.
Vài tuần sau, một buổi sáng tháng một lạnh lẽo, tôi bò dậy, lò dò ra khỏi chiếc giường tôi ngủ cùng anh trai Robert sang phòng bố mẹ tôi rồi trườn vào nằm cùng bố. Sáng nào tôi chẳng làm vậy. Nhưng buổi sáng hôm đó có gì khang khác. Chiếc giường lạnh toát. Chăn trải giường vẫn còn y nguyên. Đêm qua không có ai ngủ ở đó.
Tôi lén bò ra đầu cầu thang. Có ánh sáng. Ánh sáng dưới nhà, vào giờ sớm tinh sương thế này? Có tiếng người. Tiếng người nói không bình thường như họ vẫn nói vào ban ngày. Họ thều thào, tiếng thều thào kỳ lạ rung lên trong đầu tôi những dấu hiệu bất thường tôi chưa từng trải qua. Tôi lại bò vào giường với Robert và nằm chờ. Chờ đợi. Lo âu. Điều gì đó đã xảy ra và sớm muộn cũng sẽ có người đến giải thích với tôi.
Cuối cùng, bố tôi bước vào.
Khiếp đảm, chấn động, bố khóc. Chúng tôi nhìn sững bố, Robert chớp mắt liên tục vì vừa thức dậy. Bố nói: “Mẹ các con đã là một người phụ nữ tuyệt vời.”
Câu nói đó quá thâm thúy đối với một đứa trẻ chín tuổi. Robert phải giải thích với tôi ý nghĩa khi bố dùng thì quá khứ, vì mẹ đã ở trong quá khứ. Mẹ đã mất.
Cuối cùng tôi cũng biết được bố tôi và chị Helen đã đến thăm mẹ đêm hôm trước. Mẹ không khá hơn, nhưng cũng chẳng tệ đi. Cả hai chúc mẹ ngủ ngon và đang định rời đi thì y tá kéo họ sang một bên và nói: “Gia đình chắc cũng nhận ra bệnh nhân yếu thế nào phải không? Tôi e là bà Shepherd sẽ không qua khỏi đêm nay.”
Điều này thật sự gây chấn động, đơn giản vì suy nghĩ mẹ mất chưa bao giờ xuất hiện trong tâm trí chúng tôi. Nếu nó từng xuất hiện trong đầu bố tôi, có thể là bố nghe từ bác sĩ nhưng bố vẫn sẽ tự thuyết phục mình rằng chuyện đó không thể xảy ra. Mẹ tôi nhập viện để điều trị khỏi bệnh. Gia đình đến thăm mẹ. Mọi việc xảy ra đúng như vậy, không ai tin điều ngược lại.
Trong khi sự thật thì mẹ bị bệnh tim giai đoạn cuối. Tim mẹ có vấn đề, rồi mẹ còn bị thêm viêm phổi chứng Old Folks’ Friend, nó được đặt tên như thế vì đôi khi nó giúp người bệnh thấy bớt đau đớn. Nhưng dù sao nó cũng là bệnh phổi và chắc chắn mẹ tôi không thể chịu được thêm một cơn viêm phổi nào nữa, dù là có kháng sinh. Tôi ước người ta phát minh ra penicillin sớm hơn để bảo vệ được trái tim mẹ tôi sau trận sốt thập tử nhất sinh thời thơ ấu.
Nhiều năm sau khi tôi đã là sinh viên y khoa, bố cho tôi đọc báo cáo khám nghiệm tử thi của mẹ và nhờ tôi giải thích. Tôi nói với bố cơn sốt thời bé khiến cơ thể mẹ tự sản sinh ra chất có thể giết chết vi khuẩn xâm nhập. Không may chúng cũng giết luôn các mô cơ trong cơ thể – trong trường hợp của mẹ là van tim hai lá. Cái van này vốn đã bị tổn thương nghiêm trọng đến độ ngừng hoạt động lại đóng vai trò điều khiển dòng chảy của máu qua tâm nhĩ trái. Lần nào mẹ nhập viện để phẫu thuật hở van tim, bác sĩ cũng chĩa ngón tay – nghĩa đen - để thông các đoạn nghẹt trong van tim. Kết quả: chúng co bóp lại, lưu thông máu giữa tâm nhĩ trái và tâm thất trái được xác lập lại ít lâu. Mặc dù, ít nhiều hơn là lâu. Đây là lý do vì sao mẹ cứ mất hút vì những lần nhập viện, rồi lại quay về nhà tươi tỉnh, vâng, đúng là được ít lâu.
Thời đó phẫu thuật hở van tim được coi là tiên phong trong ngành, nhưng cũng chẳng ích gì khi có một cái van tim ngoan cố bị cả cơ thể bệnh nhân dùng hết hơi tàn chiến đấu chống lại. Khi tôi nhập học trường y mười năm sau, phương pháp chữa trị đó đã được thay thế từ đời nào. Lúc đó hẳn mẹ tôi đã có thể được ghép tim nhân tạo và sống tiếp vui vẻ rất nhiều năm sau.
Tôi chẳng biết tí gì về điều này vào thời điểm mẹ mất. Tôi còn chẳng biết mình nên cảm thấy thế nào. Ai cũng nhìn tôi, lệ nhòa mi, kỳ vọng tôi có phản ứng. Phản ứng sao bây giờ? Tôi vọt sang nhà John, người bạn hàng xóm. Hôm đó là thứ Bảy, tôi đụng cả nhà John ở đó. Mẹ John đón tiếp tôi, ấm áp, đẫm lệ, còn John và tôi ngồi xem hoạt hình. Chỉ có điều khi gặp đoạn buồn cười, tôi nghĩ mình không nên cười.
Rồi điều y hệt diễn ra, lần này tới lượt gia đình tôi lúc tôi đi học về. Tôi nhận ra khi đám tang mẹ diễn ra, chẳng ai nghĩ một đứa trẻ như tôi nên hiện diện. Tôi bước vào nhà, tất cả đồng loạt nhìn tôi chăm chăm, cái nhìn nhuốm đầy bi lụy. Mọi người kỳ vọng tôi phản ứng ra sao hay nói gì nhỉ? Tôi chẳng cảm thấy gì cả. Có lẽ sâu thẳm bên trong, đứa trẻ trong tôi đã không thể nắm bắt được tầm thước của cái chết. Lúc nào mẹ cũng biến mất, rồi lại xuất hiện. Có lẽ bất chấp những điều diễn ra trước mắt, tôi đã tin rồi mẹ sẽ trở về.
Khi hồi tưởng những năm tháng đầu đời, về mẹ tôi, tôi hầu như chẳng nhớ gì mấy và cũng chẳng cảm nhận được gì. Chẳng lẽ vì thời gian mẹ ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà, thậm chí khi ở nhà, tôi cũng không cảm thấy được gần gũi mẹ? Không hiểu sao tôi lại có nhiều ký ức hơn về bà, về anh, về chị, về bố, về dì... nhưng về mẹ? Một khoảng không. Tôi cho rằng khoảng không đó sẽ luôn là một hằng số hiện hữu.
Sau khi mẹ mất, điều ngạc nhiên nhất diễn ra. Bố tôi thay đổi. Tôi nghĩ bố phân tích mất mát của tất cả chúng tôi để rồi cố gắng vừa làm bố vừa làm mẹ. Bố không còn là người đàn ông khô khan cáu kỉnh mà trở nên yêu thương vô vàn. Chị tôi cũng phụ giúp rất nhiều, mặc dù khi mẹ mất, chị mới mười chín tuổi và đang tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ giáo viên ở xa. Bố từng nghĩ chị sẽ quay về nhà, phụ giúp việc chăm sóc ngôi nhà không có đàn bà này, nhưng may thay chị không làm thế, may thay! Mặc dù chị vẫn luôn là người chị biết quan tâm chăm sóc, ngay cả sau khi chị kết hôn vài năm sau đó.
Bố tôi chăm sóc căn nhà, đi chợ, nấu cơm trong khi vẫn phải đi làm toàn thời gian. Vào thời đó, ông bố đơn thân cũng giống cửa tiệm tạp hóa – đều là của hiếm. Bố vẫn cho rằng chỉ cần muốn, rồi sẽ có cách giải quyết. Thế nên bố gia cố căn nhà, sơn lại bếp, bảo trì xe và học nấu ăn (kết quả thì hên xui, tôi nói thật). Đồng thời bố thay đổi cuộc sống để nó chỉ xoay quanh chúng tôi và phát hiện ra một khả năng mới của chính mình: khả năng cho và nhận rất nhiều yêu thương chăm sóc. Tôi hồi tưởng lại và thấy ngưỡng mộ bố vô cùng.
Từ trong lòng bố tôi rơi ra một bức ảnh đen trắng, bố chụp cùng một đứa trẻ to lớn, chân dài lòng khòng, hẳn là tôi. Hai chúng tôi đều đang say ngủ. Hình kiểu này thật sự khá khác thường vào thời đó, đối với những ông bố bước ra từ thời chiến được nuôi nấng bởi các ông bố thời Victoria đơn thuần không biết biểu lộ yêu thương là gì.
Bố làm mọi cách để bảo đảm tôi có một tuổi thơ vui vẻ. Tôi thích đến trường, vượt qua trung học, mê bơi, tham gia câu lạc bộ thiếu niên địa phương, đi hát ở nhà thờ và có rất nhiều bạn. Một trong những người bạn của tôi là con trai bác sĩ. Hồi chúng tôi tầm mười ba tuổi, vì muốn hù chúng tôi, nó mượn một cuốn sách của bố và mang tới trường. Cuốn sách có tên Khoa Học Pháp Y của Simpson (tái bản lần thứ ba) của Giáo sư Keith Simpson, một cuốn sách nhỏ xíu màu đỏ, sờn rách, nhìn bề ngoài chẳng biết được “hình dong” kiểu gì mà bắt. Nhưng bên trong chứa đầy những hình ảnh người chết. Nói đúng hơn, hình ảnh những người bị sát hại. Họ bị siết cổ, giật điện, treo cổ, bị đâm, bị bắn, chết ngạt... Không cái chết ghê gớm nào thoát khỏi ghi chép của Giáo sư Simpson. Ông ấy đã chứng kiến không sót thứ gì. Có cả hình chụp những vết cháy sém như hình lá dương xỉ trên da do sét đánh, hình chụp hộp sọ một bé trai đã bị đập đầu bằng viên gạch, một “phòng trưng bày” đáng kinh ngạc về những ổ đạn đi vào và đi ra cơ thể cũng như hình ảnh các giai đoạn phân hủy khác nhau của cơ thể con người.
Lẽ dĩ nhiên giờ tôi đã quá quen thuộc với khái niệm cái chết. Tôi thậm chí còn có những trải nghiệm riêng về sang chấn của nó. Nhưng tôi chẳng biết tí gì về hiện diện vật lý của cái chết. Mẹ tôi đã qua đời tại một bệnh viện và hẳn là chẳng ai mảy may nghĩ đến việc cho tôi nhìn thấy xác mẹ. Thành thử, chuyên gia tâm lý học nghiệp dư nhất cũng sẽ giải thích rằng niềm yêu thích lạ kỳ của tôi đối với hiện diện vật lý của cái chết là nguyên nhân khiến tôi yêu thích cuốn Khoa Học Pháp Y của Simpson . Hơn cả một sở thích, đúng hơn nó là một thứ mê hoặc. Tôi vượt lên những tò mò tính dục, vượt lên hẳn sự ham thích bị (được) kích động của những đứa con trai cùng tuổi.
Tôi mượn cuốn sách, nghiền ngẫm nó trong nhiều giờ. Tôi đọc đi đọc lại những dòng chữ, bị hút mắt vào các bức ảnh minh họa. Chúng rất trực quan, đặc biệt vào thời điểm đó khi chả ai quan tâm đến hệ lụy đối với người ở lại nên gương mặt nạn nhân còn không được làm mờ.
Cũng có lẽ tôi muốn nhìn thẳng vào thứ ghê sợ đó cái chết, bằng cách vừa tách biệt vừa lãnh đạm vừa phân tích qua con mắt của Simpson siêu phàm. Có lẽ Simpson đã giúp tôi tìm được đường sáng giữa mớ bòng bong. Hoặc đơn thuần là tôi bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp trong sự kết hợp giữa y học và công việc của một thám tử.
Tôi cân nhắc theo học ngành y. Nghiên cứu bệnh học cũng hay, nhưng nghiên cứu pháp y là cái gì đó rất khác. Tôi hiểu, không giống các nhà bệnh lý học, các bác sĩ pháp y cũng có bệnh nhân; và không giống các bác sĩ điều trị, bệnh nhân của các bác sĩ pháp y đều đã chết. Khỏi cần tốn công so sánh với một ngày làm việc của bác sĩ điều trị, sáng nào cũng đối mặt với hàng dài bệnh nhân cảm mạo và sụt sịt.
Tôi biết vì công việc, bác sĩ pháp y có thể được triệu tập đến giám định bất cứ cái chết bất thường nào, vào bất cứ thời gian bất thường nào trong ngày, và cũng có thể là đến hiện trường một vụ án. Công việc của anh ta (luôn là phái nam vào thời bấy giờ) là tiến hành kiểm tra toàn diện bên ngoài và trong thi thể, hỗ trợ quá trình điều tra của cảnh sát. Chẳng hạn có một người chết vì đạn bắn, nhưng bác sĩ pháp y không chỉ đến khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm tử thi mà như Giáo sư Simpson nói, còn phải xem xét có hung khí nằm gần đó hay không.
Anh ta phải trả lời bốn câu hỏi:
1. Vết thương có phải do hung khí đó gây ra không?
2. Tầm bắn xa hay gần?
3. Hướng bắn ra sao?
4. Có khả năng đây là một vụ tự sát không?
Đối với Giáo sư Simpson, đây là công việc hằng ngày. Khát khao được biết thêm, tôi tìm hết tất cả thông tin có thể về ông ấy và “phải lòng” cái cách ông ấy phóng như bay đến hiện trường trên tàu hỏa hơi nước - phương tiện di chuyển chủ yếu thời bấy giờ, rồi dùng kỹ năng y khoa của mình giúp các thám tử phục dựng các vụ án, giải những bài toán tưởng như nan giải, minh oan cho người vô tội, đấu kháng ở tòa và đem kẻ thủ ác ra ánh sáng công lý.
Viễn tượng của tôi trở nên rõ ràng sau lần đó. Mong ước cao cả nhất của tôi là được trở thành Giáo sư Keith Simpson thứ hai.