Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2150 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

Tôi ở trong một tầng hầm đặc quánh, trắng toát, tối giản tại Bloomsbury. Trên đầu, ánh sáng rọi chan hòa. Trước mắt tôi, dưới tấm khăn phủ trắng là một hình thù hiện ra rõ ràng mà kỳ quái, tử thi đầu tiên tôi sẽ đối diện.

Tất cả sinh viên y khoa của Đại học London, khoảng bảy mươi người đều học môn Giải phẫu. Chúng tôi hiểu giải phẫu nghĩa là gì. Mổ xẻ. Tôi đã từng mổ một con cá nhám góc ở trường, cả chuột nữa. Giờ chúng tôi sửa soạn mổ một con người.

Bước xuống cầu thang, mùi formalin xộc vào mũi, tôi nhận ra nó ngay sau những lần vào phòng thí nghiệm môn Sinh học. Chúng tôi bước qua khoảng bốn mươi cái bàn sứ nơi các sinh viên lớp trên vẫn đang tiến hành giải phẫu. Chúng tôi e dè bước qua, biết rằng dưới mỗi tấm khăn là một cơ thể người. Bất chợt tôi vô tình quờ phải một cái khăn, nó rơi xuống, để lộ ra một bàn chân đười ươi lông lá. Haha, lớp Giải phẫu so sánh đây mà. Tôi cười trong căng thẳng. Chúng tôi cùng cười trong căng thẳng. Đứa nào cũng run.

Đối với nhiều người, việc chúng tôi sắp làm thật đáng sợ hoặc thậm chí, đáng tởm. Nỗi lo âu nói với tôi điều khác: Tôi vẫn cương quyết muốn trở thành bác sĩ pháp y như Giáo sư Keith Simpson nhưng tôi mới chỉ nhìn thấy tử thi qua hình ảnh. Tôi sẽ phản ứng ra sao trước một xác chết thật? Tôi biết, chỉ cần tôi ói, ngất, tái mét đi hoặc thậm chí chỉ cần tỏ ra nao núng một chút thôi (trong phòng lúc đó đã có vài người chuẩn bị thực hiện nguyên tổ hợp đó cùng lúc), sự nghiệp tâm huyết của tôi sẽ chết yểu ngay từ khi chưa thành hình.

Bốn người quây quanh một bàn với các thi thể, chúng tôi vận trên người áo trắng đồng phục mới cáu. Các thi thể này sẽ đồng hành với chúng tôi suốt khóa học Giải phẫu mười tám tháng cho đến khi chúng tôi hiểu rõ cấu trúc cơ thể họ còn hơn họ hiểu chính mình, nhưng oái oăm là lại không bằng những người lạ từng đi cùng chuyến xe buýt với họ, nhìn thấy gương mặt họ, nghe được giọng nói của họ.

Trong khi chờ người hướng dẫn đến, chúng tôi cố thử những cách khác nhau để điều chỉnh cảm xúc. Nhưng khi những đường cong không lẫn đi đâu được nói cho chúng tôi biết bên dưới đó là xác người, sự năng nổ của cả nhóm biến mất. Đứa nào cũng tỏ vẻ anh hùng. Đứa pha trò, đứa cố cười hưởng ứng thật “có tâm”. Những ánh mắt chạm nhau, dường như mọi người đều muốn chạy trốn vào trong ánh mắt nhau. Có đứa còn ngỏ lời hẹn hò ngay tại đó. Tự nhiên trong hoàn cảnh oái oăm, chúng tôi lại nhận thấy có những mối dây tình thân mới.

Người hướng dẫn bắt đầu lên tiếng, chúng tôi đứng chôn chân lắng nghe, cạnh những thi thể “của mình”. Những lời hướng dẫn được hưởng ứng trong sự im lặng bao trùm trong không khí. Ánh đèn sáng chói gắt dội xuống từng ô gạch lát nền, dội vào áo chúng tôi, dội lên chiếc dao mổ và dội ngược lại những gương mặt trắng bệch của chúng tôi.

Những mảnh khăn phủ được nhấc lên. Đây rồi. Tử thi. Xám xịt, bất động, im lìm và vô thức. Vài người trố mắt nhìn người hướng dẫn. Vài người khác nhìn chăm chú thi thể, hoặc nhìn người, hoặc nhìn mặt.

Nằm trước mặt chúng tôi là một người đàn ông lớn tuổi. Mắt và miệng ông ấy khép chặt, nhưng gò má nổi rõ, cơ dưới cằm vẫn săn chắc, hai tay xuôi hai bên hông, bụng phục phịch, những khớp gối trông có vẻ bị viêm, hai bàn chân to bè. Mềm yếu và cứng cáp. Hình hài con người, nhưng cũng không hẳn còn là người.

Chúng tôi đã được chỉ dẫn vì sao các thi thể “của mình” qua đời từ tròn một năm trước. Người đàn ông này để lại di chúc sẽ hiến xác cho mục đích nghiên cứu khoa học và lũ chim non chúng tôi hiển nhiên là nhóm nghiên cứu khoa học ấy. Ngay sau khi mất, ông ấy được ướp xác và ngâm formalin mãi cho đến khi ông ấy được đặt nằm trên chiếc bàn này. Mất một lúc sau tôi mới hiểu sắc xam xám gây tò mò trên cơ thể ông ấy thực chất là kết quả của hóa chất ướp xác, không phải vì căn bệnh dẫn đến tử vong.

Chúng tôi không được biết danh tính hay bất cứ thông tin cá nhân nào của người đã mất, có lẽ để chúng tôi cảm thấy họ bớt “người” đi một chút chăng. Lúc đó đã thuộc lòng Khoa Học Pháp Y của Simpson , tôi lén lút hy vọng phát hiện ra một vết đạn bắn ở đâu đó, nhưng lại được giải thích rằng đây là ca tử vong tự nhiên, và mục đích cũng không phải để tìm nguyên nhân tử vong, mặc dù có khi hên xui lại tìm được. Đây chỉ là bài học vỡ lòng về cơ thể người và sự vận hành của nó. Chúng tôi sẽ được thấy cách mà các múi cơ kết nối với các xương, quan sát các dây thần kinh, tìm hiểu về hệ thống ống quanh hai quả thận và bộ mạch quanh tim.

Chúng tôi lật bảo bối của mình ra - cuốn Hướng Dẫn Giải Phẫu Cơ Thể Người của Aitken, Causey, Joseph và Young. Người hướng dẫn nói chúng tôi sẽ phải bắt đầu bằng việc cắt một đường thẳng giữa ngực. Ông ấy cho một người mỗi nhóm quyền xung phong, ai sẽ xung phong rạch nhát đầu tiên vào da thịt một con người?

Tôi là người đó. Đây là bài kiểm tra cho tôi và tôi muốn biết mình có vượt qua nó hay không.

Tôi nhìn chăm chú mặt tử thi, bằng chứng của sự sống đã vắng bóng quá lâu trên gương mặt chủ nhân nó. Ông ấy đã thấy gì? Ông ấy đã biết những gì? Ông ấy đã là một phần của thế giới mà tất cả chúng tôi đang sống nhưng trong vòng một năm sau cái chết của ông ấy, thế giới tiếp tục vận động còn ông ấy thì không. Tôi nhìn ngực ông ấy.

Làn da đó không có vẻ gì giống da của tôi, nó săn nhưng sao trông như cao su.

Tôi nhấc dao mổ lên. Tôi từng cầm một con dao mổ ở trường nhưng con này thấy nằng nặng. Tôi phải dùng lực như thế nào để cắt qua thịt người? Những cặp mắt trong nhóm đổ dồn vào tôi. Không một ai lên tiếng.

Một bàn tay đặt dao mổ lên ngực tử thi. Tôi nhìn theo bàn tay, nhận ra đó là tay mình. Cả nhóm nhoài ra phía trước. Tôi nhấn dao xuống. Không thấy gì. Tôi nhấn mạnh hơn và cảm thấy làn da lún xuống. Tôi đã rạch được. Tôi kéo nhẹ con dao, nhấn xuống từng mũi chắc chắn. Phần thịt tách ra theo đường rạch của tôi, tôi cố hết sức để đường rạch thật gọn ghẽ, từ hõm cổ tới “mũi kiếm” ở xương ức. Chúng tôi sắp lật mở da để “đọc” phía bên trong cơ thể con người như đọc một cuốn sách! Tôi muốn đào sâu hơn, ngay giờ phút này, xem bên trong có những gì.

Quá say mê, tôi thậm chí quên mất sự hiện diện của người hướng dẫn, những sinh viên khác hay mùi formalin. Khi người hướng dẫn lên tiếng, tôi ngước lên, chớp mắt ngạc nhiên. Có động thái xung quanh chúng tôi. Ở bàn gần đó có một sinh viên nữ ngất xỉu, đám đông lo lắng vây quanh. Góc xa căn phòng, cửa xoay lắc mạnh vì ai đó vừa vọt ra khỏi phòng, vài người nữa cũng chạy ra theo hướng đó. Một trong số đó là người bạn mà tôi biết sẽ không bao giờ quay lại lớp Giải phẫu lẫn ngành y. Tuy nhiên ngoài những người rời đi, lại có một sự gần gũi mới mẻ nảy sinh giữa chúng tôi – những người ở lại. Bằng việc thực hiện các vết rạch giải phẫu, chúng tôi dần trở thành những tay chuyên nghiệp cùng nhau. Chúng tôi là một phần của một nhóm rất nhỏ, một giáo phái, một bộ lạc. Chúng tôi đã được khai tâm. Đối với riêng tôi, cuộc chinh phạt đầu tiên với con dao mổ đã xác quyết cho hy vọng ngút trời: Tôi thuộc về nơi này.

Cũng giống như cảm xúc sau những lớp Giải phẫu, tôi sung sướng biết được các bệnh nhân qua đời tại Bệnh viện Đại học London đều sẽ khám nghiệm tử thi vào giờ trưa mỗi ngày, các sinh viên y khoa được mời đến thỉnh giáo. Tôi thường đến khi một pint (*) bia và một cái bánh mặn ở Hội Y khoa không đủ hấp dẫn. Những lần khám nghiệm đó rất khác với các bài học chậm rãi, cẩn trọng và lớp lang mà chúng tôi thường có. Trong những buổi chầu rìa này, trước mắt tôi là các chuyên gia thứ thiệt vào cuộc. Họ thực hiện những đường rạch giữa ngực, cũng giống tôi đã làm trong lớp Giải phẫu, nhưng không một chút sợ sệt. Rồi tôi thấy họ thành thục bóc tách từng lớp cơ thể để lộ ra các phần nội tạng và nguyên nhân tử vong. Đây là khối u to tướng, kia là tuyến tụy thương tổn, tôi thấy xuất huyết não trông như thế nào, và động mạch bị tắc nghẽn. Tôi muốn thấy tất cả mọi thứ.

Môi trường đại học có đầy cơ hội để làm những điều thú vị, gặp gỡ bạn bè mới, học hành, vui chơi. Thật nhẹ nhõm làm sao khi tôi có thể rời nhà để hòa vào thế giới mới này. Bởi nhà cũng đã thay đổi. Nhà từ khi nào đã trở nên căng thẳng và đôi khi khó sống.

Dù bố tôi vẫn đầy yêu thương và quan tâm, bố dần trở nên bẳn gắt từ sau cái chết của mẹ. Cực kỳ bẳn gắt. Tôi hiểu rõ nó xuất phát từ đâu: người vợ yêu quý của bố đã mất và tất tần tật các gánh nặng trước đây vốn được san sẻ giờ trút lên một mình bố. Ông phải cáng đáng một đứa con trai đang tuổi lớn cần tình yêu thương, và đứa con trai còn lại thì trở thành thiếu niên khó dạy sau khi trải qua nỗi đau mất mẹ khôn nguôi. Trên hết, bố mong chờ sự san sẻ từ một người phụ nữ.

Bất chấp nỗi buồn đau, một thời gian sau khi mẹ mất, bố bắt đầu hẹn hò với vài người phụ nữ. Robert và tôi không phản đối gì, cả bố con tôi đều không vui vẻ gì và một trong những người bạn gái đầu tiên của bố trong thời gian đó, Lillian, một quả phụ đã khiến ba bố con tôi cảm thấy khá hơn rất nhiều. Cô ấy đầy tình mẫu tử và ấm áp. Cô ấy cười suốt. Căn nhà chúng tôi ở trông tăm tối, tĩnh lặng, một nơi chất chứa đầy kỷ niệm và cả những khoảng trống. Lillian thì lại ồn ã, vui vẻ, nấu ăn ngon và có nhiều bạn bè. Lillian còn biết thết đãi tiệc. Những buổi tiệc! Chúng tôi tham gia Giáng sinh nọ cùng khách khứa, cười đùa và chọc quê lẫn nhau khi phải chuyền một quả cam bằng cằm từ người này sang người kia.

Thật không may, Lillian trở thành quá khứ. Ai đó, thật ra người đáng nghi nhất lại chính là Lillian đã tung tin đồn rằng cô ấy và bố tôi sắp tiến tới hôn nhân. Bố tôi nghe được, chạy trối chết. Có lẽ tâm trí bố đã phong thánh cho mẹ, do vậy việc cưới một người phụ nữ khác quá nhanh sẽ chẳng tốt đẹp gì.

Mùa hè nọ khi chúng tôi đang trong kỳ nghỉ ở Devon, bố tôi biến mất sau thông báo bố sẽ đi tìm một người bạn cũ. Chúng tôi để ý thấy bố ăn diện có phần hơi đỏm dáng quá khi chỉ để đi gặp người bạn này.

Hôm sau bố dẫn “người bạn” đến gặp chúng tôi. Cô ấy tên Joyce, từng là đồng nghiệp với bố ngày xa xưa nào đó, rồi rời London không rõ lý do và bây giờ về ở ẩn tại vùng Tây Nam này.

Joyce gồng lên để tỏ ra dễ gần. Cô ấy trung tuổi, nhạt và quá sức ngọt ngào với chúng tôi đến độ ngón chân tôi cong lại vì ớn. Nhưng tôi tha thứ cho cô ấy vì tôi cảm thấy hơi thương hại. Nhuốm chút gì đó bất lực ở Joyce. Thì ra cô ấy đang sống cùng người bố bệnh tật và một người mẹ thích hiếp đáp, độc đoán. Sống gần đó là cháu gái đã kết hôn của Joyce, trông có vẻ thân thiện. Ngoài cô cháu gái, người bố như vô hình và người mẹ không được tốt lắm, Joyce là người phụ nữ cô độc.

Mối quan hệ của cô ấy với bố tôi cuối cùng chẳng phải hàn huyên lâu ngày gặp lại. Cô ấy bắt đầu xuất hiện tại nhà tôi thường xuyên hơn vào các dịp cuối tuần. Joyce cố gắng thể hiện khả năng làm mẹ của mình nhưng cô ấy lại không trụ nổi với hai thằng con trai đang tuổi lớn. Bên cạnh đó, cô ấy nấu ăn nhưng chúng chẳng giống hương vị bố hay nấu chút nào. Một lần, cô ấy còn dám thử paella, một món hồi thập niên 60. Cô ấy dọn dẹp nhà cửa, cố mang lại sự ấm áp của bàn tay phụ nữ đến một ngôi nhà toàn đàn ông.

“Chúng ta không cần bàn tay phụ nữ.” Robert bảo. Anh ấy không thích vẻ ngọt xớt và nỗ lực vớ vẩn của Joyce để “điền vào chỗ trống”. Những chỗ trống mang hình hài của mẹ, những chỗ trống thay thế cho cái ôm, cho những lần chuyện trò.

Tôi không chống đối, nhưng lại vô thức thấy mình thích lẻn sang nhà mấy người bạn chơi khi cô ấy ghé qua và lưu lại nhà tôi. Khó có thể chối cãi rằng nếu cô ấy không làm bố tôi ít nhất là vui vẻ hơn thì cũng bớt nóng tính hay sửng cồ đi. Bởi bên trong người đàn ông tưởng như yêu thương và tốt bụng đó là cả một ngọn núi lửa có thể phun nham bất cứ lúc nào. Đột ngột. Chẳng thể dự đoán.

Khi bố nổi đóa, bố gào thét, chửi bới, quăng ném đồ đạc, bố khiến tôi khủng hoảng tinh thần. Hiếm khi bố như vậy nhưng tôi biết lúc nào nó cũng ở đó, chờ chực nổ tung dưới hình hài một người đàn ông mặt đỏ gay gắt, và nó kinh hãi tới nỗi tôi có lần tè ướt quần.

Thỉnh thoảng chúng tôi lưu trú gần Manchester, tại căn nhà vừa được tân trang ấm cúng của bà ngoại. Một buổi sáng nọ hồi tôi khoảng mười ba tuổi, như thường lệ tôi bò lên giường rúc vào người bố, vừa thủ thỉ vừa uống trà. Tôi đang tận hưởng cảm giác khoan khoái khi lăn qua lộn lại những chiếc gối của bố, toàn thân được bao bọc bởi những tấm phủ bằng vải lanh sạch tinh tươm cùng một tách trà ấm trong tay, bất ngờ bố lên tiếng:

“Bố đang nghĩ đến việc cưới cô Joyce.”

Tôi muốn hét lên “Không!”

Nhưng tôi lại bảo: “Được thôi.”

Có lẽ nếu cưới cô Joyce, bố sẽ vui hơn. Và tôi thật sự ước ao điều đó. Có lẽ bố sẽ bớt dễ dàng bị kích động. Và tôi cũng thật sự ước ao cả điều đó nữa.

Chẳng đứa nào trong chúng tôi được mời đến dự đám cưới của bố. Bố lái xe xuống Devon, xong lái về là đã có vợ. Cuộc hôn nhân này đối với Joyce là sự vượt ngục cô ấy ao ước từ lâu, thoát khỏi người mẹ chẳng mấy tốt lành. Để rồi rơi tõm vào một kiểu lao tù khác, cũng có thể vì việc cáng đáng căn nhà bây giờ là của cô ấy. Bố tôi có vẻ cuốn gói khỏi mớ công việc nội trợ cũng nhanh lẹ như cách bố kham lấy chúng ban đầu. Có lẽ mối quan hệ của họ giống một buổi phỏng vấn xin việc hơn là chuyện hẹn hò. Và công việc mang tên: quản gia.

Tôi thật sự tin Joyce muốn trở thành người vợ đảm. Căn nhà của chúng tôi thật sự trở nên gọn gàng. Nhưng với riêng tôi từ lúc đó tôi đã không còn lối thoát: lúc nào Joyce cũng ở đó. Tôi thậm chí còn chẳng thể mời bạn bè về nhà vì cô ấy không biết thết đãi khách khứa như thế nào. Nhưng dù sao cô ấy cũng là một người tử tế và may thay, sau cùng cô ấy đã đầu hàng trước những nỗ lực khó hiểu để trở thành mẹ tôi, dễ hiểu thôi vì tôi cũng chẳng nỗ lực tí nào để coi cô ấy là mẹ.

Bố, Joyce, Robert và tôi giống bốn người tự dưng rơi vào cùng một căn nhà rồi phải ở với nhau. Kể cả bố tôi cũng xa lánh cô ấy. Tôi không thể gọi đó là một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Lúc nào cũng có cãi cọ và những đợt chiến tranh lạnh. Một lần nọ trước sự thích thú âm thầm của hai anh em tôi, bố đưa cô ấy về cho bà mẹ ở Devon. Rồi cô ấy quay trở lại. Rồi ban ngày lại xuất hiện những trận cãi vã theo sau bởi những pha làm lành trên giường. Rồi ngọt như mật với nhau sáng hôm sau. Rồi mèo lại hoàn mèo. Khó hiểu hết sức.

Robert vào đại học ngành luật. Bố toàn tâm toàn ý ủng hộ. Tôi nhớ anh trai nhưng chí ít sự vắng mặt của Robert cũng đồng nghĩa với ít cuộc cãi cọ hơn, ít đợt nộ khí xung thiên hơn.

Một năm sau Robert tái xuất cùng những môn thi trượt. Anh tôi thông báo muốn chuyển sang ngành tâm lý và xã hội học.

Kết quả: Bố tôi lại nộ khí xung thiên.

“Xã hội học?” Bố lắp bắp. “Có môn này trên đời nữa?”

Nhưng rồi Robert cũng xách gói đi học xã hội học và gây dựng được sự nghiệp thành công khi trở thành giảng viên môn này tại các trường đại học ở Pháp. Anh ấy lưu lại đó cho đến hết cuộc đời công tác của mình.

Chị Helen bất cứ khi nào về thăm nhà cũng tìm ra được những món đồ bị mất trong nhà tôi. Tôi học cách không để tâm đến lời chị nói, nhưng khi dần lớn lên, tôi nhận ra Helen đã đúng. Mẹ chúng tôi đã dần bị “cắt xén”. Qua năm tháng, những thứ thuộc về mẹ dần biến mất cho đến khi không còn lại gì: đồ trang trí, hình ảnh, mấy mẩu thêu thùa, giỏ đan lát, sách vở, khăn lau chùi hay bát đĩa. Joyce tội nghiệp hẳn đã cố công thay thế những thứ đó bằng đồ đạc của cô ấy, nhưng cô ấy không hiểu chẳng gì có thể khỏa lấp những khoảng trống mẹ bỏ lại trong căn nhà đó.

Thời điểm tôi lên London, đôi khi tôi vẫn đinh ninh Joyce đã xóa sổ mẹ tôi và bằng một kiểu nào đó, cũng mang luôn bố tôi đi mất. Tất cả những điều đó thay đổi khi tôi học y được vài năm. Bố về hưu và làm kế toán ở trung tâm London. Bây giờ thì những lần gặp gỡ giữa chúng tôi không còn bị bó buộc trong mỗi dịp về thăm nhà, nơi Joyce lượn ra lượn vào nữa. Bố con tôi có thể hẹn ăn trưa London và chúng tôi rất thường làm vậy. Tôi lại có thời gian riêng cùng bố.

Chúng tôi luôn đến một tiệm ăn trên đường Greek. Nó bé tới nỗi tôi có cảm tưởng mình đang ngồi trong phòng khách nhà ai đó. Thức ăn thì vừa ngon vừa rẻ, tôi đồ rằng nhà bếp cũng chẳng vệ sinh gì mấy nhưng điều đó có thấm tháp gì: chúng tôi ăn những bữa trưa nóng sốt, ấm áp tình bố con. Y như ngày trước – ý tôi là trước khi có sự hiện diện của Joyce. Bố khá thoải mái, trìu mến và tôi cũng vậy, một phần vì không ai phải lo lắng vụ “núi lửa phun trào” bởi chúng tôi đang ở chốn công cộng.

Cũng có thể bố bắt đầu nhìn thấy ở tôi là một bác sĩ và quan trọng hơn là một người trưởng thành. Dù sao bố cũng trở nên chan hòa hơn. Bố cho tôi biết cháu gái của Joyce hóa ra lại là con gái cô ấy, bố đứa bé là một người lính không quân người Canada trong chiến tranh. Mẹ Joyce nuôi nấng đứa bé và Joyce miễn cưỡng y lệnh trở thành người dì – một kịch bản chẳng xa lạ gì vào những năm 40. Bí mật đáng xấu hổ này đã cho phép mẹ Joyce cùm cổ cô ấy dưới những ngón tay gang thép. Hiển nhiên khi bố tôi xuất hiện, người phụ nữ trung niên tên Joyce chỉ muốn theo bố ngay lập tức.

Bấy giờ tôi mới vỡ lẽ vì sao Joyce không thể biểu lộ tình mẫu tử với hai thằng con trai chồng, là chúng tôi. Cô ấy chưa bao giờ được trao quyền làm mẹ với chính đứa con của mình.

Bố tôi thậm chí còn kể lại nỗi thống khổ trong ngày bố cưới. Bố lái xe xuống Devon mà trong đầu chỉ muốn đâm xe vào đâu đó cho rồi. Không phải để tự sát, chỉ để khỏi phải cưới. Nhưng rồi cũng chính là bố, quyết định nhắm mắt đưa chân cho rồi vì sợ bị Joyce (hay đúng hơn là bà mẹ vợ) kiện cho ra tòa vì tội thất hứa.

Tôi mỉm cười trước cái cách bố cố gắng trở nên đúng mực trong mọi hoàn cảnh, nhớ cả cuốn từ điển bố tặng khi tôi lên mười sáu. Ở trang bìa bố dụng công viết trên bản kẽm bằng đồng dòng chữ của Alexander Pope. Mấy dòng chữ đó nói gì nhỉ? Hồi ấy tôi thuộc nằm lòng nhưng giờ chỉ còn nhớ mang máng.

“Mỗi khi cất lời, để sự thật và chính trực lên tiếng...”

Tôi quyết định quay về phòng, nghiền ngẫm lại những dòng đó. Tôi nhớ đó là cuốn sách như kim chỉ nam cho cách sống tốt và cư xử mẫu mực. Bố tin vào kim chỉ nam đó và muốn tôi cũng tin nó.

Trong một bữa trưa, bố thú nhận với tôi từ khi mẹ mất, nhiều lần bố muốn tự sát. Chỉ khi đứng trước suy nghĩ không thể bỏ hai anh em tôi ở lại, bố mới đổi ý. Để xoa dịu, bố được kê đơn Valium (*) . Dần dà bố thay nó bằng rượu để giúp bố bớt căng thẳng rồi chìm vào giấc ngủ. Tôi chưa bao giờ thấy bố say, mỗi chiều bố chỉ uống nhiều nhất một, hai pint rượu trái cây Devon nhằm giúp cuộc hôn nhân bẽ bàng, bất hạnh của bố dễ thở hơn phần nào.

Bố không chỉ nói về cuộc đời, những lầm lỗi và nỗi ân hận của mình, bố còn cho tôi biết mình tự hào về mấy đứa con như thế nào: Helen làm giáo viên, Robert làm giảng viên đại học, tôi làm bác sĩ. Nếu mẹ còn sống mẹ sẽ tự hào ra sao. Tôi xúc động mãnh liệt khi nghe những lời chúc phúc của bố và có linh cảm đang nhận được hồng ân từ cả bố và mẹ cùng lúc. Thậm chí giờ đây khi bố đã khuất núi từ lâu, tôi vẫn cho phép mình được cảm thấy xúc động khôn nguôi khi nhớ lại những từ ngữ ấy, trong một nhà hàng khá tồi ở khu Soho. May mắn cho tôi làm sao khi đã kịp có những buổi nói chuyện gần gũi đến thế với người đàn ông yêu dấu ấy.

Một năm sau, những đau khổ kết thúc. Bố nhận được công việc dạy học ở Đại học Loughborough, Khoa Quản lý. Đó là thành tựu rực rỡ đối với một người nghỉ học năm mười bốn tuổi. Bố tôi và Joyce đành bán căn nhà của gia đình, chuyển đến sống ở một vùng khác. Tôi đã tò mò muốn biết rồi họ sẽ trải qua những thay đổi nào nữa nhưng hóa ra lại là tín hiệu tốt lành: không còn bóng dáng tang thương của người vợ cũ trong căn nhà mới ở Loughborough.

Đa số sinh viên về thăm nhà vào kỳ nghỉ nhưng đây là thói quen tôi sớm gạt bỏ từ trước khi nó được thành hình. Vào các kỳ nghỉ hè tôi đều đi làm hoặc du lịch. Mùa hè năm 1974, bon bon lái xe Bắc tiến dọc bờ biển nước Ý nhắm hướng Venice cùng vài người bạn, tôi ngây thơ chưa biết mình vừa bỏ lại những cơn đảo chính ở Hy Lạp phía sau lưng. Băng cát-xét đang phát bản Tubular Bells (*) ... Dù sao đi nữa, tôi không về nhà không hẳn vì bố và Joyce chẳng còn ở đó. Có thể một chiếc rễ của cuộc đời tôi đã dịch chuyển nhưng một cái khác lại vừa thành hình. Tôi có bạn gái, nhìn cô ấy, tôi như thấy tương lai của mình.

« Lùi
Tiến »