Người Đàn Bà Bí Ẩn

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
“yser, đau khổ thà chết đi!”

Toul, Bar-le-Duc, Vitry-le-François... Những thành phố nhỏ trôi qua vùn vụt khi đoàn tàu dài ngoằng mang Paul và Bernard đi về phía tây sang Pháp. Vô số chuyến tàu khác đã khởi hành trước và sau chuyến tàu của họ, chật ních binh lính và vũ khí đạn dược chiến tranh. Hai anh em tới vùng ngoại ô Paris rồi ngoặt sang phía bắc, đi qua Beauvais, Amiens và Arras.

Họ cần phải tới đó trước tiên, nhằm hội quân với những người lính Bỉ oai hùng và cùng họ tiến càng sâu càng tốt. Từng dặm đường họ chiếm lại đồng nghĩa với từng lãnh thổ họ giành được từ tay quân xâm lược từ cuộc tổng động viên lớn đã được chuẩn bị trước.

Thiếu úy Paul Delroze - anh được phong quân hàm mới trong chuyến đi - đã hoàn thành chuyến hành quân bắc tiến như một giấc mơ, ngày nào cũng chiến đấu, mạo hiểm mạng sống từng giờ từng phút, dẫn dắt binh lính của mình bằng sự táo bạo không thể cưỡng lại, tất cả như thể anh chỉ biết đâm đầu vào nguy hiểm mà không suy xét, phó mặc cho ý trời.

Trong khi Bernard tiếp tục mạo hiểm mạng sống với nụ cười trên môi, như thể một trò chơi, ủng hộ lòng quả cảm của người đồng đội bằng sự can trường vô tư của mình, Paul lại trầm mặc và xa cách. Tất cả mọi thứ - sự mệt mỏi, hoàn cảnh thiếu thốn, thời tiết - dường như với anh chỉ là vấn đề thứ yếu.

Tuy nhiên, anh cảm thấy sung sướng vô cùng như thi thoảng anh thú nhận với Bernard, khi tiến thẳng ra chiến tuyến. Anh có cảm giác như mình đang chiến đấu vì một mục đích rõ ràng, mục đích duy nhất anh quan tâm: giải cứu Elisabeth. Ngay cả cho dù anh đang tấn công tiền tuyến này chứ không phải tiền tuyến kia, ở phía đông, anh vẫn lao lên phía trước bằng tất cả sức mạnh của lòng căm thù đối với kẻ thù ghê tởm. Cho dù kẻ thù ấy có bị đánh bại ở đây hay ở đó cũng chẳng có gì khác biệt mấy. Dù thế nào đi nữa, Elisabeth vẫn sẽ được tự do.

“Chúng ta sẽ thành công.” Bernard nói. “Anh có thể chắc chắn rằng chị Elisabeth sẽ thông minh hơn con lợn đó. Trong khi ấy, chúng ta sẽ đè bẹp bọn Đức, hăng hái băng qua châu Âu, đánh vào phía sau Conrad và chiếm lấy Ebrecourt. Đề xuất này đủ khiến anh mỉm cười chưa? Ôi, không, anh chẳng bao giờ cười cả đúng không, khi anh đánh bại chúng? Không phải anh! Kiểu ít cười của anh nói cho em biết rất nhiều điều. Em tự nhủ với mình: “Một viên đạn trúng đích.” Hoặc: “Thế đấy, cuối cùng anh ấy đã xiên được một thằng!” Vì anh luôn có cách riêng để xiên chúng. Thế đấy, anh luôn chắc chắn về những việc mình làm. À, Trung úy này, chúng ta đã trở nên mạnh mẽ làm sao! Đơn giản chỉ thông qua chiến trận! Và nghĩ đến điều ấy đủ khiến chúng ta cười!”

Roye, Lassigny, Chaulnes... Sau đó là kênh Bassée và con sông Lys... Tiếp theo và cuối cùng, Ypres, Ypres! Đây là nơi hai chiến tuyến gặp nhau, trải dài đến tận biển. Sau các con sông của Pháp, sau những Marne, Aisne, Oise và Somme, một dòng suối nhỏ của Bỉ sẽ nhuộm đỏ máu của những chàng lính trẻ. Trận chiến kinh hoàng ở Yser đang bắt đầu.

Sớm được đeo lon trung sĩ, Bernard cùng Paul Delroze sinh tồn trong cái địa ngục này cho đến những ngày đầu tháng Mười hai. Cùng với phân nửa lính Paris, một người lính tình nguyện, một cậu lính dự bị và một tay lính Bỉ có tên là Laschen, người đã trốn thoát khỏi Roulers và gia nhập quân đội Pháp nhằm chạm trán kẻ thù nhanh hơn, họ tạo thành một nhóm nhỏ dường như băng qua lửa đạn. Trong số toàn bộ tiểu đội do Paul chỉ huy, chỉ duy nhất tiểu đội này còn nguyên vẹn; và khi các tiểu đội tái hợp, một lần nữa họ lại lập nhóm với nhau. Họ xông pha trong tất cả những pha chinh phục nguy hiểm. Và cứ mỗi lần hoàn thành nhiệm vụ, họ lại gặp nhau, an toàn và khỏe mạnh, không có lấy một vết xước, như thể họ truyền may mắn sang nhau.

Trong hai tuần lễ cuối cùng, bị đẩy tới điểm quyết liệt nhất của tiền tuyến, trung đoàn mắc kẹt giữa chiến tuyến Bỉ một bên và chiến tuyến Anh một bên. Những trận tấn công hào hùng đã diễn ra. Những màn giáp lá cà bằng lưỡi lê dưới bùn, thậm chí lội ì oạp trong những cánh đồng đỏ máu; và quân Đức thiệt mạng hàng ngàn, hàng ngàn tên.

Bernard cực kỳ ngây ngất.

“Tommy!” Cậu ta nói với một chàng lính Anh nhỏ bé, người mà có lần kề vai cậu ta tiến bước dưới làn đạn mà chẳng hiểu một câu tiếng Pháp nào. “Tommy này, chẳng ai ngưỡng mộ mấy chàng lính Bỉ nhiều hơn tớ đâu nhá, nhưng họ không làm tớ chao đảo được đâu, lý do đơn giản là bởi họ chiến đấu theo cách của tụi mình; tức là, như bầy sư tử ấy. Những chàng trai khiến tớ chao đảo là mấy kẻ ăn mày người Anh như cậu ấy. Cậu khác biệt lắm có biết không? Cậu làm việc theo cách riêng của mình... và nó thật tuyệt làm sao! Không lo âu, không giận dữ. Cậu kìm nén tất cả lại. À đương nhiên, cậu hóa điên khi bị đẩy lui; đó là khi cậu thực sự khủng khiếp! Chỉ khi nào cậu bị đánh lùi lại một chút thì đó mới là lúc cậu nguy hiểm nhất. Kết quả: Đập nát bọn Đức!”

Cậu ta ngừng lại rồi nói tiếp: “Nhớ lấy lời tớ này, Tommy, bọn này cảm thấy rất tự tin khi có cậu cùng sát cánh chiến đấu. Nghe đây và tớ sẽ cho cậu biết một bí mật lớn. Ngay bây giờ nước Pháp sẽ nhận được rất nhiều tràng tung hô; và nàng xứng đáng được thế. Tất cả chúng ta đều đang đứng vững trên đôi chân của mình, ngẩng cao đầu và không khoa trương. Trên gương mặt chúng ta nở nụ cười và hoàn toàn bình tĩnh, với những tâm hồn đẹp và đôi mắt sáng trong. Lý do tại sao chúng ta không chùn bước, tại sao chúng ta có lòng tự tin không lay chuyển trong trái tim, đó là vì có cậu chiến đấu cùng chúng tớ. Đúng như tớ nói đấy, Tommy. Nhìn đây, cậu có biết chính xác lúc nào nước Pháp cảm thấy hơi bồn chồn trong dạ không? Trong suốt cuộc rút lui khỏi nước Bỉ ư? Không hề nhé! Khi Paris suýt bị cướp phá ư? Không hề nhé! Cậu bỏ cuộc sao? Thực ra chỉ một, hai ngày đầu thôi. Lúc đấy cậu thấy đó, chúng ta biết mình sắp chết rồi, mà không cần phải nói ra, thậm chí không cần phải thừa nhận với chính mình. Chẳng còn ai cứu được nữa. Chẳng có thời gian chuẩn bị nữa. Chúng ta sẽ chết như những người lính. Và cho dù tớ nói thế này là không nên, nhưng nước Pháp đã hành xử rất hay. Nàng đã phóng thẳng tới cái chết mà không nhíu mày nhăn mặt, với nụ cười tươi sáng nhất nở trên môi, cõi lòng hân hoan như thể đang tiến tới chiến thắng mười mươi. - Chào Hoàng đế César, những kẻ sắp chết kính chào ngài! - Chết ư? Tại sao không, vì phẩm giá của chúng ta đòi hỏi điều đó? Chết để cứu thế giới này? Cậu hoàn toàn đúng! Và rồi bất ngờ London gọi điện đến cho chúng ta. “Xin chào! Các cậu là ai thế? Nước Anh đang nói đây.” “Thế á?” “Chà, tôi đang đến đây.” “Cậu nói thật chứ?” “Đúng thế - bằng con thuyền cuối cùng của tôi, cùng người đồng đội cuối cùng của tôi, với đồng shilling cuối cùng của mình.” Thế... ôi thế là sắp có thay đổi đáng kể trên tiền tuyến rồi! Chết ư? Không nhé! Giờ không cần phải hỏi câu đó! Sống, đúng rồi, và chinh phục! Cả hai chúng ta sẽ chiến thắng định mệnh. Từ ngày hôm đó, nước Pháp không còn biết đến một khoảnh khắc khó chịu nào. Rút lui ư? Chuyện vặt. Paris bị chiếm đóng ư? Chỉ là tai nạn thôi! Điều duy nhất quan trọng: kết quả cuối cùng. Chiến đấu chống lại Anh và Pháp, chẳng còn gì cho bọn Đức làm nữa ngoài việc quỳ gối xuống. Đây, Tommy, tớ sẽ bắt đầu với tên kia, thằng cha béo ị dưới gốc cây kia. Quỳ xuống, thằng mập này!... Chào! Tommy! Cậu sẽ đi về đâu nào? Có phải họ đang gọi cậu không? Tạm biệt nhé, Tommy! Gửi tình yêu của tớ tới Anh nhé!”

Lúc ấy là buổi tối ngày hôm đó, khi Đại đội Ba đang có cuộc giao tranh nhỏ gần Dixmude, thì xảy ra một biến cố khiến cả hai anh em vô cùng kinh ngạc. Bất chợt Paul cảm thấy một cú đánh rất mạnh vào mạng sườn phải, ngay phía trên hông. Anh không có thời gian bận tâm đến nó. Tuy nhiên, khi rút về các chiến hào, anh trông thấy một viên đạn đã xuyên qua bao súng ngắn của mình và đang ép chặt vào báng súng. Giờ căn cứ theo vị trí Paul đã đứng, viên đạn chắc phải được bắn từ sau lưng anh; cũng tức là, tên lính bắn phát súng này ở trong đại đội của anh hoặc thuộc đại đội khác trong trung đoàn của anh. Liệu có phải tình cờ không? Một phút vụng về chăng?

Hai ngày sau, đến lượt Bernard. Cậu ta cũng gặp may nốt. Một viên đạn bắn xuyên ba lô sượt qua bả vai cậu ta.

Và bốn ngày sau đó, Paul bị bắn xuyên qua mũ: Cả lần này nữa, viên đạn bắn ra từ các phòng tuyến quân Pháp.

Vậy là không nghi ngờ gì nữa. Rõ ràng hai anh em đang bị biến thành mục tiêu; và kẻ phản bội, một tên tội phạm ăn tiền của kẻ địch, đang náu mình trong hàng ngũ quân Pháp.

“Hai năm rõ mười luôn rồi.” Bernard nói. “Trước tiên là anh, rồi tới em, rồi lại anh. Có bàn tay của Hermann ở đâu đây. Tên Thiếu tá chắc đang ở Dixmude.”

“Và có lẽ cả Hoàng tử nữa.” Paul nhận xét.

“Rất có khả năng. Dù sao đi nữa, một trong các đặc vụ của chúng đã trà trộn vào chúng ta. Làm sao chúng ta tóm hắn đây? Nói cho Đại tá biết à?”

“Nếu cậu muốn, Bernard, nhưng đừng nói gì về hai anh em mình, về mâu thuẫn riêng của chúng ta với tên Thiếu tá. Đã có lúc anh nghĩ nên nói cho ngài Đại tá biết, nhưng rồi lại thôi, vì anh không muốn lôi tên Elisabeth vào.”

Tuy nhiên, hai anh em chẳng có dịp nào bẩm báo lên cấp trên. Cho dù các nỗ lực đoạt mạng sống của Paul và Bernard không còn lặp lại nữa, nhưng hằng ngày lại xuất hiện những chiêu lừa đảo mới. Các trận địa pháo của Pháp bị phát hiện và bị tấn công, tình hình của họ đều bị đoán trước, mọi thứ đều cho thấy một hệ thống theo dõi đã được hình thành một cách tinh vi và có quy mô rộng hơn bất kỳ nơi đâu. Họ cảm thấy tên Thiếu tá Hermann chắc chắn đang ở quanh đây, rõ ràng hắn là một trong những nhân vật chính của hệ thống này.

“Hắn đang ở đây.” Bernard nói, chỉ tay sang các phòng tuyến Đức. “Hắn ở đây bởi vì trận chiến quan trọng đang diễn ra trong những đầm lầy kia, và vì hắn còn việc phải làm. Ngoài ra, hắn còn ở đây vì chúng ta cũng ở đây.”

“Làm sao hắn biết được.” Paul phản đối.

Bernard vặc lại: “Thế làm sao hắn không biết?”

Một buổi chiều, có cuộc gặp gỡ của các thiếu tá và đại úy trong cabin được dựng làm trụ sở của Đại tá. Paul Delroze được lệnh đến tham gia và anh biết rằng Tướng Tư lệnh sư đoàn đã ra lệnh chiếm một căn nhà nhỏ nằm trên bờ trái con kênh, nơi vốn bình thường do những người lái phà ở. Quân Đức đã gia cố lại ngôi nhà và cố thủ trong đó. Hỏa lực từ các đại đội pháo từ xa của chúng, nằm trên vùng đất cao phía bờ bên kia đóng vai trò yểm trợ cho công sự này, biến nó trở thành trung tâm chiến sự suốt mấy ngày nay. Cần phải chiếm được căn nhà.

“Vì mục đích này...” Viên Đại tá nói. “... Chúng tôi đã kêu gọi một trăm người tình nguyện từ các đại đội châu Phi. Đêm nay họ sẽ lên đường và bắt đầu tấn công vào sáng mai. Việc của chúng ta là hỗ trợ họ ngay lập tức, và sau khi cuộc tấn công kết thúc tốt đẹp, sẽ bẻ gãy những cuộc phản công, mà chắc chắn sẽ kèm hỏa lực rất mạnh vì tầm quan trọng của cứ điểm này. Các quý ông, tất cả đều đã biết đến cứ điểm này. Nó nằm cách chúng ta một đầm lầy mà các binh sĩ tình nguyện châu Phi đêm nay sẽ xâm nhập... ai đấy nói nó cao đến thắt lưng chúng ta. Nhưng về bên phải đầm lầy, dọc con kênh, có một đường ven sông mà chúng ta có thể dùng để đi giải cứu. Con đường này vốn được pháo binh cả hai bên bờ dọn sạch thành lối đi rất rộng. Dù thế, nửa dặm phía trước ngôi nhà của cánh lái phà có một ngọn hải đăng cũ từng bị quân Đức chiếm cho đến sau này, và cũng là nơi pháo binh của chúng ta vừa phá hủy. Chúng đã sơ tán hoàn toàn chưa? Liệu có khả năng đụng phải tiền đồn ở đó không? Nếu chúng ta có thể tìm hiểu được thì tốt; và tôi nghĩ đến cậu đấy, Delroze.”

“Xin cảm ơn ngài.”

“Việc này không nguy hiểm, nhưng rất tinh tế; và sẽ phải thật chắc chắn. Tôi muốn cậu bắt đầu ngay đêm nay. Nếu ngọn hải đăng cũ ấy có người ở thì quay về ngay. Nếu không, đưa ở mười hai binh sĩ đáng tin cậy đến đó ẩn nấp thật kín đáo cho tới khi chúng ta đến. Nó sẽ trở thành một căn cứ tuyệt vời.”

“Rất tốt, thưa ngài.”

Ngay lập tức, Paul tiến hành thu xếp, tập hợp một nhóm nhỏ những cậu lính Paris của mình với mấy anh lính tình nguyện cùng cậu lính dự bị và Laschen, tay lính người Bỉ, đội đặc nhiệm quen thuộc của anh, anh cảnh báo họ rằng có thể anh muốn họ hành động cả đêm nay, và vào lúc chín giờ tối, họ lên đường, đi cùng có Bernard d’Andeville.

Hỏa lực từ các khẩu súng của quân thù giam chân họ trên bờ kênh, phía sau một thân cây liễu to đùng, đã nhổ bật rễ một lúc khá lâu. Sau đó, bóng đêm mịt mùng phủ xuống quanh họ, đậm đặc đến nỗi thậm chí họ còn không nhìn ra được mặt nước của con kênh.

Họ bò sát xuống đất thay vì đi thẳng, vì lo sợ những ánh đèn pin bất ngờ chiếu phải. Một làn gió nhẹ đang thổi qua những cánh đồng lầy lội và trên các đầm lầy, vốn run rẩy với tiếng thì thầm của những đám sậy.

“Ở đây đáng sợ thật.” Bernard lẩm bẩm.

“Im miệng đi.”

“Nếu anh muốn, Trung úy.”

Những khẩu súng tiếp tục nổ ầm ầm từng quãng chẳng vì lý do gì, như lũ chó sủa chỉ vì muốn tạo tiếng ồn phá tan bầu không khí im lặng sâu thẳm, căng thẳng; và ngay lập tức, những khẩu súng khác cũng tức tối gầm lên đáp lại, như thể đến lượt chúng tạo tiếng ồn, chứng minh rằng chúng không hề ngủ.

Một lần nữa, tất cả lại lặng im. Chẳng có gì khuấy động không gian ấy. Cảm tưởng như ngay mặt cỏ của các đầm lầy cũng không còn lay động. Thế nhưng, Bernard và Paul dường như nhận thức được bước tiến chậm rãi của các binh sĩ tình nguyện châu Phi cũng lên đường cùng thời điểm như họ, những lần họ dừng lại thật lâu giữa vùng nước buốt giá, những nỗ lực đáng gờm của họ.

“Ngày càng đáng sợ hơn.” Bernard thở dài.

“Đêm nay cậu đa cảm quá đấy.” Paul nói.

“Là do sông Yser. Anh biết người ta nói gì không: “Yser, đau khổ thà chết đi!”.”

Bỗng họ tới được đất liền. Kẻ thù đang quét đèn pha khắp lối đi và các đầm lầy. Có thêm hai lần báo động nữa, cuối cùng họ cũng tới được chỗ mà ánh đèn pha ngọn hải đăng cũ không thể quét tới.

Lúc đó đã mười một rưỡi đêm. Họ hết sức thận trọng khi lẻn vào giữa các công trình xây dựng bị phá hủy và sớm nhận ra tiền đồn đã bị bỏ hoang. Tuy nhiên, dưới những bậc cầu thang vỡ nát, họ phát hiện ra một cánh cửa sập mở toang có chiếc cầu thang dẫn xuống một tầng hầm làm lộ ra những ánh gươm và mũ sắt lập lòe. Nhưng khi rọi vào các góc tối từ phía trên bằng các chùm đèn pin điện tử, Bernard tuyên bố: “Chẳng có gì phải sợ hết, chúng ngỏm hết rồi. Bọn Đức chắc đã quẳng hết chúng xuống đó, sau đợt oanh kích gần đây.”

“Đúng!” Paul nói. “Và chúng ta phải đề phòng thực tế rằng chúng có thể cử thêm người đến. Liên tục cảnh giới bờ sông Yser đi, Bernard.”

“Và giả sử một trong những tên ăn mày vẫn còn sống à?”

“Anh sẽ xuống dưới xem sao.”

“Lộn trái hết túi quần, túi áo chúng ra.” Bernard nói, khi Paul rời đi. “Và mang về cho bọn này mấy cuốn sổ tay của chúng nhé. Em thích lắm đấy. Những cuốn sổ sẽ cho chúng ta thấy rõ nhất trạng thái tâm hồn của chúng... hoặc tình trạng bụng dạ của chúng.”

Paul bước xuống. Tầng hầm này thuộc loại khá rộng. Nửa tá xác chết nằm rải rác khắp sàn, tất cả đều không còn sức sống và đã lạnh ngắt. Theo lời khuyên của Bernard, anh lộn trái hết các túi áo, túi quần và cẩn thận tìm kiếm các cuốn sổ tay. Chẳng có gì hấp dẫn để anh chú ý. Tuy nhiên, trong áo của tên lính thứ sáu mà anh khám xét, một tên gầy gò, lùn tịt, bị bắn xuyên qua đầu, anh tìm thấy một cuốn sổ bỏ túi mang tên Rosenthal, bao gồm các tờ giấy bạc ngân hàng và một xấp thư từ mang các dấu tem bưu chính Tây Ban Nha, Hà Lan và Thụy Sĩ. Tất cả các bức thư đều viết bằng tiếng Đức, được gửi đến một tên đặc vụ Đức đang cư trú tại Pháp, không thấy đề tên, và được hắn gửi đến binh nhì Rosenthal, là cái xác chết mà Paul đã phát hiện ra. Tên binh nhì này sẽ chuyển tiếp các bức thư, cùng với một tấm ảnh, đến một người thứ ba, được hắn gọi là Tướng quân.

“Mật vụ.” Paul nói, xem xét qua các bức thư. “Thông tin tuyệt mật... Những con số thống kê... Đúng là một lũ vô lại làm sao!”

Tuy nhiên, khi liếc nhìn lại cuốn sổ bỏ túi, anh trông thấy một phong bì, liền xé ra. Bên trong là một tấm ảnh, và Paul kinh ngạc trước hình ảnh ấy đến nỗi phải thốt lên. Trong bức ảnh là ả đàn bà có bức chân dung mà anh đã xem trong căn phòng khóa kín tại Ornequin, vẫn là ả đàn bà đó, với chiếc khăn quàng cổ có ren, cách choàng khăn cũng giống, nét mặt cũng giống, với vẻ nghiệt ngã không còn được che giấu bằng nụ cười. Và chẳng phải đó chính là nữ Bá tước Hermine d’Andeville, mẹ của Elisabeth và Bernard hay sao?

Dòng chữ in là tên một nhiếp ảnh gia Berlin. Lật ngược tấm ảnh lại, Paul nhìn thấy một thứ khiến anh càng thêm sững sờ. Có vài từ viết tay: “ Gửi Stéphane d’Andeville, 1902.”

Stéphane là tên Thánh của nữ Bá tước d’Andeville!

Do đó, bức ảnh này được gửi từ Berlin đến cho cha của Elisabeth và Bernard vào năm 1902, cũng tức là bốn năm sau cái chết của nữ Bá tước Hermine, vậy là Paul đối mặt với một trong hai lựa chọn: Hoặc là tấm ảnh được chụp trước khi nữ Bá tước Hermine qua đời, dòng chữ kia chính là năm nữ Bá tước nhận được tấm ảnh; hoặc bà ta vẫn còn sống.

Bất chấp bản thân phản đối, Paul nghĩ đến Thiếu tá Hermann, người mà ký ức về hình ảnh của hắn được gợi ý cho trí óc hỗn loạn của anh nhờ tấm chân dung này, giống như bức tranh khi anh nhìn thấy trong căn phòng khóa kín. Hermann! Hermine! Và đây là hình ảnh Hermine do anh phát hiện ra trên xác chết của một tên gián điệp Đức, bên hai bờ sông Yser, nơi mà tên trưởng nhóm gián điệp, kẻ mà chắc chắn là Thiếu tá Hermann, chắc giờ đây đang lảng vảng.

“Paul! Paul!” Cậu em vợ đang gọi anh.

Paul đứng vụt dậy, giấu tấm ảnh đi, cố gắng quyết tâm không nói lời nào về tấm ảnh với Bernard, rồi trèo lên thang. “Chuyện gì thế, Bernard?”

“Một nhóm nhỏ lính Đức... Ban đầu em nghĩ rằng chúng là bọn tuần tra, đến thay phiên gác, rằng chúng sẽ tiếp tục ở trên bờ bên kia. Nhưng chúng đã nhổ neo hai cái thuyền và đang chèo sang bờ bên này con kênh.”

“Đúng, anh nghe thấy rồi.”

“Có bắn chúng không?” Bernard gợi ý.

“Không, làm thế sẽ gây náo động. Tốt hơn nên theo dõi chúng thôi. Thêm nữa, việc của chúng mình ở đây là theo dõi.”

Nhưng đúng lúc này, có một tiếng huýt sáo nhỏ từ con đường ven sông. Từ trên thuyền vang lên tiếng huýt sáo đáp lại. Hai tín hiệu khác được trao đổi cách đều nhau.

Một tiếng chuông nhà thờ điểm đúng nửa đêm.

“Đó là một cuộc hẹn.” Paul phỏng đoán. “Chuyện này ngày càng thú vị. Đi theo anh. Anh để ý có một chỗ dưới này mà anh nghĩ sẽ rất an toàn, không ai biết đâu.”

Đó là một căn hầm phụ ngăn cách với căn hầm chính bằng bức tường gạch có một lỗ thủng mà hai anh em có thể dễ dàng đi xuyên qua. Họ nhanh chóng lấp kín lỗ thủng bằng những viên gạch rơi xuống từ trên trần và trên các bức tường.

Họ vừa làm xong việc thì nghe thấy những tiếng bước chân trên đầu, mấy từ tiếng Đức lọt vào tai họ. Nhóm binh lính có vẻ khá đông. Bernard luồn và đặt cố định nòng súng trường trên một trong mấy cái lỗ thông khí trong công sự của họ.

“Cậu đang làm gì thế?” Paul hỏi.

“Chuẩn bị sẵn sàng phòng khi chúng tới. Anh em mình có thể chịu đựng được đợt vây hãm chính thức ở đây.”

“Đừng có ngốc thế, Bernard. Nghe này, có lẽ chúng ta sẽ nghe hiểu được vài từ đấy.”

“Với anh thì có thể. Chứ em thì tiếng Đức nó không biết em...”

Một ánh sáng chói mắt bất ngờ lấp đầy căn hầm. Một tên lính trèo xuống thang và kê ngọn đèn điện tử cỡ lớn vào một cái hốc trên tường. Theo sau hắn là hơn mười tên khác, hai anh em ngay lập tức hiểu rằng chúng đến để dọn xác chết.

Chuyện này không kéo dài lâu. Trong vòng bốn mươi nhăm phút, trong căn hầm chẳng còn lại gì ngoài một xác chết, của Rosenthal, tên gián điệp.

Một giọng nói hống hách ra lệnh từ phía trên: “Các ngươi ở lại đó, chờ bọn ta. Còn ngươi, Karl, xuống đó trước đi.”

Ai đó xuất hiện trên những thanh ngang trên cùng của thang. Paul và Bernard giật bắn mình khi nhìn thấy hai ống quần màu đỏ, sau đó là chiếc áo dài màu xanh và đầy đủ quân phục của một tên binh nhì Pháp. Người đàn ông nhảy xuống đất và kêu lên: “Tôi xuống đây rồi, Tướng quân. Ngài cũng xuống đi.”

Rồi họ trông thấy Laschen, tên người Bỉ, hoặc tự xưng mình là người Bỉ và có tên Thánh là Laschen, thuộc tiểu đội của Paul. Giờ thì họ đã biết ba phát súng nhắm vào mình từ đâu mà đến rồi. Kẻ phản bội ở ngay đó. Dưới ánh đèn, họ rõ ràng nhận ra mặt gã, gương mặt của một người đàn ông bốn mươi tuổi, với những nét phì nộn, chảy xệ và đôi mắt có viền đỏ. Gã nắm chặt các trụ đứng của cái thang để giữ nó đứng thẳng. Một tên sĩ quan thận trọng trèo xuống, hắn mặc áo khoác xám rộng thùng thình với cổ áo dựng lên.

Họ đã nhận ra Thiếu tá Hermann.

« Lùi
Tiến »