Paul Delroze không nói lời nào. Lôi tên tù nhân đến trước mặt, sau khi trói chặt hai cổ tay tên Thiếu tá ra sau lưng, anh quay lại với dãy thuyền trong bóng tối được chiếu sáng nhờ những chớp nháy của đèn pin.
Cuộc chiến đấu còn tiếp tục. Nhưng một số tên địch nhất định đã cố gắng chạy trốn, khi những người lính tình nguyện bảo vệ dãy thuyền tiếp đón chúng bằng một loạt đạn, chúng cho rằng đường rút của mình đã bị cắt đứt; sự chuyển hướng này khiến thất bại đến với chúng nhanh hơn.
Khi Paul đến nơi, cuộc chiến đã kết thúc. Tuy nhiên không sớm thì muộn, kẻ thù sẽ mở cuộc phản công, với sự hỗ trợ của quân tiếp viện như đã hứa với tên sĩ quan chỉ huy, công tác phòng thủ được xúc tiến ngay lập tức.
Ngôi nhà của người lái phà, vốn đã được quân Đức gia cố mạnh mẽ và bao quanh là những chiến hào, bao gồm một tầng trệt và tầng trên cùng có ba phòng, giờ chỉ sử dụng một phòng. Nhưng phía sau căn phòng lớn này là một chỗ thụt vào với một cái mái dốc, có ba bậc thang để lên tới đó, từng có thời được sử dụng làm tầng áp mái của người hầu. Được phân công bố trí tầng trên cùng này, Paul mang tên tù nhân của mình lên đây. Anh quẳng hắn xuống sàn, lấy một sợi dây trói hắn lại rồi buộc cố định vào xà nhà; trong khi làm thế, nỗi căm thù trào lên như sóng cồn đến nỗi anh bóp chặt cổ họng hẳn như thể muốn bóp chết hắn.
Nhưng anh đã kịp kiềm chế được. Rốt cuộc, chẳng việc gì phải vội. Trước khi giết tên này hoặc bàn giao cho binh lính lôi hắn ra dựa tường xử bắn, sao lại không dành cho hắn sự thỏa mãn tối cao là đưa ra lời giải thích nhỉ?
Khi viên Trung úy đến, Paul cố tình nói để tất cả đều nghe thấy, đặc biệt là tên Thiếu tá: “Tôi xin gửi tên vô lại này cho ngài chăm sóc, thưa Trung úy. Hắn là Thiếu tá Hermann, một trong những tên gián điệp hàng đầu trong quân đội Đức. Tôi có bằng chứng chứng minh đây. Hãy nhớ lấy điều đó, dù cho bất kỳ chuyện gì xảy ra với tôi. Và nếu chúng ta buộc phải rút lui...”
Viên Trung úy mỉm cười. “Khỏi thắc mắc chuyện đó. Chúng ta sẽ không rút lui, vì lý do rất chính đáng là tôi thà cho nổ tung cái căn nhà lụp xụp này trước. Cho nên Thiếu tá Hermann cũng sẽ tan xác cùng chúng ta thôi. Tâm trí cậu thoải mái rồi chứ.”
Hai viên sĩ quan thảo luận các biện pháp phòng thủ sẽ được áp dụng, và mọi người nhanh chóng vào việc.
Trước hết, dãy thuyền sẽ được tháo ra, các con hào được đào dọc kênh và các khẩu súng máy được quay sang hướng khác. Trên tầng một, Paul chuyển các túi cát từ chỗ này sang chỗ kia căn nhà và các vách tường yếu ớt của bức tường được chống đỡ bằng các cây cột.
Vào lúc năm rưỡi, dưới các chùm sáng của đèn pin quân Đức, vài quả đạn pháo đã rơi xuống xung quanh. Một trong các quả pháo bắn trúng căn nhà. Những khẩu súng lớn bắt đầu càn quét con đường ven sông.
Vài phút trước bình minh, một tiểu đội lính đi xe đạp tiến đến theo con đường này, với Bernard d’ Andeville đi đầu. Cậu ta giải thích rằng hai đại đội và một tiểu đội công binh sẽ lên đường trước một tiểu đoàn hoàn chỉnh, nhưng bước tiến của họ bị cản trở bởi đạn pháo kẻ thù nên buộc phải đi men các đầm lầy, dưới sự yểm trợ của con đê đỡ con đường ven sông. Thế nên họ sẽ hành quân chậm lại, phải một tiếng nữa họ mới tới đây được.
“Một tiếng” Trung úy nói. “Sẽ khó khăn đấy, nhưng chúng ta có thể làm được, thế nên...”
Trong khi ông ta ban các lệnh mới và cắt các binh lính đi xe đạp vào vị trí, Paul bước lên: Anh vừa định nói với Bernard về chuyện đã bắt được Thiếu tá Hermann rồi, thì em vợ anh lại nói trước: “Paul, nói anh nghe này, em đi cùng cha em đấy!”
Paul giật mình. “Cha cậu ở đây sao? Cha cậu đi cùng cậu à?”
“Đúng vậy, và theo một cách tự nhiên nhất. Anh phải biết rằng ông ấy đã tìm kiếm cơ hội này lâu rồi. À mà, ông ấy đã được thăng chức làm thiếu úy thông dịch...”
Paul không muốn nghe nữa. Anh chỉ nói với chính mình: “Ngài d’ Andeville đang ở đây... Ngài d’ Andeville, chồng của nữ Bá tước Hermine. Chắc chắn ông ta phải biết ả còn sống hay đã chết? Hay đến cuối cùng ông ta chỉ là nạn nhân của ả đàn bà mưu mô, phải chăng ông ta vẫn còn nhớ nhung hồi ức yêu thương về người đàn bà đã biến mất khỏi cuộc đời mình? Nhưng không, không thể nào, vì có bức ảnh đó, nó được chụp bốn năm sau đó và gửi đến cho ông ta, gửi đến cho ông ta từ Berlin! Nên ông ta biết, và rồi...?”
Paul bối rối. Những tiết lộ của Karl, tên gián điệp, bất ngờ có chi tiết chấn động về ngài d’Andeville. Và giờ số phận đẩy đưa ngài d’Andeville đến trước mặt Paul, vào đúng thời điểm vừa bắt giữ Thiếu tá Hermann.
Paul quay người về phía tầng áp mái. Tên Thiếu tá đang nằm im bất động, quay mặt vào tường.
“Cha cậu vẫn còn đang ở ngoài à?” Paul hỏi cậu em vợ.
“Vâng, ông ấy lấy xe đạp của một người đang đạp xe gần bọn em và đang bị thương nhẹ. Cha em đang chăm sóc cho anh ta.”
“Đi kiếm ông ấy về đây, và nếu Trung úy không phản đối...”
Ngắt lời anh là tiếng nổ của một mảnh đạn pháo với các viên đạn làm thủng lỗ chỗ các bao cát chất đống trước mặt họ. Bình minh đã lên. Họ có thể trông thấy đội hình hàng dọc của địch đang ló ra từ bóng tối cách một dặm là nhiều nhất.
“Trên đó sẵn sàng đi!” Viên Trung úy quát lên từ dưới sân. “Không bắn trả lại cho đến khi tôi ra lệnh. Không ai được phép xuất hiện!”
Phải mất bốn mươi nhăm phút sau đó Paul và ngài d’Andeville mới trao đổi với nhau được vài từ trong có vài phút. Hơn nữa, cuộc trò chuyện của họ gấp gáp đến nỗi mà Paul còn chẳng có thời gian quyết định xem mình nên có thái độ thế nào trước mặt cha của Elisabeth. Bi kịch của quá khứ, vai trò của chồng nữ Bá tước Hermine trong bi kịch đó: Tất cả những điều này cộng với việc phòng thủ lô cốt hòa lẫn vào nhau trong tâm trí anh. Bất chấp hai bên dành cho nhau tình cảm rất tốt, có vẻ như chẳng ai còn quan tâm đến chuyện chào hỏi.
Paul ra lệnh che kín ô cửa sổ nhỏ bằng một tấm đệm. Bernard đứng ở đầu kia phòng.
Ngài d’Andeville nói với Paul: “Các cậu sẽ cố thủ đúng không?”
“Chắc chắn, chúng tôi phải thế thôi.”
“Đúng, các cậu phải làm thế. Hôm qua khi cuộc tấn công được ấn định, tôi đang ở chỗ sư đoàn, có trách nhiệm phiên dịch cho một viên tướng Anh. Vị trí này có vẻ cực kỳ quan trọng, không thể thay thế nên chúng ta phải cố giữ lấy nó. Tôi thấy rằng việc này cho tôi có cơ hội gặp gỡ cậu, Paul, vì tôi biết trung đoàn của cậu sẽ ở đây. Thế nên tôi đã đề nghị đi cùng một toán quân nhỏ được lệnh...”
Lại ngắt quãng lần nữa. Một quả đạn pháo bay qua mái nhà làm bức tường phía đối diện con kênh đổ sụp.
“Có ai bị thương không?”
“Không, thưa ngài.”
Ngài d’Andeville nói tiếp: “Phần lạ lùng nhất trong chuyện này đó là việc tìm thấy Bernard đang ở chỗ viên Đại tá của cậu tối hôm qua. Cậu có thể tưởng tượng tôi đã mừng thế nào khi đi cùng các binh sĩ đi xe đạp. Đó là cơ hội duy nhất để tôi được nhìn thấy điều gì đó ở thằng bé, cơ hội được bắt tay cậu... Nhưng tôi không hề nhận được tin tức gì về Elisabeth tội nghiệp của tôi, và Bernard nói với tôi...”
“À!” Paul nói nhanh. “Bernard đã kể cho ngài nghe mọi chuyện xảy ra tại lâu đài rồi chứ?”
“Ít nhất nó kể hết những gì mình biết được, nhưng có rất nhiều chuyện khó hiểu, Bernard nói rằng cậu biết nhiều chi tiết chính xác hơn. Chẳng hạn, tại sao Elisabeth chọn ở lại lâu đài?”
“Vì cô ấy muốn thế.” Paul đáp. “Cho đến sau này tôi mới biết quyết định của cô ấy, qua một lá thư.”
“Tôi biết. Nhưng tại sao cậu không mang con bé đi theo há Paul?”
“Khi rời Ornequin, tôi đã chuẩn bị tất cả những thu xếp cần thiết để đón cô ấy đi.”
“Tốt! Nhưng lẽ ra cậu không nên rời khỏi Ornequin mà không có con bé. Tất cả mọi rắc rối đều từ đó mà ra.”
Ngài d’Andeville đang nói với vẻ chua chát rõ nét, khi Paul không trả lời, ông ta hỏi tiếp: “Tại sao cậu không đưa Elisabeth đi theo? Bernard nói rằng có chuyện gì đó rất nghiêm trọng, theo cậu nói là những hoàn cảnh ngoại lệ. Nếu không phiền, cậu có thể giải thích cho tôi.”
Dường như Paul nhận thấy vẻ thù địch ngấm ngầm của ngài d’Andeville, điều này càng khiến anh thêm bực gã đàn ông mà giờ đây anh vẫn chưa hiểu hết được con người ông ta.
“Ông có cho rằng…” Anh nói. “... Đây có phải là lúc thích hợp không?”
“Phải, phải, phải. Chúng ta có thể chia tay nhau bất kỳ lúc...”
Paul không để ông ta nói hết. Anh đột ngột quay người về phía cha vợ rồi thốt lên: “Ngài nói đúng, thưa ngài! Đó đúng là một ý tưởng tồi tệ. Nó sẽ tồi tệ nếu tôi không trả lời được những câu hỏi của ngài hoặc ngược lại. Số phận của Elisabeth có lẽ phụ thuộc vào vài từ mà chúng ta sắp nói ra đây. Vì chúng ta phải biết sự thật giữa tôi và ngài. Một từ đơn giản có thể khiến chúng ta hiểu rõ hơn, và ta không còn nhiều thời gian nữa. Giờ chúng ta phải nói ra... Dù cho bất kỳ chuyện gì xảy ra đi nữa.”
Ngạc nhiên trước sự phấn khích của anh, ngài d’Andeville liền hỏi: “Có cần gọi Bernard đến tham gia cùng không?”
“Không, không!” Paul đáp. “Không liên quan! Đó là chuyện cậu ta không được phép biết tới, vì nó liên quan đến...”
“Vì nó liên quan đến ai cơ?” Ngài d’ Andeville hỏi, ông ta đang ngày càng thấy kinh ngạc.
Một người đàn ông đứng gần họ trúng đạn và ngã xuống sàn. Paul lao đến bên người trợ lý của mình, nhưng người này bị đạn bắn xuyên trán và đã chết. Hai viên đạn nữa bay qua khe hở rộng hơn mức cần thiết, Paul đã ra lệnh phải đóng kín một phần lỗ hổng.
Trong khi đang giúp đỡ anh, ngài d’Andeville vẫn tiếp tục cuộc trò chuyện: “Cậu đang nói rằng Bernard không được nghe vì nó liên quan tới...”
“Mẹ cậu ta.” Paul đáp.
“Mẹ thằng bé? Ý cậu là gì? Mẹ thằng bé? Nó liên quan tới vợ tôi sao? Tôi không hiểu...”
Thông qua những cái hõm trên tường, họ có thể trông thấy các đội hình dọc của địch đang tiến quân, trên những cánh đồng ngập nước, chúng di chuyển về phía trước bằng các con đường đắp cao hẹp cùng đổ về phía con kênh đối diện ngôi nhà của người lái phà.
“Chúng ta sẽ bắn khi chúng ở cách con kênh hai trăm thước.” Viên Trung úy ra lệnh cho các tay lính tình nguyện, những người đã đến kiểm tra trận địa phòng thủ. “Giá mà súng của chúng không phá hủy cái căn nhà tồi tàn này quá nhiều.”
“Tiếp viện của chúng ta ở đâu?” Paul hỏi.
“Ba mươi hoặc bốn mươi phút nữa họ mới tới. Trong khi đó các khẩu bảy mươi lăm li đang làm rất tốt.”
Các quả đạn pháo đang bay qua không gian theo cả hai hướng vài quả rơi xuống giữa các đội hình dọc của Đức, những quả khác rơi xung quanh lô cốt. Paul chạy đến từng phía, động viên ủy lạo và ra chỉ thị cho binh lính. Thị thoảng anh lại chạy lên tầng gác mái và trông chừng Thiếu tá Hermann, kẻ vẫn đang nằm yên bất động. Rồi Paul lại quay về vị trí của mình.
Không một giây nào anh ngừng nghĩ đến bổn phận anh phải gánh vác khi là sĩ quan và là một người lính, không một giây nào anh không nghĩ đến những gì mình phải nói với ngài d’Andeville. Nhưng hai nỗi ám ảnh này hòa trộn vào nhau khiến tâm trí anh mù mịt! Anh không còn biết giải thích sao với cha vợ hay làm thế nào để tháo gỡ tình cảnh rối như canh hẹ này. Ngài d’Andeville đã hỏi đi hỏi lại mấy lần rồi. Nhưng anh không đáp.
Giọng Trung úy cất lên: “Chú ý!... Giơ súng lên!... Bắn!...”
Mệnh lệnh này được lặp lại bốn lần nữa. Đội hình dọc gần nhất của địch, thương vong vô số vì trúng đạn có vẻ tan rã. Nhưng những tên khác lại kéo lên thay thế, ráp lại đội hình.
Hai quả đạn pháo quân Đức bắn trúng căn nhà. Toàn bộ mái nhà bay mất, vài mét khoảnh đất trước nhà bị phá hủy, có ba người chết.
Sau trận bão đạn, không gian trở lại yên ắng. Nhưng Paul cảm nhận rõ ràng tất cả bọn họ đang bị nguy hiểm đến nỗi anh không chịu nổi nữa. Bất chợt, anh hạ quyết tâm nói ra bằng hết với ngài d’Andeville không cần rào trước đón sau nữa, anh nói: “Một từ đặc biệt... Tôi phải biết... Ngài có chắc chắn rằng nữ Bá tước d’Andeville đã chết rồi không?” Và không đợi câu trả lời, anh tiếp tục: “Vâng, chắc ngài nghĩ câu hỏi của tôi thật điên rồ. Có vẻ ngài cũng thấy thế vì ngài không biết. Nhưng tôi không điên, và tôi đề nghị ngài trả lời câu hỏi của tôi như ngài sẽ làm nếu tôi có thời gian nói rõ lý do thanh minh cho mình khi hỏi như thế. Nữ Bá tước Hermine đã chết chưa?”
Sau khi kiềm chế lại những cảm xúc và hài lòng chấp thuận giả thuyết mà Paul dường như khăng khăng đưa ra, ngài d’Andeville đáp: “Có bất cứ lý do nào cho phép cậu giả định rằng vợ tôi vẫn còn sống không?”
“Có những lý do rất nghiêm túc, tôi có thể nói vậy; những lý do không thể bàn cãi được.”
Ngài d’Andeville nhún vai rồi nói tiếp, bằng giọng quả quyết: “Vợ tôi mất trong tay tôi. Đôi môi tôi còn chạm vào đôi bàn tay băng giá của bà ấy, cảm nhận được hơi thở buốt tê của cái chết ở những người ta yêu thương thật khủng khiếp. Đích thân tôi đã thay trang phục cho bà ấy, như bà ấy yêu cầu, bằng bộ váy cưới; và tôi cũng có mặt ở đó khi người ta đóng nắp quan tài. Còn gì nữa không?”
Paul lắng nghe ông ta và tự nhủ: “Liệu ông ta có nói thật không? Đúng, ông ta nói thật; nhưng làm sao mình có thể thừa nhận...”
Với giọng điệu hống hách hơn, ngài d’ Andeville nhắc lại: “Còn gì nữa không?”
“Còn.” Paul đáp. “Một câu hỏi nữa. Có một bức chân dung trong phòng khuê của nữ Bá tước d’Andeville, có phải là chân dung bà ấy không?”
“Chắc chắn, chân dung to bằng người thật của bà ấy.”
“Vẽ bà ấy quàng chiếc khăn quàng cổ ren màu đen qua vai?”
“Đúng, kiểu khăn quàng cổ bà ấy thích.”
“Và chiếc khăn quàng cổ được cố định phía trước bằng viên đá khắc hình con rắn vàng?”
“Đúng, đó là viên đá cổ từng thuộc về mẹ tôi, mà vợ tôi luôn luôn đeo.”
Paul không thể cưỡng lại cơn bốc đồng không suy nghĩ. Dường như với anh, những lời khẳng định của ngài d’Andeville sao quá giống những lời thú tội; run lên vì giận dữ, anh buột miệng: “Thưa ngài, chắc ngài vẫn chưa quên rằng cha tôi đã bị sát hại chứ? Chúng ta thường xuyên nói về chuyện này, ngài và tôi. Ông ấy là bạn của ngài. Ả đàn bà đã giết ông ấy và là người tôi đã thấy, ả đàn bà có hình ảnh đã in sâu vào trong óc tôi quàng chiếc khăn quàng cổ ren màu đen trên vai, cố định bằng viên đá khắc hình con rắn vàng. Và tôi đã phát hiện ra bức chân dung của ả đàn bà này trong phòng của vợ ngài. Phải, tôi đã trông thấy chân dung của ả vào buổi tối ngày cưới của tôi. Giờ thì ngài hiểu rồi chứ? Ngài có hiểu không thế?”
Đó là một khoảnh khắc bi kịch giữa hai người đàn ông. Ngài d’Andeville đứng đó run rẩy, đôi bàn tay của ông ta siết chặt khẩu súng trường của mình.
“Tại sao ông ta lại run rẩy?” Paul tự hỏi, và những nghi ngờ của anh ngày càng tăng cho đến khi chúng biến thành lời buộc tội thực tế. “Đó là cảm giác phản đối hay cuồng nộ của ông ta khi bị lột mặt nạ đến nỗi phải run rẩy như thế? Và mình có nên xem ông ta như kẻ đồng lõa với bà vợ không? Rốt cuộc vì...”
Anh cảm thấy cánh tay mình bị siết chặt như gọng kìm. Ngài d’ Andeville, mặt tím tái, thốt ra: “Sao cậu dám? Sao cậu dám gợi ý rằng vợ tôi đã giết cha cậu hả? Chắc cậu uống say rồi! Vợ tôi, một vị Thánh trước mắt Chúa và con người! Thế mà cậu dám! Ôi, tôi không biết điều gì đã ngăn cản tôi đập nát mặt cậu ra!”
Paul vất vả tự giằng ra. Hai người đàn ông, run rẩy trong cơn phẫn nộ càng tăng thêm nhờ tiếng súng nổ ầm ĩ và sự điên rồ trong cuộc cãi vã giữa họ, đang sắp sửa lao vào nhau trong khi những quả đạn pháo, những viên đạn rít lên khắp xung quanh họ.
Thế rồi một mảng tường mới vỡ tan thành từng mảnh. Paul ra mệnh lệnh, cùng lúc đó anh nghĩ đến Thiếu tá Hermann đang nằm trong góc nhà, kẻ mà anh có thể điệu tới trước mặt ngài d’Andeville như một tên tội phạm, người từng đương đầu với kẻ đồng lõa của hắn. Nhưng tại sao anh lại không làm thế?
Sực nhớ đến bức ảnh nữ Bá tước Hermine anh đã tìm thấy trên xác Rosenthal, anh lấy nó ra từ trong túi và gí vào tận mặt ngài d’Andeville.
“Còn cái này?” Anh quát lên. “Ngài có biết đây là cái gì không?... Có ngày tháng trên đó đấy, năm 1902, và ngài còn giả vờ rằng nữ Bá tước Hermine đã chết!... Trả lời tôi được không? Một bức ảnh chụp tại Berlin được vợ ngài gửi cho ngài bốn năm sau khi bà ta chết!”
Ngài d’Andeville loạng choạng. Cứ như thể tất cả cơn cuồng nộ của ông ta đã bốc hơi hết, biến thành sững sờ đến vô cùng. Paul khua khua trước mặt ông ta cái bằng chứng đanh thép làm từ mảnh bìa cứng. Và anh nghe thấy ngài d’Andeville lắp bắp: “Kẻ nào có thể ăn cắp bức ảnh của tôi? Nó nằm lẫn trong đống giấy tờ của tôi ở Paris... Tại sao tôi lại không xé nó đi chứ?...” Rồi ông ta nói thêm, bằng giọng thì thầm gần như không nghe thấy: “Ôi, Hermine, Hermine, người vợ đáng yêu của tôi!”
Chắc chắn đó là lời thú nhận? Nhưng nếu thế, lời thú tội được thốt ra như thế kèm theo lời tuyên bố về tình yêu dành cho ả đàn bà đầy tội ác và ô nhục thử hỏi còn ý nghĩa gì?
Viên Trung úy quát lên từ tầng trệt: “Tất cả mọi người xuống hào, ngoại trừ mười người. Delroze, tiếp tục ngắm bắn cho tốt và ra lệnh bắn tự do.”
Những người lính tình nguyện dưới sự chỉ huy của Bernard, nhanh chóng lao xuống dưới nhà. Địch đang tiến đến gần con kênh, bất chấp những tổn thất chúng phải chịu. Thực ra bên phải và bên trái, các tốp lính tình nguyện không ngừng được thay thế, đang phải nỗ lực chiến đấu bằng hết sức mình để chiếm lấy những con thuyền mắc cạn trên bờ kênh. Viên Trung úy chỉ huy đội lính tình nguyện tập hợp đội hình lập hàng rào phòng thủ đầu tiên chống lại cuộc tấn công sắp tới, trong khi các tay bắn tỉa trong ngôi nhà được lệnh bắn không ngừng tay giữa cơn bão đạn pháo.
Từng người một, năm tay súng thiện xạ trong số này gục xuống.
Paul và ngài d’Andeville chạy khắp nơi lúc chỗ này lúc chỗ kia, trong khi hỏi han nhau về những mệnh lệnh được đưa ra và những việc phải làm. Xét đến sự thua thiệt quân số quá lớn, gần như họ không còn cơ hội nào có thể kháng cự. Nhưng họ vẫn nuôi hy vọng nào đó sẽ cố gắng cầm cự được cho đến khi cứu viện tới, giúp bảo đảm chiếm được lô cốt.
Tự thấy không thể bảo đảm nhắm trúng mục tiêu giữa đống hỗn loạn binh lính hai bên tham chiến, pháo binh Pháp đã ngừng bắn, trong khi pháo binh Đức vẫn đang nã bão đạn vào căn nhà; các trái đạn pháo nổ không ngớt.
Thế nhưng một người nữa bị thương. Anh ta được mang lên căn gác mái đặt nằm bên cạnh Thiếu tá Hermann, và gần như chết ngay lập tức.
Bên ngoài, cuộc chiến vẫn tiếp tục, thậm chí còn diễn ra dưới mặt nước của con kênh, trên những chiếc thuyền và xung quanh chúng. Có những cuộc chiến đấu tay đôi giữa tiếng gầm của súng đạn, những tiếng la hét lăng mạ chửi rủa và đau đớn, những tiếng gào khóc kinh hoàng và những tiếng hét chiến thắng. Âm thanh hỗn loạn đinh tai nhức óc đến nỗi Paul và ngài d’Andeville không thể tập trung nhắm bắn được.
Paul nói với cha vợ: “Tôi e rằng chúng ta có thể chết trước khi cứu viện tới. Thế nên tôi buộc phải cảnh báo ngài rằng viên Trung úy đã sắp xếp cho nổ tung ngôi nhà. Vì ngài tình cờ có mặt ở đây, nên ngài sẽ không được hưởng đặc ân nào theo tiêu chuẩn hoặc bổn phận của binh lính...”
“Tôi ở đây như một người Pháp thôi.” Ngài d’Andeville nói. “Và tôi sẽ ở lại đến cùng.”
“Vậy thì có lẽ chúng ta sẽ có dư thời gian nói hết những gì chúng ta phải nói, thưa ngài. Nghe tôi đây. Tôi sẽ cố gắng nói ngắn gọn. Nhưng nếu ngài hiểu được chút gì đó, xin đừng ngần ngại ngắt lời tôi nhé.”
Anh hoàn toàn hiểu rằng ngăn cách giữa họ là cả một đại dương bóng tối, rằng cho dù có lỗi hay không, cho dù có là kẻ đồng lõa của vợ ông ta hay chỉ là người bị lợi dụng, ngài d’Andeville phải biết những chuyện mà cả ông ta lẫn Paul đều không biết, và những chuyện này chỉ có thể được làm rõ bằng cách thuật lại chi tiết những gì đã xảy ra.
Và thế là anh bắt đầu nói. Anh nói bình tĩnh và cẩn trọng, trong khi ngài d’Andeville im lặng lắng nghe. Nhưng họ vẫn không ngừng bắn, lặng lẽ nạp đạn, nhắm bắn rồi lại nạp đạn, như thể họ đang tập bắn. Khắp xung quanh và trên đầu họ, tử thần vẫn miệt mài theo đuổi công việc của hắn.
Paul chưa kịp miêu tả việc anh đến Ornequin cùng Elisabeth, cả hai cùng nhau bước vào căn phòng khóa kín và sự khó chịu của anh khi nhìn thấy bức chân dung, thì một trái đạn pháo to đùng nổ tung ngay trên đầu họ, vãi xuống đầu họ đầy những mảnh đạn sắc nhọn.
Bốn người lính tình nguyện trúng đạn. Paul cũng gục xuống, anh bị thương vào cổ, và cho dù không hề chịu đau đớn gì, anh vẫn cảm thấy toàn bộ các ý tưởng của mình đang dần dần tan biến vào sương mù không tài nào giữ lại được. Tuy nhiên, anh cố gắng hết sức và nhờ phép mầu nào đó của ý chí, anh vẫn có thể tận dụng chút sức tàn không ngừng níu giữ lại những tâm tư và ấn tượng nhất định. Qua đó, anh nhìn thấy cha vợ mình đang quỳ bên cạnh và anh có thể nói chuyện được với ông ta: “Nhật ký của Elisabeth... Ngài sẽ tìm thấy nó trong túi dụng cụ của tôi trong trại... với vài trang do chính tôi viết... chúng sẽ giải thích... Nhưng trước tiên ngài phải... Nghe này, tên sĩ quan Đức đằng kia, đang bị trói... hắn là một tên gián điệp... Phải để mắt tới hắn... Giết chết hắn... Nếu không, vào ngày mùng Mười tháng Một... nhưng ngài sẽ giết hắn chứ?”
Paul không nói thêm được nữa. Vả lại, anh thấy ngài d’Andeville không còn quỳ xuống lắng nghe hay giúp đỡ anh nữa, mà bản thân ông ta cũng trúng đạn, gương mặt ông ta đẫm máu, ông ta đang cúi gập người rồi cuối cùng cũng đổ gục thành một đống lộn xộn, miệng thốt ra những tiếng rên rỉ ngày càng yếu dần.
Khắp căn phòng lớn chìm đắm trong tĩnh lặng vô cùng trong khi những khẩu súng trường vẫn đang pằng pằng ngoài kia. Các khẩu pháo của Đức không nhả đạn nữa. Mặt trận phản công của địch chắc thành công rồi; và Paul không thể nhúc nhích, đang nằm chờ tiếng nổ kinh khiếp mà viên Trung úy đã dự báo trước.
Hết lần này đến lần khác anh gọi tên Elisabeth. Anh nghĩ giờ đây chẳng còn nguy hiểm nào đe dọa được cô nữa, vì Thiếu tá Hermann cũng sắp ngoẻo. Vả lại, cậu em trai Bernard kiểu gì cũng sẽ biết cách bảo vệ cô. Nhưng một lúc sau khi trạng thái cân bằng này biến mất, nó biến thành khó chịu rồi thành lo âu không ngớt, cuối cùng là cảm giác những thứ này cứ trôi qua từng giây một càng khiến anh đau khổ. Anh không thể chắc được có phải mình đang bị ám ảnh bởi một cơn ác mộng, bởi một ảo ảnh bệnh hoạn nào đó hay không. Tất cả mọi chuyện xảy ra phía bên này căn áp mái nơi anh kéo lê Thiếu tá Hermann lên đây. Xác chết một người lính đang nằm ngăn cách giữa họ. Trước sự kinh hoàng của anh, dường như tên Thiếu tá đã tự cắt dây trói và đang đứng dậy nhìn xung quanh.
Paul vận toàn bộ sức mạnh mở mắt ra và cứ giữ như thế. Nhưng trước mắt anh là bức màn bóng tối còn sâu thẳm hơn; và qua bức màn này, như người ta nhìn thấy một hình ảnh gây hoang mang trong bóng tối, anh nhận thấy được tên Thiếu tá đang cởi áo choàng ra, cúi người xuống một xác chết, cởi áo khoác màu xanh của cái xác ra mặc vào người rồi cài cúc. Tiếp theo, hắn lấy cái mũ của người chết đội lên đầu mình, lấy khăn quàng của cái xác quàng vào cổ mình, lấy khẩu súng trường, lưỡi lê và các băng đạn của xác chết, qua đó hoàn tất màn giả trang, bước xuống ba bậc cầu thang gỗ.
Đó là một hình ảnh khủng khiếp. Paul hẳn sẽ thấy rất mừng khi nghi ngờ cặp mắt mình, tin tưởng vào hình ảnh ma quỷ nào đó sinh ra từ cơn sốt và chứng mê sảng của mình. Nhưng mọi thứ đã xác nhận tính thực tế của những gì anh vừa thấy, mà với anh có nghĩa là một nỗi đau đớn thê thảm nhất. Tên Thiếu tá đang trốn thoát!
Paul quá yếu đến nỗi không thể cân nhắc được mọi nhẽ. Tên Thiếu tá có nghĩ đến chuyện giết chết anh và ngài d’Andeville không? Liệu hắn có biết rằng họ đang ở đó, cả hai đều đang bị thương và mạng sống nằm trong tay hắn hay không? Paul không bao giờ tự hỏi mình những câu hỏi đó. Chỉ một ý nghĩ ám ảnh tâm trí đang yếu dần của anh. Thiếu tá Hermann đang trốn thoát. Nhờ bộ quân phục này, hắn sẽ dễ dàng trà trộn vào nhóm những người lính tình nguyện! Với sự hỗ trợ của tín hiệu nào đó, hắn sẽ quay về được phía quân Đức! Và hắn sẽ được tự do! Và hắn sẽ tiếp tục âm mưu khủng bố của mình, âm mưu chết người của hắn; chống lại Elisabeth!
Ôi, giá mà vụ nổ ấy diễn ra rồi! Ước gì ngôi nhà của người lái phà này có thể nổ tung và tên Thiếu tá cũng đi đời!...
Paul vẫn bám vào hy vọng này trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Trong khi lý trí của anh bác bỏ điều ấy. Những suy nghĩ của anh trở nên ngày càng lẫn lộn. Anh nhanh chóng chìm sâu vào bóng tối, không nghe không thấy gì nữa...
◇
Ba tuần sau, Đại tướng Tổng Tư lệnh bước xuống từ chiếc xe đỗ trước cửa một lâu đài cổ tại Boulonnais, giờ được trưng dụng thành bệnh viện quân y. Viên sĩ quan phụ trách đang đợi ông ta ngoài cửa.
“Thiếu úy Delroze có biết tôi sắp đến gặp cậu ấy không?
“Dạ có, thưa ngài.”
“Dẫn tôi đến phòng cậu ấy.”
Paul Delroze đang ngồi dậy. Cổ của anh đã được băng bó, tuy nhiên các đường nét gương mặt anh lại bình thản và không có dấu hiệu mệt mỏi nào. Xúc động trước sự có mặt của viên Tổng Tư lệnh đã cứu nước Pháp bằng sự mạnh mẽ và điềm tĩnh, anh đứng bật dậy chào ông ta theo lối nhà binh. Nhưng viên Đại tướng chìa tay ra, bằng giọng hiền từ và đầy tình cảm, ông ta thốt lên: “Cứ ngồi xuống, Trung úy Delroze... Tôi nói là trung úy vì cậu mới được thăng chức hôm qua. Ấy, không cần phải cảm ơn. Lạy Chúa, chúng tôi vẫn còn mắc nợ cậu! Trông cậu khá hơn nhiều rồi nhỉ?”
“Vâng, thưa ngài. Vết thương lành nhiều rồi ạ.”
“Lành rồi thì càng tốt. Tôi rất hài lòng với các sĩ quan của mình; nhưng dù thế, trong cả chục người, chúng tôi không tìm ra nổi một người như cậu. Viên Đại tá đã gửi tôi một báo cáo đặc biệt về cậu, nêu rõ một loạt hành động quả cảm không thể sánh được, đến nỗi tôi không thể kiềm chế phải phá lệ cho công khai thông báo đó.”
“Không, xin ngài đừng làm thế.”
“Cậu nói đúng, Delroze. Phẩm chất đầu tiên của chủ nghĩa anh hùng đó là không muốn ai biết đến mình; thế thì giờ mình nước Pháp phải hưởng mọi vinh quang vậy. Tôi đành bằng lòng với việc nhắc tên cậu một lần nữa khi thảo luận các vấn đề trong ngày, và trao tặng huân chương cho cậu như đã tiến cử.”
“Tôi không biết phải cảm ơn ngài thế nào, thưa ngài.”
“Ngoài ra, anh bạn thân mến của tôi ạ, nếu cậu còn bất kỳ mong muốn nhỏ nhoi nào nữa, đừng ngần ngại cho tôi cơ hội được đáp ứng cho cậu.”
Paul gật đầu và mỉm cười. Tất cả tình cảm nồng nàn và nhân hậu này khiến anh thấy dễ chịu.
“Nhưng nhỡ tôi tham lam quá thì sao thưa ngài?”
“Cứ nói đi.”
“Rất tốt, thưa ngài. Tôi chấp nhận. Và đề nghị của tôi là thế này: Trước hết, tôi xin được nghỉ phép nửa tháng, bắt đầu từ thứ Bảy, ngày mùng Chín tháng Một, ngày tôi sẽ xuất viện.”
“Đó không phải là ân huệ mà là quyền của cậu.”
“Tôi biết thưa ngài. Nhưng tôi có quyền được sử dụng ngày nghỉ phép theo ý mình.”
“Rất tốt.”
“Hơn thế nữa, trong túi tôi phải có tờ giấy phép do chính ngài viết, thưa ngài, cho phép tôi được di chuyển khắp nơi theo ý mình trên các phòng tuyến Pháp và kêu gọi bất kỳ sự hỗ trợ nào có thể hữu ích cho tôi.”
Viên tướng nhìn Paul một lúc rồi nói: “Cậu đang đưa ra một đề nghị nghiêm túc đấy, Delroze.”
“Vâng, thưa ngài, tôi biết mà. Nhưng việc tôi muốn làm cũng nghiêm túc.”
“Được, tôi đồng ý. Còn gì nữa không?”
“Còn, thưa ngài. Trung sĩ Bernard d’ Andeville, em vợ tôi, cậu ấy có tham gia cùng tôi trong lần tác chiến tại ngôi nhà của người lái phà. Như tôi, cậu ấy cũng bị thương nặng và được chuyển đến đúng bệnh viện này, và có thể cũng sẽ được xuất viện cùng lúc. Tôi muốn cậu ấy cũng được nghỉ phép tương tự và được phép đi cùng tôi.”
“Tôi đồng ý. Còn gì nữa không?”
“Cha của Bernard, Bá tước Stéphane d’Andeville, Thiếu úy thông dịch thuộc biên chế quân đội Anh, cũng bị thương vào ngày hôm đó bên cạnh tôi. Tôi được biết rằng thương thế của ông ấy tuy nặng nhưng không gây chết người, ông ấy đã được chuyển đến một bệnh viện tại Anh mà tôi không biết. Tôi muốn đề nghị ngài liên lạc với ông ấy ngay khi ông ấy khỏe lại và nhận ông ấy vào lực lượng của ngài, cho đến khi nào tôi đến tìm ngài và báo cáo về nhiệm vụ mà tôi đã thực hiện.”
“Rất tốt. Thế thôi hả?”
“Gần hết ạ, thưa ngài. Chỉ là tôi muốn cảm ơn sự tử tế của ngài bằng cách đề nghị ngài cho tôi danh sách hai mươi tù binh người Pháp, hiện đang ở Đức, những người ngài đặc biệt quan tâm đến. Hai mươi tù binh này sẽ được thả tự do sớm nhất trong vòng nửa tháng.”
“Hả? Cái gì cơ?”
Vốn mạnh mẽ, viên tướng có vẻ hơi kinh ngạc. Ông ta tuyên bố: “Tự do trong vòng nửa tháng kể từ bây giờ? Hai mươi tù binh sao?”
“Tôi xin hứa với ngài, thưa ngài.”
“Đừng nói vớ vẩn.”
“Tôi sẽ làm đúng như đã hứa.”
“Không cần biết cấp bậc của tù binh là gì? Không cần biết vị thế xã hội của họ là gì sao?”
“Vâng, thưa ngài.”
“Bằng các biện pháp chính quy mà cậu có thể công khai thừa nhận?”
“Bằng những biện pháp không ai có thể phản đối.”
Viên tướng nhìn Paul lần nữa bằng con mắt của một lãnh đạo đã quen phán xét con người và đánh giá giá trị đích thực của họ. Ông ta biết rằng người trước mặt mình đây không phải là kẻ khoe khoang, khoác lác, mà là con người của hành động và biết giữ lời, người tiến thẳng lên phía trước và biết làm trọn lời đã hứa. Ông ta đáp: “Được, Delroze, ngày mai cậu sẽ có danh sách.”