Sáng Chủ nhật, ngày mùng Mười tháng Một, Trung úy Delroze và Trung sĩ d’Andeville bước lên sân ga tại Corvigny và đến thăm ngài sĩ quan chỉ huy trong thành phố, sau đó họ bắt chuyến xe ngựa đến lâu đài Ornequin.
“Như ngày xưa ấy...” Bernard nói, duỗi dài chân trong chiếc xe độc mã. “... Em chẳng bao giờ nghĩ mọi chuyện sẽ thành ra thế này, khi em bị dính mảnh đạn pháo ở giữa sông Yser và ngôi nhà của người lái phà. Ôi cái góc ấy mới ác liệt làm sao chứ! Tin hay không thì tùy, anh Paul, nhưng nếu quân tiếp viện của chúng ta mà không đến kịp ấy, chỉ năm phút nữa thôi là chúng ta tiêu rồi. Anh em mình đúng là quá may đấy!”
“Thực sự là vậy mà.” Paul nói. “Ngày hôm sau, khi tỉnh dậy trong một chiếc xe cứu thương của Pháp, anh đã cảm thấy điều đó.”
“Thế nhưng có chuyện em không thể cho qua được.” Bernard nói tiếp. “Đó là cái tên khốn nạn, Thiếu tá Hermann vẫn thoát được. Anh đã bắt hắn làm tù binh rồi cơ mà? Và rồi anh trông thấy hắn cởi dây trói và trốn thoát hả? Thằng chó láo xược! Anh có thể chắc chắn hắn đã thoát đi hoàn toàn bình yên!”
Paul lẩm bẩm: “Anh không hề nghi ngờ điều đó, và cũng không nghi ngờ hắn có ý định muốn đe dọa Elisabeth.”
“Trời ạ! Chúng ta còn bốn mươi tám tiếng trước mắt, như hắn đã hẹn với thằng Karl là ngày mùng Mười tháng Một sẽ gặp nhau, hắn sẽ không hành động gì cho tới hai ngày sau đó.”
“Giả sử nhỡ hắn hành động hôm nay thì sao?” Paul hỏi bằng giọng khàn khàn.
Tuy nhiên, bất chấp sự khó chịu của anh, chuyến đi có vẻ không kéo dài lâu. Cuối cùng anh cũng tới gần - và lần này thì thật sự gần - mục tiêu mà từng ngày trong bốn tháng qua lại đưa anh đi xa hơn một chút. Ornequin nằm trên tiền tuyến, và Ebrecourt lại chỉ cách tiền tuyến có vài phút. Anh không muốn nghĩ đến những vật cản sẽ can thiệp trước khi anh có thể tới được Ebrecourt, phát hiện nơi ẩn náu của vợ anh và giải cứu cô. Anh vẫn sống, Elisabeth vẫn sống. Chẳng có vật cản nào tồn tại giữa anh và cô.
Lâu đài Ornequin, hoặc những gì còn lại của nó - thậm chí những phế tích của lâu đài vừa trải qua trận oanh kích mới vào tháng Mười một - đang biến thành nơi đóng quân của các cánh quân địa phương, với hàng chiến hào đầu tiên đào vòng quanh tiền tuyến. Không có nhiều trận chiến diễn ra phía này vì những lý do chiến thuật, chúng sẽ gây cho địch nhiều khó khăn nếu thúc quân quá xa. Các mặt trận phòng thủ đều có sức mạnh tương đương, cả hai bên đều được canh gác rất nghiêm ngặt.
Đây là những thông tin đặc biệt Paul thu lượm được từ viên Trung úy địa phương cùng ăn trưa với mình.
“Anh bạn thân mến ơi.” Viên sĩ quan kết luận, sau khi Paul cho ông ta biết mục đích chuyến đi của mình. “Tôi rất vui được phục vụ anh, nhưng nếu vấn đề là đi từ Ornequin đến Ebrecourt, thì anh có thể xác định không làm được đâu.”
“Tôi sẽ làm được mà.”
“Vậy thì sẽ phải đi đường không đấy.” Viên sĩ quan nói cười phá lên.
“Không.”
“Hoặc dưới lòng đất.”
“Có thể.”
“Thế thì anh sai rồi. Việc chúng tôi muốn làm là tự đào hào và đặt mìn. Vô ích thôi. Đất dưới chân chúng ta đây quá cứng, không đào nổi đâu.”
Đến lượt Paul mỉm cười. “Anh bạn thân mến a, nếu anh tử tế đến nỗi cho tôi mượn bốn anh chàng khỏe mạnh trong vòng một giờ, mang theo cuốc và xẻng, tối nay tôi sẽ tới được Ebrecourt.”
“Được! Bốn người phá đá đào một đường hầm sáu dặm trong một giờ!”
“Hào phóng quá. Ngoài ra anh phải hứa giữ bí mật tuyệt đối cả về biện pháp được áp dụng lẫn những phát hiện khá tò mò chúng sẽ dẫn tới. Tôi sẽ gửi báo cáo cho Đại tướng Tổng Tư lệnh, nhưng không một ai khác được biết hết.”
“Rất tốt, đích thân tôi sẽ chọn lựa bốn anh chàng cho anh. Tôi sẽ mang họ đến gặp anh ở đâu đây?”
“Ở lối đi trên cao gần tháp canh.”
Lối đi trên cao này nhìn bao quát Liseron từ độ cao hơn bốn mươi lăm mét, được xem như cái móc trên sông, nó hoàn toàn trái ngược với Corvigny, với những ngọn đồi dốc và liền kề có thể nhìn thấy từ khoảng cách xa. Bãi chăn thả gia súc chẳng còn lại gì ngoài nền đất rộng rãi, được kéo dài bởi những bức tường móng, hòa trộn với các tảng đá tự nhiên chống đỡ lối đi trên cao. Các khóm nguyệt quế và cây thường xuân trong vườn lan rộng đến tận bức tường chắn.
Paul bước đến chính nơi này. Thi thoảng anh sải chân bước lên xuống lối đi bộ, cúi người xuống dòng sông xem xét những khối đá rơi xuống từ tháp canh dưới lớp phủ thường xuân.
“Giờ thì...” Viên Trung úy nói, đến cùng đám người của mình. “... Đây là điểm xuất phát của anh à? Tôi cảnh cáo anh là chúng ta phải đứng quay lưng lại tiền tuyến đấy.”
“Ái chà!” Paul đáp, cũng bằng giọng pha trò. “Mọi ngả đường đều dẫn tới Berlin!”
Anh chỉ tay vào một vòng tròn mình đã vẽ bằng những cành cây, hối thúc mọi người vào việc: “Đào đi nào, các chàng trai của tôi.”
Họ bắt đầu đào thành một vòng tròn chu vi ba thước, một khoảnh đất bao gồm rêu mốc, mà trong đó họ đã đào một cái hố sâu khoảng một mét rưỡi trong hai mươi phút. Tại đây, họ chạm đến một lớp đá trát xi măng; công việc của họ giờ đây khó khăn hơn nhiều vì xi măng đạt độ cứng đến không tưởng tượng nổi, chỉ có thể phá vỡ nó bằng cách lèn mấy cái cuốc vào những khe hở. Paul theo dõi các hoạt động một cách chăm chú đầy lo âu.
Sau một tiếng đồng hồ, anh bảo họ dừng lại. Đích thân anh nhảy xuống hố rồi tiếp tục đào, nhưng chậm rãi và kiểm tra kĩ lưỡng hiệu quả của từng nhát cuốc mình bổ xuống.
“Thế đấy!” Anh nói, nhảy lên khỏi hố.
“Cái gì thế?” Bernard hỏi.
“Mặt đất mà chúng ta đang đứng đây chỉ là nền của những tòa nhà to từng liền kề với tháp canh cổ, vốn đã bị san bằng thành bình địa hàng thế kỷ trước, và mảnh vườn nằm ngay phía trên các tòa nhà đó.”
“Thế thì sao?”
“Khi phát quang đất, anh đã vô tình đục thủng trần nhà của một trong các căn phòng cổ. Nhìn đi.”
Anh lấy một hòn đá, thả rơi xuống ngay giữa khe hở hẹp mà anh vừa tạo ra. Viên đá biến mất. Gần như ngay lập tức, một âm thanh trầm đục vắng lên.
“Giờ việc các cậu phải làm chỉ là mở rộng cái lối vào này ra, trong khi chúng tôi đi lấy thang và đèn pin; càng nhiều đèn pin càng tốt.”
“Chúng tôi có mấy ngọn đuốc thông đây.” Viên sĩ quan nói.
“Đúng là tuyệt.”
Paul đã đúng. Khi thang được hạ xuống và anh trèo xuống cùng Trung úy và Bernard, họ trông thấy một tiền sảnh rất rộng, với những cửa vòm và các cây cột to tướng làm trụ đỡ và phân chia các cánh cửa, thành hai gian chính, giống như thiết kế bất đối xứng trong nhà thờ, với các lối đi hai bên hẹp hơn và thấp hơn.
Nhưng Paul ngay lập tức kêu gọi hai người đi cùng chú ý đến sàn nhà của hai gian chính: “Thấy lát sàn bê tông không?... Nhìn đằng kia nữa, đúng như tôi đã nghĩ, hai đường ray chạy dọc theo một trong các đường hầm trên cùng... Và đây, thêm hai đường ray nữa trong một đường hầm khác!...”
“Nhưng tất cả những điều này có nghĩa là gì?” Bernard và viên Trung úy cùng thốt lên.
“Đơn giản thế này thôi.” Paul đáp. “Trước mắt chúng ta đây là lời giải thích rõ ràng cho bí ẩn lớn xung quanh việc chiếm đóng Corvigny và hai pháo đài của nó.”
“Như thế nào?”
“Corvigny và hai pháo đài của nó đã bị phá hủy trong có vài phút, đúng chưa? Thế những phát đạn ấy bắn ra từ đâu, xét đến chuyện Corvigny cách tiền tuyến những mười lăm dặm và không một khẩu súng nào của địch vượt qua tiền tuyến? Chúng xuất phát từ đây, từ chính những pháo đài dưới lòng đất này.”
“Không thể nào!”
“Đây là những đường ray giúp chúng di chuyển hai khẩu đại pháo chịu trách nhiệm pháo kích.”
“Này! Anh không thể pháo kích từ dưới đáy hang được! Lỗ châu mai đâu?”
“Các đường ray sẽ dẫn chúng ta tới đó. Chiếu đèn vào đó, Bernard. Nhìn đi, có một cái bục gắn trên cái trục đứng. Khá rộng đúng không? Và đây là một cái bục khác.”
“Nhưng còn lỗ châu mai?”
“Trước mặt cậu đấy, Bernard.”
“Là bức tường mà.”
“Đó là bức tường mà cùng với tảng đá của ngọn đồi chống đỡ cho lối đi trên cao ở Liseron, đối diện Corvigny. Hai cái lỗ thủng hình tròn được tạo ra trong bức tường và sau đó được bít lại. Cậu có thể nhìn thấy những dấu vết bít lại rất rõ ràng.”
Bernard và viên Trung úy không thể không kinh ngạc.
“Trời, đúng là kỳ công thật!” Viên sĩ quan nói.
“Thật sự vĩ đại!” Paul đáp. “Nhưng đừng có ngạc nhiên quá như thế, anh bạn thân mến. Theo tôi biết thì nó được bắt đầu mười sáu, mười bảy năm về trước rồi. Vả lại như đã nói với anh, một phần công việc thế là đã xong, vì chúng ta đang ở trong các phòng dưới cùng của các tòa nhà Ornequin cũ; tìm được chúng rồi, tất cả những gì chúng ta phải làm, đó là sắp xếp chúng căn cứ theo mục tiêu chúng ta nghĩ trong đầu. Nhưng có một chuyện còn gây sửng sốt hơn!”
“Là gì thế?”
“Đường hầm mà chúng phải xây để mang hai khẩu đại pháo tới đây.”
“Một đường hầm ư?”
“Tất nhiên! Thế anh nghĩ làm sao chúng vào được đây? Cứ đi theo các đường ray, theo hướng khác, chúng ta sẽ chóng tới được đường hầm.”
Đúng như anh dự đoán, hai bộ đường ray hòa vào nhau một quãng phía sau và họ đã trông thấy lối vào đường hầm rộng ngoác khoảng gần ba mét và cũng cao khoảng gần ba mét. Đường hầm ăn sâu xuống đất, dốc thoai thoải. Các bức vách làm bằng gạch. Không có hơi ẩm nào rịn ra từ các bức vách, bản thân mặt đất cũng hoàn toàn khô khốc.
“Nhánh đường sắt Ebrecourt.” Paul nói, phá lên cười. “Bảy dặm trong bóng tối. Và đó là cách pháo đài Corvigny bị chiếm đóng. Trước tiên, vài nghìn lính đi qua lối này xóa sổ một ít đơn vị đồn trú tại Ornequin và các đồn bốt trên tiền tuyến, sau đó đi vào thành phố. Cùng lúc đó, hai khẩu đại pháo được mang tới, lắp ráp và nhắm vào các địa điểm được xác định từ trước. Xong xuôi, chúng lại được tháo ra và các lỗ châu mai được lấp lại. Tất cả những khâu này mất không quá hai tiếng.”
“Nhưng để có được hai tiếng quyết định ấy, tên Hoàng đế đã phải lao tâm khổ tứ suốt mười sáu năm, Chúa phù hộ hắn!” Bernard nói. “Rồi giờ thì bắt đầu thôi.”
“Hai người có muốn người của chúng tôi đi cùng không?” Trung úy gợi ý.
“Thôi, cảm ơn anh. Tốt hơn cứ để tôi cùng cậu em vợ đây đi một mình thôi. Tuy nhiên, nếu phát hiện địch đã phá hủy đường hầm, chúng tôi sẽ quay lại đề nghị giúp đỡ. Nhưng tôi sẽ kinh ngạc lắm nếu chúng làm thế. Ngoài thực tế chúng đã dùng mọi cách có thể nhằm đảm bảo không ai phát hiện ra đường hầm, vẫn có khả năng chúng muốn giữ đường hầm nguyên vẹn phòng trường hợp có thể muốn dùng lại.”
Thế nên vào lúc ba giờ chiều, hai anh em đi bộ xuống đường hầm hoàng đế, như Bernard gọi. Họ vũ trang đầy đủ, mang theo đồ ăn thức uống dự trữ cùng đạn dược, quyết tâm theo đuổi cuộc phiêu lưu đến cùng.
Trong vài phút, đi thêm khoảng hai trăm thước nữa, ánh sáng từ chiếc đèn xách bỏ túi của hai anh em đã soi rọi những bậc cầu thang bên tay phải.
“Lối rẽ đầu tiên.” Paul nhận xét. “Anh đồ rằng phía trước còn ít nhất ba lối rẽ nữa.”
“Cái cầu thang này dẫn đi đâu?”
“Rõ ràng là tới lâu đài. Và nếu cậu muốn biết là phần nào của lâu đài, thì anh nói luôn là căn phòng có bức chân dung. Không nghi ngờ gì nữa, đó là con đường mà Thiếu tá Hermann đi vào lâu đài tối hôm chúng ta tấn công nó. Hắn đi cùng tên đồng lõa Karl. Nhìn thấy những cái tên chúng ta đã viết trên tường, chúng đã đâm chết hai người đang ngủ trong phòng, binh nhì Gériflour và đồng đội của cậu ta.”
Bernard d’Andeville cắt ngang: “Nghe này, Paul, cả ngày hôm nay anh khiến em kinh ngạc quá. Anh hành động một cách sáng suốt và tiên liệu như thần! Anh đi đến đúng nơi cần đào bới, kể lại chính xác những gì đã xảy ra như thể anh là nhân chứng, anh biết hết mọi thứ và dự trù tất cả. Quả thực, bọn em không hề biết rằng anh sở hữu những năng lực ấy! Có phải anh đã từng gặp gỡ, qua lại với Arsène Lupin không?”
Paul dừng bước. “Sao cậu lại nhắc đến cái tên này?”
“Lupin ạ?”
“Ừ.”
“Ồ, chỉ là ngẫu nhiên thôi... Lẽ nào có mối liên hệ gì ở đây...””
“Không, không có đâu... Tuy nhiên...” Nói đoạn, Paul cười rộ lên. “Hãy nghe anh kể một câu chuyện kỳ quặc. Anh tự hỏi đây là chuyện thật hay chỉ là một giấc mơ thôi? Đúng rồi, chắc chắn không phải mơ đâu... Nhưng mà... Buổi sáng nọ, sau khi được đưa xuống xe cứu thương, anh bị sốt và thiu thiu ngủ, rồi anh chợt phát hiện trong phòng mình có một viên sĩ quan mà anh không quen biết, một vị Thiếu tá - bác sĩ, đang ngồi trước một chiếc bàn và lặng lẽ lục lọi va li của anh.
Anh ngồi nửa người dậy, và anh nhận thấy anh ta đã trải hết giấy tờ của anh lên mặt bàn tự bao giờ. Trong đống tài liệu đó có cả nhật ký của Elisabeth.
Khi anh tạo ra tiếng động, người đàn ông lạ mặt quay lại. Thật sự anh không hề quen biết người này. Anh ta có bộ ria mỏng, khí chất mạnh mẽ, nụ cười dịu êm. Anh ta nói rằng... Không, đó nhất định không phải là mơ... Anh ta nói rằng: “Xin đừng cử động... Đừng kích động...”
Anh ta thu dọn đống giấy tờ, đặt lại vào trong va li và đến gần chỗ anh, nói tiếp: “Tôi mong anh thứ lỗi vì đã không giới thiệu bản thân mình trước - tôi sẽ làm điều đó ngay sau đây. Tôi cũng xin lỗi vì đã làm một số việc nho nhỏ mà không có sự cho phép của anh. Mặt khác, tôi muốn chờ anh tỉnh lại để giải thích cho anh tỏ tường. Đây nhé. Một mật vụ mà tôi đang liên lạc tại cơ quan cảnh sát mật đã cung cấp cho tôi tài liệu liên quan đến một gã Thiếu tá tên là Hermann, đầu sỏ gián điệp Đức. Trong tập tài liệu này, tôi thấy tên anh xuất hiện đôi ba lần. Do vậy, khi tôi tình cờ được biết anh đang dưỡng thương ở đây, tôi muốn gặp anh, trò chuyện với anh. Tôi đã đến và vào được nơi này... theo cách của riêng tôi. Anh thì đang yếu ớt, ngủ say, còn thời gian của tôi là vàng ngọc (tôi chỉ có vài phút thôi) nên tôi không thể chần chừ trong việc kiểm tra giấy tờ của anh. Tôi đã hạ quyết tâm và tôi nghĩ mình làm điều đúng đắn.”
Anh cứ ngước nhìn người đàn ông kỳ quái đó một cách sững sờ. Rồi anh ta cầm mũ kê pi như sắp sửa rời đi và nói: “Tôi có lời khen dành cho anh, Trung úy Delroze, vì lòng quả cảm và sự khéo léo. Tất cả những gì anh đã làm đều rất đáng ngưỡng mộ và là những chiến công hàng đầu. Nhưng hiển nhiên, anh còn thiếu một vài năng lực đặc biệt để đẩy nhanh quá trình đạt tới mục đích. Anh không nhìn ra mối quan hệ giữa các sự kiện, không biết cách diễn giải và đúc rút những kết luận mà chúng hàm chứa. Bởi vậy, tôi ngạc nhiên là một số đoạn trong nhật ký của vợ anh, những đoạn mà cô ấy ghi lại những phát hiện rúng động, không khiến anh ngộ ra được gì cả. Còn nữa, nếu anh thắc mắc tại sao quân Đức thực hiện liên tiếp nhiều biện pháp cô lập tòa lâu đài, nếu anh chịu khó lần mò từng chút một, cố gắng diễn giải dần dần, phân tích quá khứ và hiện tại, nếu anh nhớ lại cuộc gặp gỡ với Hoàng đế Đức và rất nhiều thứ khác móc nối với nhau, anh đã có thể suy ra rằng giữa quân Đức và quân Pháp ở hai bên biên giới, chắc chắn phải có sự liên lạc bí mật, diễn ra tại vị trí mà người ta có thể nhắm bắn về phía Corvigny.
Đại thể, tôi nghĩ anh có thể xác định được vị trí này nếu anh tìm thấy một khoảng đất có cái cây chết còng queo, được vây quanh bởi những dây thường xuân, gần chỗ vợ anh nghe thấy những âm thanh văng vẳng dưới lòng đất. Khi ấy, anh chỉ cần tiến hành nốt phần việc của mình, tức là... đi sang phía kẻ thù và... Thôi, tôi không nói nữa. Kế hoạch quá kĩ lưỡng có thể gây phiền hà cho anh. Vả lại, một người đàn ông như anh không cần ai phải cầm tay chỉ việc. Chào buổi tối, ngài Trung úy. À, nhân tiện, tốt hơn hết anh cũng nên biết tên tôi chứ nhỉ. Tôi xin tự giới thiệu: Tôi là Thiếu tá - bác sĩ... Nhưng thay vì dùng tên giả, tại sao tôi không nói cho anh biết tên thật của mình nhỉ? Nó sẽ giúp anh hiểu thêm nhiều điều: Arsène Lupin.”
Anh ta ngừng lời, chào anh một cách thân thiện và ra đi trong tĩnh lặng. Chuyện là thế đó. Cậu nghĩ sao hả Bernard?”
“Em phải nói rằng anh đã gặp một kẻ bịp bợm.”
“Có lẽ vậy, nhưng không ai có thể nói cho anh biết những điều tương tự như vị Thiếu tá - bác sĩ này, cũng không ai biết được anh ta lẻn vào gặp anh bằng cách nào. Và cậu phải thừa nhận rằng “gã bịp bợm” này tiết lộ những thông tin cực kỳ giá trị ở thời điểm hiện tại.”
“Nhưng Arsène Lupin chết rồi...”
“Đúng vậy, anh biết. Arsène Lupin được cho là đã chết. Nhưng một kẻ bí ẩn như thế, ai mà biết chắc được? Dù sao đi nữa, dù sống hay chết, dù thật hay giả, lời nói của gã Lupin hôm trước rất hữu dụng đối với anh.”
“Vậy mục đích của anh bây giờ là gì?”
“Chỉ có một thôi: Giải cứu Elisabeth.”
“Kế hoạch của anh là gì?”
“Anh chẳng có kế hoạch nào. Tùy cơ ứng biến thôi, nhưng anh hoàn toàn tin rằng mình đang đi đúng hướng.”
Thực tế, tất cả những phỏng đoán của anh đang được chứng minh là chính xác. Trong mười phút, họ đã tới một không gian nơi một đường hầm khác, cũng có những đường ray, ngoặt sang bên phải.
“Lối rẽ thứ hai.” Paul nói. “Đường Corvigny. Chính ở dưới này quân Đức đã hành quân vào thành phố và khiến quân ta ngạc nhiên khi họ còn chưa kịp tập hợp đội hình, ả nông dân đã hỏi han cậu tối hôm ấy đã tới chỗ này. Chắc chắn lối ra nằm cách thành phố một quãng, có lẽ ở trên trang trại thuộc về kẻ được cho là ả nông dân kia.”
“Còn lối rẽ thứ ba?” Bernard hỏi.
“Nó ở đây.”
“Một cầu thang khác à?”
“Phải, và anh không nghi ngờ rằng nó dẫn tới nhà thờ. Chúng ta có thể giả sử rằng, vào cái hôm cha anh bị giết, tên Hoàng đế đã đến xem xét các công trình mà hắn đã ra lệnh và đang được thi công dưới sự giám sát của ả đàn bà đi cùng hắn. Nhà thờ, nơi mà vào thời điểm ấy còn không nằm lọt thỏm trong các bức tường của công viên, rõ ràng là một trong những lối ra khỏi mạng lưới đường bí mật mà chúng ta đang đi theo lối chính của nó.”
Paul trông thấy hai đường nhánh nữa trong số này, căn cứ theo vị trí và hướng đi của chúng chắc phải nằm đâu đó gần tiền tuyến, và thế là một hệ thống do thám và xâm nhập khổng lồ xem như đã hoàn tất.
“Thật tuyệt vời!” Bernard nói. “Đáng ngưỡng mộ. Nếu đây không phải là văn minh Đức, thì em rất muốn biết nó là cái gì. Có thể thấy những con người này thực sự hiểu về chiến tranh. Cái ý tưởng hai mươi năm đào một đường hầm để có thể pháo kích một pháo đài bé tí, hẳn người Pháp sẽ chẳng bao giờ nghĩ ra nổi. Nó đòi hỏi một trình độ văn minh mà chúng ta không thể có được. Anh có biết những thằng cha đó không?”
Lòng nhiệt tình của anh ngày càng tăng thêm khi quan sát thấy mái đường hầm được bổ sung thêm các giếng thông gió. Nhưng cuối cùng Paul cũng ép mình phải im lặng hoặc nói bằng lời thì thầm: “Cậu có thể hình dung thế này, khi chúng nghĩ việc bảo trì các đường dây liên lạc là điều hợp lý, thì chúng cũng phải làm gì đó để quân Pháp không thể mó vào được. Ebrecourt không xa lắm đâu. Có thể có những trạm nghe lén, các chốt canh đóng tại những nơi thích hợp. Những kẻ này đã tính trước cả rồi.”
Một chi tiết nữa thêm sức nặng cho nhận xét của Paul đó là sự xuất hiện của những tấm tôn nằm giữa các đường ray che các hố mìn đã đặt từ trước có thể kích nổ bằng điện. Hố đầu tiên có năm quả, hố thứ hai có bốn quả; và cứ thế. Paul và Bernard cẩn thận tránh các hố mìn, vì thế bước tiến của họ bị chậm lại; vì họ không còn dám bật đèn lên nữa, ngoại trừ những lúc ngắn ngủi.
Khoảng bảy giờ tối, họ nghe thấy hay đúng hơn là dường như nghe thấy những âm thanh hỗn loạn của cuộc sống và chuyển động trên mặt đất trên đầu. Họ cảm thấy xúc động sâu sắc. Trên đầu họ là nước Đức; và tiếng vọng vẳng xuống những thanh âm cuộc sống ở nước Đức.
“Cậu biết không, thật tò mò khi đường hầm này lại không được canh giữ cho tử tế, chúng ta có thể đi xa đến tận mức này mà chẳng bị làm sao.”
“Chúng ta sẽ để lại dấu ấn tồi tệ nhắc nhở chúng.” Bernard nói. “Văn minh Đức đã sai lầm.”
Trong khi đó, một cơn gió lùa thổi dọc các bức tường. Không khí bên ngoài thâm nhập vào thành từng đợt mát lạnh, bỗng họ trông thấy xa xa có ánh đèn xuyên qua bóng tối. Đó là một nơi trú quân. Mọi thứ xung quanh có vẻ tĩnh lặng, như thể là một trong những tín hiệu cố định được áp dụng gần đường ray.
Đến gần hơn họ mới hiểu ánh sáng ấy tỏa ra từ một ngọn đèn hồ quang điện, đang phát sáng bên trong một căn nhà kho ở lối ra đường hầm, những chùm sáng của nó hắt lên các vách núi trắng và những đống nhỏ cát và sỏi.
Paul thì thầm: “Kia là những mỏ đá. Bằng cách đặt lối vào hầm ở đó, chúng có thể tiếp tục yên tâm làm việc mà không sợ bị chú ý. Cậu có thể chắc chắn rằng những nơi được gọi là mỏ đá thế này sẽ được làm việc rất kín đáo, trong một khu vực mà các nhân công bị nhốt kín.”
“Đúng là văn minh Đức!” Bernard nhắc lại.
Cậu ta cảm thấy bàn tay Paul siết chặt cánh tay mình. Thứ gì đó vừa đi qua trước ánh đèn, như một cái bóng vừa nhô lên nhưng ngay sau đó lại hụp xuống.
Thận trọng hết sức, họ bò lên nhà kho rồi nghển cổ lên cho đến khi mắt họ nằm ngang với các ô cửa sổ. Bên trong là nửa tá binh lính, tất cả đều đang nằm thẳng, hoặc nằm vắt lên người nhau, giữa đống chai rượu trống không, mấy cái đĩa bẩn thỉu, những giấy gói nhờn mỡ và những thứ đồ ăn còn lại đã nát hết. Chúng là những kẻ được lệnh canh gác đường hầm, thế nhưng chúng đang say bí tỉ.
“Thêm nhiều văn minh Đức nữa.” Bernard nói.
“Chúng ta gặp may rồi.” Paul nói. “Giờ anh đã hiểu tại sao việc canh gác lại lỏng lẻo như vậy, hôm nay là Chủ nhật mà.”
Có một thiết bị đánh điện báo nằm trên bàn và một chiếc điện thoại gắn trên tường; Paul trông thấy dưới cái tủ kính là một bảng điều khiển với năm cái cần điều khiển bằng đồng, rõ ràng có kết nối bằng dây điện đến năm cái hố mìn trong đường hầm.
Khi họ đi tiếp, Bernard và Paul tiếp tục lần theo những đường ray dọc theo lòng một con kênh hẹp, lõm sâu vào đá, dẫn họ đến một không gian mở bừng sáng bởi rất nhiều ngọn đèn. Cả một ngôi làng hiện ra trước mắt hai anh em, bao gồm các trại lính với những người lính họ thấy đang đi tới đi lui. Họ bò ra ngoài, để ý tới tiếng xe ô tô và những chùm sáng chói lóa của hai chiếc đèn pha; sau khi trèo qua một hàng rào và đi qua đám cây bụi, họ trông thấy một căn biệt thự lớn sáng trưng từ trên xuống dưới.
Chiếc xe dừng lại trước các bậc thềm, nơi những người hầu, cũng như các tên lính canh gác đang đứng. Hai tên sĩ quan và một quý bà mặc áo lông thú xuống xe. Khi chiếc xe rẽ ngoặt, những ánh đèn làm lộ ra một khu vườn rộng, lọt thỏm giữa những bức tường rất cao.
“Đúng như anh đã nghĩ.” Paul nói. “Nơi này như một bản sao của lâu đài Ornequin. Ở cả hai đầu đều có những bức tường vững chắc cho phép làm việc khỏi lo bị nhòm ngó. Ga cuối ở đây lại nằm giữa không gian mở, thay vì nằm dưới lòng đất, như ở dưới kia, nhưng ít nhất các mỏ đá, các xưởng gia công, những trại lính, đơn vị đồn trú, căn biệt thự thuộc sở hữu của Ban Tham mưu, khu vườn, các chuồng ngựa, toàn bộ tổ chức quân sự đều có tường bao quanh và không nghi ngờ gì nữa, có lính gác bảo vệ vòng ngoài. Điều này giải thích được tại sao bên trong có thể tùy ý di chuyển tự do thế.”
Vào lúc đó, chiếc ô tô thứ hai thả xuống ba tên sĩ quan, sau đó nối gót theo chiếc thứ nhất vào trong nhà để xe ngựa.
“Có một bữa tiệc tối.” Bernard nói.
Hai anh em quyết tâm tiếp cận càng gần càng tốt, nấp sau những lùm cây bụi dày trồng dọc theo lối xe ngựa vào nhà.
Hai người đợi một lúc; và rồi từ những giọng nói và tiếng cười vẳng xuống từ tầng trệt, ở phía sau, họ kết luận rằng chắc chắn đây là quang cảnh một bữa tiệc, rằng các vị khách đang ngồi xuống ăn tối. Chợt vang lên những tiếng hát, những tràng pháo tay. Nhưng bên ngoài không gian vẫn tĩnh lặng. Khu vườn vắng tanh.
“Nơi này có vẻ im lặng quá.” Paul nói. “Anh sẽ đề nghị cậu đỡ anh lên rồi nấp cho kĩ vào.”
“Anh muốn trèo lên một trong mấy cái bậu cửa sổ à? Thế còn cửa chớp thì sao?”
“Anh hy vọng là chúng không ở quá gần. Cậu có thể thấy ánh đèn đang hắt ra ngoài từ ô cửa sổ ở giữa.”
“Rồi, nhưng sao anh lại làm thế? Chẳng có lý do gì cứ phải lảng vảng mãi quanh cái nhà này mà không phải nhà khác.”
“Có lý do đấy. Chính cậu từng bảo một trong số các tù binh bị thương đã nói rằng Hoàng tử Conrad đã biến biệt thự của y ngoài Ebrecourt thành trụ sở. Giờ căn biệt thự này, nằm ngay giữa một nơi như kiểu trại lính có hào xung quanh và ngay cửa vào căn hầm, dường như với anh, nó cho thấy...”
“Chưa nói đến bữa tiệc tối thực sự theo phong cách hoàng gia thế kia.” Bernard nói, phá lên cười. “Anh nói đúng đấy. Lên nào!”
Họ băng qua lối đi bộ. Với sự giúp đỡ của Bernard, Paul dễ dàng nắm chặt gờ tường phía trên sàn tầng hầm và đu mình lên ban công bằng đá.
“Được rồi.” Anh nói. “Quay về chỗ nấp rồi huýt sáo nếu thấy nguy hiểm nhé.”
Sau khi vượt qua hàng chấn song, anh cẩn thận mở một trong những cánh cửa chớp bằng cách trước tiên luồn các ngón tay, sau đó là cả bàn tay qua không gian ở giữa và tháo chốt thành công. Các rèm cửa vắt chéo nhau từ bên trong cho phép anh di chuyển mà không bị nhìn thấy; tuy nhiên chúng lại hở phía trên cùng, có hình tam giác ngược mà anh có thể nhìn qua bằng cách trèo lên chấn song. Anh bèn trèo lên, sau đó cúi người xuống và nhìn vào bên trong.
Cảnh tượng đập vào mắt anh chẳng khác gì một quả đấm kinh hoàng khiến đôi chân anh bắt đầu run rẩy...