Người Đàn Bà Bí Ẩn

Lượt đọc: 247 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
ngọn đồi 132

Đúng là một chuyến đi tuyệt vời! Paul Delroze cảm thấy vui vẻ làm sao! Cuối cùng anh cũng sắp đạt được mục tiêu của mình, và lần này không còn là một trong những kế hoạch nguy hiểm vẫn thường kết thúc trong tuyệt vọng tàn nhẫn nữa, mà là một kết quả logic và là phần thưởng cho những nỗ lực của anh. Lòng anh giờ đây không gợn một chút lo âu. Có những chiến thắng - mà chiến thắng mới đây của anh trước Hoàng đế là một trong số đó - đã xô đổ tất cả từng rào cản. Elisabeth đang ở lâu đài Hildensheim và anh đang trên đường tới lâu đài, chẳng còn trở ngại nào đủ sức ngăn cản anh nữa.

Dường như nhờ ánh sáng ban ngày, anh mới nhận ra những đường nét khung cảnh mới đêm qua còn ẩn mình trong bóng tối: một cái thôn ở đây, một ngôi làng đằng kia, một con sông nơi mình từng đi vòng qua. Anh trông thấy một dãy những khu rừng nhỏ bên đường, trông thấy con mương anh từng vật lộn với tên gián điệp Karl.

Chưa đầy một tiếng sau, chiếc xe tới được ngọn đồi mà nằm trên đỉnh của nó là pháo đài phong kiến Hildensheim. Bao quanh ngọn đồi là một con hào rộng, có cây cầu treo bắc qua. Một người gác cổng đầy cảnh giác xuất hiện, tuy nhiên vài lời của tên sĩ quan khiến những cánh cổng bật mở.

Hai tên lính bộ binh vội vã chạy xuống khỏi tòa lâu đài, và đáp lại câu hỏi của Paul, chúng nói rằng vị phu nhân người Pháp đang đi bộ gần bể bơi. Anh hỏi đường rồi nói với tên sĩ quan: “Tôi sẽ đi một mình. Chúng ta sẽ khởi hành sớm thôi.”

Trời vẫn đang mưa. Mặt trời mùa đông nhợt nhạt đang len lén xuyên làn mây dày, chiếu sáng các bãi cỏ và những bụi cây. Paul đi dọc theo một dãy những tòa nhà trồng cây non và trèo lên một hòn non bộ nơi dòng thác nước mỏng manh chảy nhỏ giọt tạo thành một cái bể lớn, viền quanh là những cây linh sam tối màu, sống động với bầy thiên nga và vịt trời.

Phía cuối bể là một lối đi trên cao được trang trí bằng những bức tượng và ghế đá dài. Tại đó anh trông thấy Elisabeth.

Paul trải qua một cảm xúc không thể lý giải nổi. Anh đã không nói chuyện với vợ mình kể từ khi chiến tranh bùng nổ. Kể từ ngày đó, Elisabeth đã phải chịu đựng những thử thách khủng khiếp nhất, cô chịu đựng chỉ vì một lý do đơn giản, cô muốn xuất hiện trước mặt chồng mình với tư cách là một người vợ trong sạch, con gái của một người mẹ trong sạch.

Và bây giờ anh sắp gặp lại cô vào thời điểm mà những lời nguyền rủa anh đã buông ra đối với nữ Bá tước Hermine là không thể chối bỏ, còn bản thân Elisabeth thì khiến Paul phẫn nộ đến cực điểm khi thấy cô xuất hiện trong bữa tiệc tối của Hoàng tử Conrad.

Nhưng dường như tất cả đã là dĩ vãng rồi! Và chúng thật nhỏ nhoi làm sao! Sự đê tiện của Hoàng tử Conrad, những tội ác của nữ Bá tước Hermine, những ràng buộc quan hệ có thể liên kết hai người phụ nữ, tất cả những đấu tranh mà Paul đã trải qua, tất cả nỗi đau khổ của anh, tất cả bản tính nổi loạn trong anh, tất cả nỗi ghê tởm của anh đều chỉ là những tiểu tiết tầm thường, giờ đây anh chỉ thấy cách hai mươi bước chân trước mặt là người tình bất hạnh mà anh nhất mực yêu thương. Anh không còn nghĩ đến những giọt nước mắt cô đã rơi, chẳng còn nhìn thấy gì ngoài thân hình tiều tụy của cô, run rẩy trong cơn gió đông tê tái.

Anh bước về phía cô. Những bước chân của anh vang lên lạo xạo trên lối đi rải sỏi, Elisabeth quay người lại.

Cô chẳng phác một cử chỉ nào. Từ biểu hiện trên nét mặt cô, anh đã hiểu cô không nhìn thấy anh, thực ra cô nhìn anh như một hồn ma trồi lên từ đám sương mù của những giấc mơ, rằng bóng ma ấy thường xuyên lơ lửng trước đôi mắt ngây thơ của cô.

Thậm chí cô còn mỉm cười với anh một chút, một nụ cười buồn đến nỗi Paul siết chặt nắm tay lại và hai đầu gối anh suýt khuỵu xuống.

“Elisabeth... Elisabeth.” Anh lắp bắp.

Thế rồi cô đứng dậy, một tay đặt lên trái tim và gương mặt cô còn tái nhợt hơn cả tối hôm trước, khi ngồi giữa Hoàng tử Conrad và nữ Bá tước Hermine. Hình ảnh đang dần hiện ra từ đám sương mù, thực tế đang ngày càng rõ rệt hơn trước mắt cô và trong tâm trí của cô. Lần này cô đã trông thấy Paul!

Anh chạy về phía cô, vì dường như cô đang sắp ngã. Nhưng cô tự trấn tĩnh lại, chìa hai tay ra giữ anh đứng vững tại chỗ và cố gắng nhìn anh, như thể cô phải nhìn thật sâu vào tận đáy tâm hồn anh để đọc được những suy nghĩ của anh.

Run rẩy vì tình yêu từ chân lên đầu, Paul lảo đảo. Cô lẩm bẩm: “Ôi, em thấy rằng anh yêu em... rằng anh chưa bao giờ ngừng yêu em!... Giờ em chắc chắn về điều ấy rồi...”

Tuy nhiên, hai cánh tay cô vẫn không ngừng chìa ra, như thể đang gặp phải một chướng ngại, còn bản thân anh không cố gắng tiến đến gần hơn. Toàn bộ cuộc đời và niềm hạnh phúc của họ hiện lên trong ánh mắt hai người, và trong khi cái nhìn chằm chằm của cô bắt gặp ánh mắt anh, cô nói tiếp: “Chúng bảo em rằng anh bị bắt làm tù binh rồi. Có đúng vậy không? Ôi, em đã van xin chúng đưa em đến gặp anh thảm thiết làm sao! Ôi, em đã cúi đầu thật thấp làm sao! Thậm chí em còn phải ngồi xuống cùng bàn với chúng, phá lên cười trước những câu đùa cợt của chúng, đeo những món đồ trang sức và vòng cổ ngọc trai mà y ép buộc em phải đeo. Em làm tất cả những chuyện này chỉ để được gặp anh!... Nhưng chúng cứ hứa hươu hứa vượn suốt. Nhưng rồi cuối cùng, đêm qua chúng đã mang em tới đây và em những tưởng rằng chúng lại lừa em thêm một lần nữa... hoặc giả lại là một cái bẫy mới mẻ nữa... hoặc cuối cùng chúng đã đổi ý và sẽ giết em... Nhưng bây giờ anh đã ở đây rồi, anh đã ở đây rồi, Paul, người tình của riêng em!...”

Cô vùi mặt vào trong lòng hai bàn tay, bất chợt cô lên tiếng bằng giọng tuyệt vọng: “Nhưng anh sẽ không đi ngay chứ? Anh chắc chắn sẽ ở lại đến mai chứ? Chúng không thể cướp anh khỏi tay em chỉ sau vài phút như thế? Anh sẽ ở lại đúng không? Ôi, Paul, sự can đảm của em tan biến hết rồi... đừng bỏ em!...”

Cô ngạc nhiên vô cùng khi thấy anh mỉm cười. “Chuyện gì vậy? Người yêu dấu nhất của em, trông anh mới hạnh phúc làm sao!”

Anh bắt đầu phá lên cười, và lần này anh kéo cô lại sát gần mình với phong thái ông chủ không cho phép cô phản đối, anh hôn lên tóc cô, lên trán cô, lên đôi má cô và làn môi cô; rồi nói: “Anh cười vì chẳng còn việc gì để làm ngoài cười và hôn em. Anh còn cười vì anh đã tưởng tượng bao nhiêu chuyện ngu ngốc. Đúng, thử nghĩ mà xem, vào bữa tối đêm qua, anh đã nhìn thấy em từ khoảng cách rất xa... và anh đã phải chịu đựng những nỗi thống khổ. Anh đã nguyền rủa em mà chẳng hiểu gì cả... Ôi, anh mới ngu ngốc làm sao chứ!”

Không hiểu nổi vẻ hân hoan của anh, cô lại nói tiếp: “Anh mới hạnh phúc làm sao! Sao anh có thể hạnh phúc như thế?”

“Chẳng có lý do gì khiến anh không nên hạnh phúc” Paul đáp, miệng vẫn cười. “Thôi nào, hãy nhìn mọi thứ đúng bản chất của chúng: Anh và em đang gặp nhau sau những bất hạnh chưa từng thấy. Chúng ta ở bên nhau, chẳng điều gì có thể ngăn cách chúng ta nữa, thế mà em vẫn cho rằng anh không nên vui mừng ư?”

“Phải, ý anh muốn nói rằng không còn gì có thể ngăn cách chúng ta nữa?” Cô hỏi, bằng giọng run rẩy vì lo âu.

“Tất nhiên rồi! Điều ấy lạ lùng lắm sao?”

“Anh sẽ ở lại với em à? Chúng ta sẽ cùng chung sống ở đây sao?”

“Không không phải thế! Ôi, cái ý tưởng mới hay họ làm sao! Em sẽ gói ghém đồ đạc nhanh như gió rồi chúng ta sẽ cùng đi.”

“Đi đâu?”

“Còn đi đâu nữa? Đương nhiên là về Pháp. Khi nghĩ về điều này, thì đó là mảnh đất duy nhất nơi chúng ta thực sự thoải mái.”

Và khi cô nhìn anh trừng trừng kinh ngạc, anh nói: “Nào nhanh lên em! Xe đang chờ rồi; và anh đã hứa với Bernard - phải, em trai em ấy, Bernard - rằng tối nay chúng ta sẽ cùng quay về với cậu ấy... Em sẵn sàng chưa? Nhưng tại sao em lại nhìn anh sửng sốt thế? Em có muốn anh giải thích tất cả mọi chuyện không? Nhưng, em yêu nhất đời của anh, để giải thích rõ ràng mọi chuyện đã xảy ra với em và anh sẽ phải mất hàng giờ, hàng giờ đồng hồ đấy. Em đã làm cho một tên Hoàng tử si mê mình... và rồi em bị bắn... và rồi... và rồi... Ôi, mà có quan trọng gì nữa đâu chứ? Chẳng nhẽ anh lại phải cưỡng ép em đi cùng anh hay sao?”

Đột nhiên cô hiểu rằng anh đang nói chuyện nghiêm túc; và không hề rời mắt khỏi anh, cô hỏi: “Đúng vậy không? Chúng ta tự do rồi sao?”

“Hoàn toàn tự do.”

“Chúng ta sẽ cùng quay về Pháp?

“Ngay lập tức.”

“Chúng ta chẳng còn gì phải sợ nữa à?”

“Chẳng sợ gì nữa.”

Sự căng thẳng mà cô đang phải chịu đựng bất ngờ trở nên dễ chịu. Đến lượt cô bắt đầu cười, không thể cưỡng lại những tràng cười không thể kiểm soát thoát ra từ từng hành động ngớ ngẩn trẻ con. Cô có thể đã hát lên, cô có thể đã nhảy múa vì quá sung sướng. Thế nhưng những giọt lệ lại thi nhau rơi trên má cô. Và cô lắp bắp: “Tự do!... Tất cả kết thúc rồi!... Phải chăng em đã trải qua quá nhiều chuyện?... Không hề!... Ôi, anh biết rằng em đã bị bắn à? Chà, em đảm bảo với anh rằng nó không tệ đến mức đó đâu... Em sẽ kể cho anh nghe chuyện đó và rất nhiều chuyện khác nữa... Và anh cũng phải kể cho em nghe nữa đấy nhé... Nhưng làm sao anh xoay xở được? Chắc anh phải là người thông minh hơn cả người thông minh nhất, thông minh hơn cả Conrad ghê tởm ấy, thông minh hơn cả tên Hoàng đế nữa! Ôi trời ạ, thật là vui làm sao, em vui quá!...”

Đột nhiên cô dừng khựng lại, siết chặt cánh tay anh rồi nói: “Chúng ta cùng đi thôi, anh yêu. Thật điên rồ khi ở lại cái nơi này thêm một giây nào nữa. Những kẻ này có thể làm bất kỳ điều gì. Có vẻ như chúng chẳng hứa hẹn gì hết. Chúng là bọn vô lại, bọn tội phạm. Đi thôi... Đi thôi...”

Họ cùng bỏ đi.

Hành trình của họ trôi qua thật êm ả. Vào buổi tối, họ tới được các phòng tuyến trên tiền tuyến, đối diện Ebrecourt.

Tên sĩ quan phụ trách, người được trao toàn quyền, bật sáng ngọn đèn và sau khi ra lệnh giơ cờ trắng, hắn dẫn Elisabeth và Paul đến gặp viên sĩ quan Pháp, người đang bước về phía trước.

Viên sĩ quan gọi điện cho tuyến sau. Một chiếc xe được gửi đến; và lúc chín giờ, xe chở Paul cùng Elisabeth tấp vào lề đường trước hai cánh cổng vào Ornequin, Paul đề nghị nối máy với Bernard. Anh thỏa thuận với cậu ta. “Phải cậu không, Bernard?” Anh hỏi. “Nghe tôi đây và đừng để phí một phút nào. Anh đưa Elisabeth về rồi đây. Ừ, cô ấy đang ngồi trong xe này. Bọn anh sẽ về Corvigny và cậu sẽ đi cùng với bọn anh. Trong khi anh đi lấy túi đồ của anh em mình, cậu nhớ dặn dò người khác canh chừng tên Hoàng tử Conrad cẩn thận. Y vẫn an toàn đấy chứ?”

“Vâng!”

“Thế thì nhanh lên. Anh muốn đi tóm ả đàn bà cậu đã gặp đêm hôm trước khi ả bước vào đường hầm. Giờ thì ả đang ở Pháp, chúng ta sẽ săn lùng ả.”

“Paul, anh không nghĩ là anh em mình sẽ lần ra dấu vết của ả dễ hơn nếu quay vào trong hầm và tìm ra cửa hầm tại Corvigny à?”

“Bọn mình không đủ thời gian đâu. Đến giai đoạn đấu tranh vô cùng gấp rút rồi.”

“Nhưng Paul à, cuộc chiến kết thúc rồi, giờ chị Elisabeth được cứu rồi mà.”

“Cuộc chiến sẽ không bao giờ kết thúc chừng nào ả đó còn sống.”

“Vâng, nhưng ả là ai?”

Paul không trả lời.

Lúc mười giờ, cả ba cùng hân hoan vui sướng ngoài nhà ga tại Corvigny. Giờ thì chẳng còn căng thẳng nào nữa. Mọi người cùng ngon giấc. Nhưng Paul không chịu nghỉ ngơi, anh đến chỗ lực lượng vệ binh quân đội, đánh thức tay sĩ quan phụ tá dậy, nhờ tìm hộ tay Giám đốc nhà ga lẫn người bán vé, và sau một phút dò hỏi, anh xác minh thành công thực tế rằng cũng vào buổi sáng hôm thứ Hai ấy, một người đàn bà có giấy thông hành giả mang tên Antonin đã mua vé đến lâu đài Thierry. Ả là người phụ nữ duy nhất đi một mình. Trên người ả mặc đồng phục của Hội Chữ thập đỏ. Miêu tả về ả tương đồng về mọi mặt với nữ Bá tước Hermine.

“Chắc chắn là ả.” Paul nói, khi họ nhận phòng nghỉ qua đêm tại khách sạn gần nhà ga. “Không nghi ngờ gì nữa. Đó là con đường duy nhất ả có thể đi từ Corvigny. Và đó cũng là con đường chúng ta sẽ đi vào sáng mai, cùng lúc với ả. Anh hy vọng ả sẽ không có thời gian triển khai kế hoạch mà vì thế ả phải sang Pháp. Dù sao đi nữa, đây là cơ hội ngàn năm có một, chúng ta phải tận dụng nó triệt để.”

“Nhưng ả là ai?” Bernard lại hỏi.

“ Ả là ai ư? Hỏi chị Elisabeth nhà cậu kia kìa. Chúng ta còn một tiếng để thảo luận những chi tiết nhất định rồi đi ngủ. Cả ba chúng ta cần nghỉ ngơi đấy.”

Họ lên đường vào sáng thứ Ba. Sự tự tin của Paul không gì lay chuyển được. Cho dù chẳng biết gì về những ý định của nữ Bá tước Hermine, nhưng anh cảm thấy chắc chắn mình đang đi đúng hướng. Thực ra, họ liên tục được cung cấp thông tin rằng một y tá Hội Chữ thập đỏ, đi một mình bằng vé hạng nhất, cũng đi qua các nhà ga tương tự ngày hôm qua.

Họ rời khỏi lâu đài Thierry vào buổi chiều muộn. Paul lập tức đi dò hỏi. Tối hôm trước, ả y tá đã lái chiếc xe của Hội Chữ y thập đỏ đang đỗ chờ tại nhà ga. Căn cứ theo các tờ báo do tài xế mang theo, chiếc xe này nằm trong đội xe cứu thương đang làm việc phía sau Soissons; tuy nhiên, vị trí chính xác của chiếc xe cứu thương này vẫn là bí ẩn.

Tuy nhiên, nơi này quá gần gũi với Paul. Soissons nằm trên chiến tuyến.

“Cùng đến Soissons thôi.” Anh nói.

Tờ lệnh có chữ ký của Tổng Tư lệnh mang theo giúp anh dễ dàng kiếm được chiếc ô tô đi vào vùng chiến sự. Họ tới Soissons vào giờ ăn tối.

Các vùng ngoại ô hoang vắng vì bị bom đạn tàn phá. Bản thân thành phố dường như cũng bị bỏ hoang phần lớn. Nhưng khi họ đến gần trung tâm hơn, các khung cảnh hoạt náo nhất định vẫn diễn ra trên các con phố. Những nhóm lính với bước chân nhanh nhẹn. Các xe ngựa chở súng và đạn dược lộc cộc đi qua. Trong khách sạn họ thuê phòng tại Grand-Place, nơi có một số sĩ quan là khách trọ, khung cảnh nói chung là nhộn nhịp, mọi người hết ra lại vào có phần hơi lộn xộn.

Paul và Bernard đi dò hỏi lý do. Hai anh em được biết rằng mới vài ngày trước, họ đã chiếm được các con dốc nằm đối diện Soissons, phía bên kia Aisne. Hai ngày trước, vài tiểu đoàn bộ binh nhẹ và lính châu Phi đã chiếm được đồi 132 trong một trận tấn công. Ngày tiếp theo, họ giữ vững các vị trí mình đã chiếm và đào các con hào tại Dent de Crouy. Sau đó, suốt cả đêm ngày thứ Hai vào lúc địch đang mở cuộc phản công mạnh mẽ, một chuyện rất lạ lùng đã xảy ra. Vùng Aisne căng mình lên hứng chịu những trận mưa nặng hạt, nước dâng lên tràn bờ và cuốn phăng đi tất cả các nhịp cầu tại Villeneuve và Soissons.

Nước sông Aisne dâng cao vốn là chuyện tự nhiên, tuy nhiên, nước sông dâng cao là thế nhưng vẫn không thể giải thích được chuyện các cây cầu bị phá hủy, và nó lại diễn ra đúng thời điểm quân Đức mở cuộc phản công, lý do tại sao đến giờ này vẫn chưa được giải thích, nhưng đồng thời tình hình quân Pháp cũng vì thế mà gặp khó khăn, khi gần như không thể nào chuyển quân tiếp viện tới. Quân đội của chúng ta đã bám trụ trên quả đồi này cả ngày, giờ đang lâm vào tình cảnh khó khăn và chịu thương vong nhiều. Vào lúc này, một phần lực lượng pháo binh lại phải rút về bờ bên phải sông Aisne.

Paul và Bernard không chần chừ lấy một giây nào. Họ đã nhận ra có bàn tay của nữ Bá tước Hermine trong chuyện này. Những cây cầu bị phá hủy, những cuộc tấn công của quân Đức, hai biến cố này xảy ra vào đúng cái đêm ả đến đây, không nghi ngờ gì nữa, đây chính là kết quả của âm mưu ả đã trù tính, việc thực thi kế hoạch được ấn định vào thời điểm mưa nặng hạt khiến nước sông dâng cao cho thấy đích thị có sự hợp tác giữa ả Bá tước và Ban Tham mưu của địch.

Ngoài ra, Paul nhớ lại những câu ả đã trao đổi với tên gián điệp Karl ngoài cửa căn biệt thự của Hoàng tử Conrad: “Ta sẽ sang Pháp…. mọi thứ đã sẵn sàng rồi. Thời tiết đang ủng hộ chúng ta và Ban Tham mưu cho ta biết rằng họ muốn ta hành động thay mặt họ. Thế nên tôi mai ta sẽ có mặt ở đó, chỉ còn chờ tín hiệu nữa thôi...”

Ả đã phát ra tín hiệu đó. Tất cả các cây cầu bị Karl hoặc người do gã trả tiền thuê phá hoại và giờ đã hư hỏng.

“Mười mươi chính là ả.” Bernard nói. “Và nếu thế, sao trông anh lo lắng vậy? Đúng ra anh nên vui mừng mới đúng, vì chúng ta giờ đây chắc chắn túm được gáy ả rồi.”

“Phải, nhưng liệu chúng ta có làm kịp không? Khi nói chuyện với Karl, ả đã buột miệng nói ra một bí mật khác khiến anh thấy nghiêm trọng hơn nhiều. Như anh đã bảo cậu rồi, ả nói rằng: “Chúng ta đang không gặp may. Nếu ta thành công, tình cảnh khó khăn sẽ kết thúc.” Rồi khi tên gián điệp hỏi ả liệu Hoàng đế đã phê chuẩn kế hoạch của ả chưa, ả trả lời rằng sự cho phép của Hoàng đế là không cần thiết và rằng đây là một trong những cam kết người ta không nói đến. Cậu hiểu không, Bernard, đây không phải là vấn đề quân Đức tấn công hay phá hủy các cây cầu, mà là chiến tranh thực sự và tên Hoàng đế kia biết hết tất cả. Không, đó là một vấn đề hoàn toàn khác, cố tình diễn ra trùng khớp với những sự kiện khác khiến chúng có đầy đủ ý nghĩa. Ả đàn bà sẽ không thể lường trước được rằng việc đi trước nửa dặm hoặc một dặm là một hành động có thể kết thúc cái mà ả gọi là tình thế khó khăn. Vậy thì đằng sau tất cả chuyện này là gì? Anh không biết, và chính điều đó khiến anh lo âu.”

Paul dành phần lớn thời gian buổi tối hôm đó và trọn ngày hôm sau, thứ Tư ngày Mười ba, tiếp tục tìm kiếm trên các con phố của thị trấn hoặc dọc hai bờ sông Aisne. Anh tự kết nối các đường dây liên lạc với các quan chức quân đội. Các sĩ quan và người của họ từng tham gia vào những cuộc điều tra. Họ đã đến gõ cửa từng nhà và thẩm vấn một số thường dân.

Bernard đề nghị được đi cùng, nhưng Paul một mực từ chối: “Không! Đúng là ả đàn bà này không biết cậu, nhưng không được phép để ả nhìn thấy chị gái cậu. Thế nên anh mới bảo cậu phải ở nhà với Elisabeth, ngăn không cho cô ấy đi ra ngoài và trông chừng cô ấy không được lơ là một phút nào, vì chúng ta phải đối phó với kẻ địch khủng khiếp nhất có thể hình dung được.”

Và thế là hai chị em đã phải trải qua những thời khắc dài dằng dặc ngồi nhìn ra đường qua ô cửa sổ. Thi thoảng Paul lại quay về nhà dùng bữa. Anh đang run lên vì hy vọng.

“Ả ở đây.” Anh nói. “Chắc ả phải bỏ lại những thứ mình đã dùng trong xe, cởi bỏ bộ đồ y tá giả trang và giờ ả đang y trốn trong cái xó nào đó, như một ả nhện cái trốn đằng sau tấm mạng. Anh có thể trông thấy ả, điện thoại cầm trong tay, đưa ra các mệnh lệnh cho cả một lũ, những kẻ được đưa xuống trái đất này giống ả và chúng đang biến mình thành vô hình như ả. Nhưng anh bắt đầu hiểu ra được kế hoạch của ả và nắm được lợi thế so với ả, đó là ả tự tin cho rằng bản thân mình an toàn. Ả không hề biết rằng kẻ đồng lõa của ả, Karl, đã chết. Ả không hề biết chuyện Elisabeth đã được thả. Không hề biết rằng cô ấy đang có mặt ở đây. Anh tóm được ả rồi, con ác thú đáng ghê tởm, anh tóm được ả rồi.”

Trong khi đó, tin tức về trận chiến không lạc quan chút nào. Trên bờ trái con sông, dòng người rút lui vẫn còn tiếp tục. Tại Crouy, tính khốc liệt của những mất mát và độ sâu của lớp bùn làm chậm bước tiến của quân đội Maroc. Cây cầu phao dã chiến được dựng chớp nhoáng đã bị cuốn trôi xuôi dòng.

Khi Paul một lần nữa quay về nhà, vào lúc sáu giờ chiều, trên ống tay áo anh dây mấy giọt máu. Elisabeth hốt hoảng.

“Không sao đâu.” Anh nói, cười phá lên. “Một vết xước thôi, anh còn chẳng biết sao lại bị nữa.”

“Nhưng bàn tay anh kìa, xem bàn tay anh ấy. Anh đang chảy máu kìa!”

“Không, không phải máu của anh. Đừng có hoảng lên thế. Mọi chuyện ổn cả mà.”

Bernard nói: “Anh biết Tổng Tư lệnh sáng nay đã đến Soissons.”

“Đúng, có vẻ như thế. Tốt hơn nhiều rồi. Anh rất muốn lôi ả gián điệp kia cùng đồng đảng của ả đến trước mặt ngài ấy. Sẽ là món quà tặng tuyệt vời.”

Anh bỏ đi trong một tiếng nữa rồi quay về nhà ăn tối. “Trông anh cứ như nắm chắc được mọi chuyện rồi ấy.” Bernard nói.

“Ta không bao giờ chắc chắn được mọi chuyện. Ả rất quỷ quyệt.”

“Nhưng anh biết ả đang trốn ở đâu mà?”

“Đúng!”

“Thế thì anh còn chờ gì nữa?”

“Anh đang chờ đến chín giờ. Cho tới lúc đó thì anh có thể nghỉ ngơi. Đánh thức anh dậy trước chín giờ một lúc nhé.”

Các khẩu đại bác xa xa không bao giờ ngừng pháo kích trong đêm tối. Thi thoảng một trái đạn pháo sẽ rơi xuống thị trấn tạo thành tiếng nổ vang động. Các toán quân tỏa đi theo mọi hướng. Xen kẽ là những khoảng thinh lặng, trong khoảng không gian ấy, những thanh âm của chiến tranh dường như lơ lửng, có lẽ đó là những phút giây khó khăn và quan trọng nhất.

Paul tự thức dậy, anh nói với vợ và Bernard: “Hai người biết không, hai người cùng đi với anh đi. Gian nan lắm đấy nhé, Elisabeth, vụ này rất gian nan đấy. Em có chắc mình đủ sức vượt qua được không?”

“Ôi, Paul... Nhưng mà chính anh thì đang tái nhợt kia kìa.”

“Phải.” Anh nói. “Là lo âu đấy. Không phải vì những chuyện sắp diễn ra. Mà là bất chấp anh đã đề phòng hết mọi nhẽ, anh vẫn sẽ sợ hãi cho đến tận phút cuối cùng rằng kẻ địch sẽ thoát khỏi tay mình. Chỉ một hành động bất cẩn, chỉ một chút không may thôi là đủ nguy hiểm lắm rồi... và anh sẽ phải bắt đầu lại tất cả mọi thứ... Đừng bao giờ quên khẩu súng ngắn của cậu, Bernard.”

“Cái gì?” Bernard kêu lên. “Chẳng nhẽ trong chuyến viễn chinh này của anh cũng dính tới đánh đấm à?”

Paul không đáp. Theo thói quen, anh luôn tự thể hiện bản thân khi hành động hoặc sau đó. Bernard mang khẩu súng ngắn theo.

Tiếng chuông cuối cùng báo chín giờ vang lên khi họ băng qua Grand-Place, giữa bóng tối vây quanh, đây đó xuất hiện những tia sáng mong manh tỏa ra từ một cửa hiệu đóng kín. Một nhóm binh lính tập trung tại sân trước của một thánh đường cảm thấy đường nét đồ sộ lờ mờ của nó như sắp đổ ập xuống đầu.

Paul chĩa ánh sáng ngọn đèn điện về phía họ và hỏi tay lính chỉ huy: “Có tin tức gì mới không, Trung sĩ?”

“Không, thưa ngài. Không thấy ai đi vào cũng như đi ra khỏi nhà thờ.”

Viên Trung sĩ đưa tay lên miệng làm tiếng huýt sáo nhỏ. Giữa con phố, có hai người xuất hiện từ trong bóng tối xung quanh và đến gần nhóm lính.

“Có nghe thấy âm thanh gì trong nhà không?”

“Dạ không, thưa Trung sĩ.”

“Có ánh đèn nào sau các cánh cửa chớp không?”

“Dạ không, thưa Trung sĩ.”

Paul bước đều về phía trước, trong khi những người khác theo hướng dẫn của anh đi theo sau mà không gây một tiếng động nào, bước chân của anh quả quyết, như một du khách về muộn tìm đường về nhà.

Họ dừng lại trước một ngôi nhà có mặt tiền hẹp, tầng trệt gần như không thể nhìn ra trong bóng tối của màn đêm. Có ba bậc thềm dẫn lên cửa trước. Paul gõ mạnh lên cửa bốn lần, đồng thời rút từ trong túi ra chiếc chìa khóa và mở cửa.

Anh lại bật công tắc ngọn đèn điện trong hành lang, và trong khi những người đi cùng tiếp tục giữ im lặng như lúc nãy, anh quay sang cái gương mọc lên sừng sững từ sàn nhà lát đá. Anh lại gõ bốn lần rất nhẹ lên cái gương rồi đẩy nó, ép người vào một gương. Nó che giấu khe hở của một cầu thang dẫn xuống tầng hầm, Paul chiếu ánh sáng xuống khoảng trống. bên

Đây có vẻ là một tín hiệu, tín hiệu thứ ba theo thỏa thuận, vì một giọng nói từ phía dưới, một giọng nữ, nhưng nghe khàn khàn và gay gắt, lên tiếng hỏi: “Phải ông không, bố già Walter?”

Đã đến lúc hành động. Không trả lời, Paul lao thẳng xuống cầu thang, nhảy bốn bước một. Anh chạy tới chân cầu thang đúng lúc một cánh cửa to đùng đang đóng, gần như chắn lối xuống căn hầm.

Anh đẩy cửa thật mạnh rồi bước vào.

Nữ Bá tước Hermine đang ở đó, đứng bất động, trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngần ngừ không biết nên làm gì.

Bỗng ả vùng chạy đến đầu kia căn hầm, chộp lấy khẩu súng lục nằm trên bàn, xoay người lại rồi bắn.

Cò súng kêu cạch một tiếng, nhưng không có tiếng nổ nào. Ả bóp cò thêm ba lần nữa, nhưng kết quả cả ba lần vẫn giống nhau.

“Đừng có phí công nữa.” Paul nói, phá lên cười. “Đạn đã tháo ra hết rồi.”

Nữ Bá tước thốt ra một tiếng thét cuồng nộ, mở ngăn kéo trên bàn và rút ra một khẩu súng lục khác nữa, bóp cò đến tận bốn lần, nhưng chẳng một âm thanh nào vang lên.

“Bà vứt nốt khẩu đó xuống đi là vừa.” Paul cười. “Nó cũng chẳng có đạn đâu, khẩu còn lại trong ngăn kéo kia cũng thế, toàn bộ vũ khí trong căn nhà này đều thế cả thôi.”

Thế rồi khi nhìn anh trừng trừng kinh ngạc, không hiểu gì, choáng váng trước sự bất lực của chính ả, anh cúi thấp đầu xuống và tự giới thiệu bản thân, chỉ bằng hai từ, nhưng có ý nghĩa rất nhiều: “Paul Delroze.”

« Lùi
Tiến »