Dù nhỏ hơn, nhưng căn hầm giống một trong những hành lang tầng hầm có mái vòm rộng lớn, vốn thịnh hành tại quận Champagne. Những bức tường sạch bong không tì vết, sàn nhà mềm mại với những lối đi bằng gạch chạy cắt ngang, bầu không khí ấm áp, một chỗ hõm vào được ngăn cách bằng tấm màn giữa hai cái bình rượu lớn, mấy cái ghế dựa, ghế băng và mấy tấm thảm trải sàn không chỉ tạo nên một không gian sống thoải mái, tránh xa khỏi những trái đạn pháo mà còn là nơi trú ẩn an toàn cho bất kỳ ai khiếp sợ những chuyến thăm ầm ĩ.
Paul nhớ lại đống đổ nát của ngọn hải đăng cũ trên bờ sông Yser và đường hầm từ Ornequin đến Ebrecourt. Vậy là cuộc chiến vẫn tiếp diễn dưới lòng đất: Một cuộc chiến trong những con hào và những tầng hầm, một cuộc chiến do thám và lừa lọc, với những thủ đoạn cũ rích, vụng trộm, bẩn thỉu, ám muội và vô đạo đức giống nhau.
Paul tắt ngọn đèn cầm trong tay, giờ đây căn phòng chỉ được chiếu sáng lờ mờ bằng ngọn đèn dầu đang treo trên trần nhà, với những tia sáng chiếu xuống dưới nhờ cái chụp đèn mờ xỉn, vẽ nên một vòng tròn màu trắng nơi chỉ có hai người đứng. Elisabeth và Bernard vẫn đứng yên trong cảnh nền, trong bóng tối.
Viên Trung sĩ và binh lính của anh ta không xuất hiện, nhưng có thể nghe thấy tiếng họ dưới chân cầu thang.
Nữ Bá tước không nhúc nhích. Ả ăn vận như trong bữa tiệc tối tại dinh thự của Hoàng tử Conrad. Gương mặt ả không còn nét sợ hãi hay hốt hoảng nữa, mà là chìm trong suy nghĩ, như thể ả đang cố gắng tính toán mọi hậu quả của tình thế giờ ả biết mình đã lâm vào. Paul Delroze ư? Hắn đang tấn công ả vì chuyện gì nhỉ? Ý định của hắn - và rõ ràng đây là ý định dần dần khiến nét mặt của nữ Bá tước Hermine giãn ra - không nghi ngờ gì nữa, ý định của hắn là tìm lại tự do cho vợ mình.
Ả mỉm cười. Elisabeth là một tù binh tại Đức; đúng là một lá bài tẩy trong tay ả, dù có bị mắc bẫy nhưng ả vẫn có thể kiểm soát được cục diện!
Nhận được tín hiệu của Paul, Bernard bước lên phía trước và Paul nói với nữ Bá tước: “Em vợ tôi đây. Khi tên Thiếu tá Hermann bị trói gô nằm trong ngôi nhà của người lái phà, có thể hắn đã trông thấy cậu ấy, cũng như hắn đã có thể trông thấy tôi. Nhưng dù sao đi nữa, nữ Bá tước Hermine - hay nói cho đúng hơn, phải gọi là nữ Bá tước d’Andeville - lại không biết hay ít nhất đã quên mất cậu con trai của mình, Bernard d’Andeville.”
Lúc này có vẻ như ả đã hoàn toàn yên tâm, vẫn khoác vẻ mặt tự tin của kẻ sở hữu những vũ khí ngang bằng hoặc mạnh hơn trong chiến đấu. Ả không cho thấy chút bối rối nào khi trông thấy Bernard, và nói bằng giọng lơ đễnh: “Bernard d’Andeville rất giống chị gái Elisabeth của nó, với những hoàn cảnh cho phép ta sau này được thấy nhiều. Mới chỉ có ba ngày kể từ khi ta và con bé cùng ăn tối với Hoàng tử Conrad. Hoàng tử rất yêu thích Elisabeth và y hoàn toàn đúng, vì con bé quyến rũ... và rất tốt bụng!”
Paul và Bernard cùng chuyển động giống nhau, hẳn tình thế sẽ kết thúc bằng một màn so găng giữa hai anh em với nữ Bá tước, nếu họ không thể dằn được nỗi căm hận xuống. Paul đẩy cậu em vợ của mình sang một bên vì nhận thức được sự phẫn nộ căng thẳng của cậu ta, rồi trả lời câu thách thức của kẻ thù bằng cái giọng cũng tưng tửng ngang thế: “Phải, chuyện đó tôi biết hết, tôi đã ở đó. Thậm chí tôi còn có mặt khi cô ấy rời khỏi đó. Karl, bạn của bà đã đề nghị tôi ngồi trong xe gã và chúng tôi đã tới nơi ở của bà tại Hildensheim; một lâu đài trông rất đẹp, mà tôi ước gì mình có đủ thời gian để đi ngắm nghía hết... Nhưng đó không phải là một nơi an toàn để ở lại, thực ra nó luôn trong tình trạng nguy hiểm chết người; vì thế nên...”
Nữ Bá tước nhìn anh với vẻ bối rối ngày một tăng. Anh đang muốn nói gì nhỉ? Làm sao anh biết những chuyện này? Ả cố gắng khiến anh là người tiếp theo khiếp sợ, để có thể hiểu rõ hơn các kế hoạch của kẻ địch, nên ả nói bằng giọng khắc nghiệt: “Phải, chết người là đúng từ đấy. Không khí ở đó không phải ai cũng thấy trong lành.”
“Một bầu không khí độc hại.”
“Chính xác!”
“Có phải bà căng thẳng vì Elisabeth không?”
“Nói thẳng ra là có. Sức khỏe của con bé tội nghiệp ấy không hề tốt, đúng vậy; và ta sẽ không được dễ dàng...”
“Cho đến khi cô ấy chết phải không, tôi nghĩ vậy?”
Ả chờ một, hai giây rồi vặc lại, nói năng rất rõ ràng, nên Paul có thể hiểu được tường tận ý nghĩa của lời ả nói: “Phải, cho đến khi con bé chết... Và điều đó cũng không còn xa nữa đâu... nếu nó còn chưa xảy ra.”
Tiếp theo là một khoảng lặng. Một lần nữa, trước sự có mặt của ả đàn bà đó, Paul cũng lại cảm thấy nỗi khao khát muốn phạm tội giết người, nỗi khao khát muốn thỏa mãn sự căm hận của mình. Ả phải bị giết chết. Nếu bổn phận của anh là giết ả, thì không tuân thủ bổn phận ấy mới chính là tội ác.
Elisabeth đang đứng phía sau cách ba bước chân, trong bóng tối. Không nói lời nào, Paul chậm rãi quay mặt về phía cô, nhấn mạnh lò xo ngọn đèn cầm trên tay và rọi toàn bộ quầng sáng lên gương mặt vợ mình.
Không một lúc nào anh nghi ngờ ảnh hưởng mạnh mẽ mà hành động này sẽ tác động lên nữ Bá tước Hermine. Một kẻ như ả sẽ không thể phạm sai lầm, không thể cho rằng mình là nạn nhân của một ảo ảnh hoặc trò lừa bịp nào đó tương tự. Không, ngay lập tức ả đã chấp nhận thực tế rằng Paul đã giải cứu được vợ, rằng Elisabeth đang đứng ngay trước mặt ả. Nhưng sự kiện này có thể tàn khốc tới mức nào? Elisabeth, kẻ mới ba ngày trước ả đã bỏ lại cho Karl lo liệu; Elisabeth, kẻ mà ngay đúng giờ phút này lẽ ra đã phải chết hoặc trở thành tù nhân trong một pháo đài của Đức, mà lối vào pháo đài có hơn hai triệu lính Đức canh gác, nhưng giờ Elisabeth lại đang ở đây! Con bé đã thoát khỏi Karl trong chưa đầy ba ngày! Con bé đã trốn thoát khỏi lâu đài Hildensheim và vượt qua các phòng tuyến của hai triệu lính Đức!
Nữ Bá tước Hermine ngồi xuống với nét mặt méo mó tại cái bàn từng bảo vệ ả như thành lũy, và trong cơn phẫn nộ, ả ép mạnh hai bàn tay siết thành nắm đấm lên má. Ả đã hiểu được tình thế của mình. Thời gian nô đùa hoặc thách thức đã hết. Thời gian để mặc cả cũng đã hết. Trong trò chơi gớm ghiếc mà ả đang chơi, cơ hội giành chiến thắng cuối cùng bất ngờ trượt khỏi bàn tay ả. Giờ ả phải đầu hàng trước kẻ chinh phục, mà kẻ ấy lại là Paul Delroze.
Ả lắp bắp: “Đề xuất của ngươi là gì? Mục đích của ngươi là gì? Giết ta à?”
Anh nhún vai. “Chúng tôi không phải là kẻ sát nhân. Bà ở đây để bị phán xử. Hình phạt mà bà phải chịu đựng sẽ là bản án dành cho bà sau khi phiên tòa kết thúc, bà sẽ có thể tự bảo vệ cho mình.”
Cơn run rẩy chạy dọc sống lưng ả, ả phản đối:“Ngươi không có quyền phán xử ta, các ngươi không phải là thẩm phán.”
Vào lúc này, trên cầu thang vang lên những tiếng ồn. Một giọng nói kêu lên: “Để ý phía trước!”
Và ngay sau đó, cánh cửa ra vào vốn đang mở hé bị đá bật tung ra, ba sĩ quan mặc áo choàng dài bước vào trong.
Paul nhanh chóng tiến về phía họ, lấy ghế cho họ ngồi chỗ ánh đèn không rọi tới trong phòng. Một người thứ tư đi vào, Paul cũng đón tiếp người đó và cho ngồi sang một bên, cách hơi xa một chút.
Elisabeth và Paul đứng sát bên nhau.
Paul quay về đứng phía trước cạnh cái bàn và nói: “Các thẩm phán của bà tới rồi đấy. Tôi sẽ là nguyên cáo.”
Và ngay lập tức, không ngần ngừ, như thể anh đã sắp đặt từ trước tất cả từng chi tiết trong bản cáo trạng mà mình sắp tuyên đọc, bằng giọng không vương vấn một chút nào hận thù hay giận dữ, anh nói: “Bà sinh trưởng tại lâu đài Hildensheim, nơi ông ngoại của bà làm quản gia. Tòa lâu đài được dành cho cha bà sau cuộc chiến tranh năm 1870. Tên của bà đúng là Hermine; Hermine von Hohenzollern. Cha bà thường khoe khoang cái tên Hohenzollern đó, cho dù ông ta không có quyền được hưởng nó; tuy nhiên ân huệ lớn lao khi ông ta được sánh vai cùng vị Hoàng đế cũ đủ sức ngăn chặn bất kỳ ai dám phản đối. Ông ta tham gia chiến dịch năm 1870 với quân hàm đại tá và nổi tiếng nhờ những hành động tàn nhẫn và tham lam vô nhân đạo nhất. Tất cả những báu vật trang hoàng cho lâu đài Hildensheim đến từ Pháp, và như để hoàn chỉnh thêm bản chất trơ tráo vô liêm sỉ của trò cướp đoạt ấy, mỗi món đồ đều có bao gồm mảnh giấy ghi rõ nó đến từ đâu và tên chủ sở hữu bị trộm đồ. Chưa hết, trong tiền sảnh có một phiến đá cẩm thạch khắc cả dòng chữ bằng vàng tên tất cả những ngôi làng ở Pháp bị đốt cháy theo lệnh của tên Bá tước - Đại tá cao quý Hohenzollern ấy. Hoàng đế thường xuyên ghé thăm lâu đài. Mỗi lần đến thăm, ông ta đều đứng nghiêm chào khi đi qua phiến đá cẩm thạch đó.”
Nữ Bá tước lắng nghe mà không chú ý nhiều. Rõ ràng câu chuyện này với ả chẳng quan trọng gì hết. Ả đợi chờ cho đến khi bản thân mình trở thành đề tài thảo luận.
Paul nói tiếp: “Bà được thừa kế từ cha mình hai thứ tình cảm chiếm ưu thế trong toàn bộ sự tồn tại của mình. Một là tình yêu thái quá đối với triều đại Hohenzollern, triều đại có vẻ như được kết nối với cha bà bằng trò chơi súc sắc của những thằng điên hống hách hoặc đúng hơn là lũ điên của hoàng gia. Hai là mối căm thù mãnh liệt và tàn ác đối với nước Pháp, nơi mà ông ta hối tiếc rằng không bị tổn thương thật nặng nề như ông ta muốn. Ngay sau khi trưởng thành, bà dành cho người đàn ông đại diện cho vương triều kia thứ tình yêu bằng cả trái tim, nồng nàn đến nỗi sau khi ấp ủ thứ hy vọng hão huyền bước lên ngai vàng, bà đã tha thứ cho ông ta mọi thứ, thậm chí cả cuộc hôn nhân của ông ta, cả thái độ vô ơn của ông ta, để dâng hiến hết cho ông ta cả thể xác lẫn tâm hồn. Bà đồng ý để ông ta gả bà trước tiên là cho một hoàng tử người Áo, kẻ đã chết một cách bí ẩn, tiếp theo là gả cho một hoàng tử người Nga, cũng chết một cái chết lắm dấu hỏi tương tự, bà chỉ biết tận tâm cống hiến vì sự vĩ đại của thần tượng của mình. Vào thời điểm chiến tranh giữa nước Anh với Transvaal nổ ra, bà đang ở tại Transvaal. Vào thời điểm nổ ra chiến tranh Nga - Nhật, bà đang ở Nhật. Bà ở khắp mọi nơi: Tại Vienne, khi Thái tử Rodolphe bị ám sát; tại Belgrade khi Vua Alexandre và Hoàng hậu Draga bị ám sát. Nhưng tôi sẽ không bám mãi vào cái vai trò của bà trong các sự kiện ngoại giao. Giờ là lúc tôi nói tới công việc ưa thích của bà, công việc mà suốt hai mươi năm ròng rã bà bắt tay triển khai để chống lại nước Pháp.”
Một biểu hiện quỷ quyệt và gần như hạnh phúc làm méo mó những nét mặt của nữ Bá tước Hermine. Phải, đó thực sự là công việc ưa thích của ả. Ả đã cống hiến cho nó toàn bộ sức lực và toàn bộ trí thông minh ương ngạnh của mình.
“Ngay cả như thế...” Paul nói thêm. “... Tôi cũng sẽ không quanh quẩn mãi bên cái công trình chuẩn bị và do thám vĩ đại mà bà đạo diễn. Tôi đã tìm ra một trong những kẻ đồng lõa của bà, được trang bị một con dao găm có khắc những chữ cái đầu tên bà, trong một ngôi làng ở phía bắc, trên tháp chuông nhà thờ. Tất cả mọi chuyện xảy ra đều do đích thân bà suy tính, tổ chức và triển khai. Những bằng chứng tôi đã thu thập được, những lá thư được gửi cho bà và những lá thư do chính bà viết, đều thuộc về triều đình. Nhưng thứ mà tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh đó là vai trò mà công việc của bà đảm nhận liên quan tới lâu đài Ornequin. Sẽ không lâu đâu, vài thông tin, có liên kết với nhau bằng những vụ giết người, thế là đủ.”
Lại thêm một khoảng lặng. Nữ Bá tước chuẩn bị lắng nghe với thái độ tò mò lo âu. Paul nói tiếp: “Vào năm 1894, bà đã nhỏ to với Hoàng đế ý đồ xuyên thủng một đường hầm từ Ebrecourt tới Corvigny. Sau khi vấn đề này được các kỹ sư nghiên cứu, họ đã thấy rằng công trình này, cái công trình “khổng lồ” này không thể nào, không tài nào thực thi nổi trừ phi phải chiếm bằng được lâu đài Ornequin. Vừa hay chủ nhân khối tài sản này lại đang trong tình trạng sức khỏe rất tệ. Nên họ đã quyết định chờ. Thế nhưng vì ông ta mãi chưa chịu chết, nên bà đã phải tới Corvigny. Một tuần sau ông ta chết. Vụ án mạng thứ nhất.”
“Dối trá! Dối trá!” Nữ Bá tước kêu lên. “Ngươi không có bằng chứng. Ta thách người đưa ra được bằng chứng đấy.”
Paul nói tiếp mà không thèm đáp: “Tòa lâu đài được rao bán, và thật lạ lùng làm sao, có thể nói là, chẳng hề có lấy một dòng quảng cáo nào dù là nhỏ nhất, rất bí mật. Giờ chuyện đã xảy ra đó là tay nhân viên kinh doanh mà bà đã hướng dẫn lại xử lý vấn đề tệ hại đến nỗi tòa lâu đài được bán cho ngài d’Andeville, người dọn đến dinh thự này ở một năm sau đó, cùng một vợ và hai đứa con. Tuy nhiên, việc này làm dấy lên cơn giận dữ, sự bối rối và cuối cùng là một quyết tâm bắt tay vào việc, bắt đầu bằng việc khoan thủng phần hông một căn nhà thờ nhỏ, mà vào thời điểm ấy nó nằm bên ngoài các bức tường của công viên. Hoàng đế thường xuyên đến vùng Ebrecourt. Một hôm, khi rời khỏi nhà thờ nhỏ, ông ta bị cha tôi và chính tôi bắt gặp. Hai phút sau, bà đến bắt chuyện với cha tôi. Ông ấy bị đâm và bị giết. Còn bản thân tôi thì bị thương. Án mạng thứ hai. Một tháng sau, nữ Bá tước d’Andeville mắc phải một căn bệnh bí ẩn, khi đi xuống miền Nam thì chết.”
“Dối trá!” Nữ Bá tước một lần nữa lại kêu lên. “Tất cả đều là dối trá! Không hề có một bằng chứng nào hết!...”
“Một tháng sau...” Paul nói tiếp, vẫn rất bình tĩnh. “... Ngài d’Andeville, người bị mất vợ, trở nên căm ghét Ornequin nhiều đến nỗi ông ta quyết định bỏ đi không bao giờ quay về nữa. Kế hoạch của bà được triển khai ngay lập tức. Giờ thì tòa lâu đài bị bỏ hoang, bà nhất thiết phải đặt chân vào đó. Nhưng làm thế nào? Bằng cách mua chuộc lão quản gia, Jérôme cùng vợ lão ta. Cặp vợ chồng xấu xa đó chắc chắn đã viện cớ rằng chúng không phải là những người sinh ra và lớn lên tại Alsace, như chúng thường giả vờ, mà thực ra chúng sinh trưởng tại Luxembourg, nên đã nhận tiền đấm mõm. Từ lúc đó, bà vào được trong nhà, tự do đến Ornequin vào bất kỳ lúc nào mình muốn. Theo mệnh lệnh của bà, Jérôme thậm chí còn đi xa đến nỗi giữ kín cái chết của nữ Bá tước Hermine, nữ Bá tước Hermine thật sự. Và vì bà cũng đồng thời là nữ Bá tước Hermine mà không ai biết gì về phu nhân d’Andeville, người đã sống một cuộc đời ẩn dật, nên mọi thứ diễn ra xuôi chèo mát mái. Hơn nữa, bà đã tiếp tục tăng cường các biện pháp đề phòng. Mà một trong số đó đã gây khó khăn cho tôi. Bức chân dung nữ Bá tước d’Andeville treo trong phòng khuê bà ấy từng ở. Bà cho vẽ một bức chân dung của chính mình, với cùng kích cỡ, để có thể lồng vừa vào cái khung có khắc họ tên của nữ Bá tước; trong bức tranh ấy bà cũng mang vẻ ngoài tương tự, mặc trang phục và trang sức giống nhau. Nói tóm lại, bà đã mang đúng cái vẻ ngoài mà mình nỗ lực để có được ngay từ đầu và thực sự là suốt cuộc đời của phu nhân d’Andeville, bà thậm chí còn bắt đầu sao chép cách ăn mặc của bà ấy: Bà đã trở thành nữ Bá tước Hermine d’Andeville, ít nhất là trong những lần bà đến thăm Ornequin. Chỉ có một mối nguy duy nhất, đó là khả năng ngài d’Andeville trở về bất ngờ. Nhằm loại bỏ chắc chắn nguy cơ này, chỉ còn một cách duy nhất, đó là giết người. Thế nên bà đã tìm cách làm quen với ngài d’Andeville, từ đó bà có cơ hội theo dõi nhất cử nhất động và trao đổi thư từ với ông ta. Thế nhưng lại xảy ra một chuyện nằm ngoài dự tính của bà. Ý tôi là một cảm xúc thực sự đáng ngạc nhiên ở một ả đàn bà như bà, khi dần dần bà lại đem lòng yêu người đàn ông mình đã lựa chọn làm nạn nhân. Tôi đã bỏ vào giữa đống tang vật một bức ảnh của chính bà gửi cho ngài d’Andeville từ Berlin. Vào lúc ấy, bà còn đang nuôi hy vọng sẽ quyến rũ được ông ta cưới mình, tuy nhiên ông ta đã nhìn thấu tất cả những mưu đồ của bà, nên ông ta đã rút lui và cắt đứt mối quan hệ.”
Nữ Bá tước nhíu mày. Đôi môi ả méo mó. Những ai đứng xem hiểu rõ nỗi nhục nhã ả đã từng trải qua và tất cả những cay đắng ả chịu đựng sau đó. Cùng lúc đó, ả chẳng cảm thấy nhục nhã chút nào, mà chỉ mỗi lúc một kinh ngạc khi nhìn thấy cuộc đời mình được tiết lộ đến từng chi tiết nhỏ, khi thấy quá khứ sát nhân của mình được bóc trần bất chấp ả vẫn đinh ninh rằng chúng đã bị chôn vùi.
“Khi chiến tranh nổ ra...” Paul nói tiếp. “... Công trình của bà đã chín muồi. Náu mình trong tòa biệt thự tại Ebrecourt, ngay lối vào đường hầm, bà đã sẵn sàng. Cuộc hôn nhân của tôi với Elisabeth d’Andeville, sự xuất hiện bất ngờ của tôi tại lâu đài, sự kinh ngạc của tôi khi nhìn thấy bức chân dung của ả đàn bà đã giết chết cha mình: Tất cả mọi chi tiết này đều được Jérôme nói cho bà biết khiến bà ngạc nhiên đôi chút. Bà nhanh chóng dựng lên một cái bẫy, theo đó đến lượt mình tôi cũng suýt bị ám sát. Nhưng lệnh tổng động viên đã giúp bà tránh được tôi. Bà có thể dễ bề hành động. Ba tuần sau, Corvigny bị pháo kích, Ornequin bị chiếm đóng, Elisabeth trở thành tù nhân của Hoàng tử Conrad... Đối với bà, đó đúng là một giai đoạn tuyệt vời không kể xiết. Mang ý nghĩa báo thù; ngoài ra nhờ bà, nó còn mang nghĩa chiến thắng to lớn, đạt thành một giấc mơ vĩ đại, hoặc gần như thế, sự tôn sùng gia tộc Hohenzollern! Thêm hai ngày nữa và Paris sẽ bị chiếm, thêm hai tháng nữa và cả châu Âu sẽ bị chinh phục. Thật say sưa làm sao! Tôi biết những từ ngữ bà đã thốt ra vào thời điểm đó, tôi đã đọc những dòng chữ do bà viết ra làm chứng cho cơn điên loạn tuyệt đối này: chứng cuồng ngạo mạn, chứng cuồng quyền lực đến khôn cùng, chứng cuồng sự tàn bạo; cơn điên rồ hung bạo, cơn điên rồ không tưởng, không còn là người nữa... Nhưng rồi, sự thức tỉnh tàn bạo, trận chiến tại Marne! À, tôi đã xem cả những lá thư của bà về chủ đề này nữa! Và tôi không còn biết tới đòn trả thù nào đẹp hơn thế. Một ả đàn bà thông minh như bà chắc phải nhìn ra từ đầu, như bà đã nhìn ra, rằng điều này có nghĩa là mọi hy vọng và niềm tin chắc chắn sẽ sụp đổ. Bà đã viết như thế gửi Hoàng đế, đúng, chính bà đã viết! Tôi còn giữ một bản sao lá thư của bà... Trong khi đó, phòng thủ là điều cần thiết. Quân Pháp đang tiến đến gần. Thông qua em vợ tôi, Bernard, bà biết rằng tôi đã ở Corvigny. Phải chăng Elisabeth sẽ được giải cứu, Elisabeth đã biết tất cả mọi bí mật của bà? Không, cô ấy phải chết. Bà đã ra lệnh phải hành hình cô ấy. Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng. Và cho dù cô ấy đã được cứu, nhờ Hoàng tử Conrad, trong trường hợp cô ấy không chết, bà vẫn phải tự bằng lòng với màn hành hình giả nhằm cắt đứt những cuộc điều tra của tôi, ít nhất là mang cô ấy theo như một nô lệ. Bà tìm kiếm sự an ủi ở hai nạn nhân khác trong tay mình: Jérôme và Rosalie. Những kẻ đồng lõa của bà, bị tác động sâu sắc bởi những đòn tra tấn mà Elisabeth phải gánh chịu, họ đã cố gắng bỏ trốn cùng cô ấy. Khiếp sợ vì bằng chứng của họ chống lại mình, bà đã bắn chết họ. Những vụ án mạng thứ ba và thứ tư. Rồi ngày hôm sau thêm hai vụ giết người nữa, hai người lính mà bà đã giết, vì tưởng làm họ chính là Bernard và tôi. Những vụ án mạng thứ năm và thứ sáu.”
Và thế là toàn bộ vở kịch được tường thuật lại với những đoạn bi thảm, căn cứ theo trật tự các sự kiện và các vụ án mạng. Thật khủng khiếp làm sao khi ngắm nhìn ả đàn bà này, tội lỗi với quá nhiều tội ác, bị cầm tù bởi số phận, mắc kẹt trong nhà tù này, mặt đối mặt với những kẻ thù đáng nguyền rủa của ả. Thế nhưng làm sao mà ả chẳng tỏ vẻ gì là đã mất hết hy vọng nhỉ? Chuyện này khá quan trọng và Bernard đã nhận ra.
“Nhìn ả đi.” Cậu ta nói, bước đến chỗ Paul. “ Ả đã xem đồng hồ hai lần. Bất kỳ ai cũng nghĩ rằng ả đang đợi chờ một điều kỳ diệu hoặc một thứ gì khác nữa, một chỉ thị, một sự hỗ trợ không thể tránh khỏi sẽ đến vào một giờ nhất định. Xem đi, đôi mắt ả đang liếc nhìn xung quanh... Ả đang lắng nghe cái gì đó...”
“Ra lệnh toàn bộ quân lính dưới chân cầu thang vào đây.” Paul trả lời. “Chẳng có lý do gì họ lại không nên nghe những gì anh vẫn phải nói.”
Và quay về phía nữ Bá tước, anh nói bằng giọng dần dần có cảm xúc hơn: “Chúng ta đang tới màn cuối. Toàn bộ phần giao tranh này bà thực hiện dưới lốt Thiếu tá Hermann, khiến bà dễ đảm nhận vai trò trưởng nhóm gián điệp và dễ lần theo dấu những kẻ thù. Hermann, Hermine... Thiếu tá Hermann là kẻ mà khi cần thiết bà có thể cho biến mất vì anh trai bà là chính bà, nữ Bá tước Hermine. Và cũng chính bà là người có cuộc đối thoại với tên Laschen giả mạo, hay đúng hơn là tên gián điệp Karl, mà tôi đã nghe lỏm được giữa đống đổ nát của ngọn hải đăng trên bờ sông Yser. Và cũng chính bà là người đã bị tôi bắt giữ và trói nghiến trên tầng áp mái ngôi nhà của người lái phà. À mà hôm ấy cơ hội đẹp thế mà bà lại bỏ lỡ! Ba kẻ địch của bà đang bị thương nằm đó, ngay trong tầm tay của bà, thế nhưng bà lại bỏ chạy cái một, không thèm kết liễu chúng luôn! Và bà chẳng biết thêm gì nữa về chúng tôi, nhưng chúng tôi lại biết hết các kế hoạch của bà. Một cuộc hẹn vào ngày mùng Mười tháng Một tại Ebrecourt, cái cuộc hẹn báo điềm gở bà lập với Karl trong khi nói cho gã biết quyết tâm không lay chuyển của bà là loại bỏ Elisabeth ấy. Tôi đã có mặt ở đó, rất đúng giờ, vào ngày mùng Mười tháng Một! Tôi đã chứng kiến bữa tiệc tối của Hoàng tử Conrad! Và tôi đã ở đó, sau khi bữa tiệc tối kết thúc, khi bà trao cho Karl lọ thuốc độc. Tôi đã ở đó, trên ghế tài xế trong xe, khi bà trao cho Karl những hướng dẫn cuối cùng. Tôi ở khắp nơi! Và cũng đúng tối hôm đó, Karl chết. Tối hôm sau, tôi đã bắt cóc Hoàng tử Conrad. Và ngày hôm sau nữa, tức là hai ngày trước, nắm trong tay một con tin tối quan trọng nên tôi đã gây sức ép bắt tên Hoàng đế phải đối đãi tôi thật thịnh soạn, tôi đã áp đặt những điều kiện mà một trong số đó là thả tự do cho Elisabeth ngay lập tức. Hoàng đế đã nhượng bộ. Và bà đã gặp gỡ chúng tôi ở đây!”
Trong cả bài diễn văn này, bài diễn văn cho thấy nữ Bá tước Hermine đã bị săn lùng với nguồn năng lượng mạnh mẽ đến thế nào, chỉ có một từ ngữ đủ sức chế ngự ả như thể nó liên quan đến những tai ương khủng khiếp nhất. Ả lắp bắp: “Chết? Ngươi nói rằng Karl chết rồi sao?”
“Bị ả nhân tình của gã bắn hạ vào lúc gã đang cố giết chết tôi.” Paul kêu lên, một lần nữa bị nỗi căm thù khống chế. “Bị bắn hạ như một con chó điên! Phải, tên gián điệp Karl chết rồi; thậm chí ngay sau khi chết, gã vẫn là một tên phản bội, như suốt cả cuộc đời gã phải mang cái vết nhơ ấy. Bà đang đề nghị tôi trưng bằng chứng ra chứ gì: Tôi đã phát hiện ra chúng trên người của Karl đấy! Chính trong cuốn sổ tay bỏ túi của gã mà tôi đọc được câu chuyện về những tội ác của bà và tìm ra những bản sao các lá thư của bà, cộng thêm vài bản gốc nữa. Gã đã đoán trước rằng không sớm thì muộn, khi công trình của bà hoàn tất, bà sẽ hy sinh gã nhằm bảo đảm sự an toàn cho chính mình; nên gã tự ra tay trả thù trước. Gã tự trả thù giống hệt như lão quản gia Jérôme cùng vợ lão - Rosalie đã trả thù, khi họ sắp bị bắn chết theo lệnh của bà, lão đã tiết lộ cho Elisabeth biết vai trò bí ẩn của bà trong lâu đài Ornequin. Quá đủ với những kẻ đồng lõa của bà! Bà giết chết họ, nhưng họ cũng hủy diệt bà. Không phải tôi đang buộc tội bà, mà chính là họ. Những lá thư của bà và bằng chứng của họ đang nằm trong tay những thẩm phán của bà. Bà có thể đưa ra những câu trả lời nào chứ?”
Paul gần như đang đứng đối đầu với ả. Ngăn cách hai người cùng lắm chỉ là một góc bàn, và anh đang đe dọa a bằng tất cả sự phẫn nộ và sự ghê tởm của mình. Ả lùi lại về phía bức tường, dưới một dãy mắc áo đang treo những cái và áo khoác, nguyên một tủ áo đầy đồ hóa trang. Cho dù bị bao vây, bị mắc bẫy, bị lúng túng trước một tập hợp các bằng chứng, bị lột mặt nạ và bất lực, nhưng ả vẫn giữ thái độ thách thức và khiêu chiến. Trò chơi dường như vẫn chưa kết thúc. Ả vẫn còn đang nắm trong tay vài quân bài tẩy, ả lên tiếng: “Ta không có câu trả lời nào hết. Ngươi nói về một ả đàn bà phạm tội sát nhân, nhưng ta không phải ả đàn bà đó. Vấn đề không phải là chứng minh rằng nữ Bá tước Hermine là gián điệp và là kẻ giết người; mà vấn đề là chứng minh rằng ta chính là nữ Bá tước Hermine. Ai có thể chứng minh được điều đó?”
“Tôi có thể!”
Ngồi cách xa ba viên sĩ quan mà Paul đã nói là đủ hợp thành một phiên tòa là viên sĩ quan thứ tư, người lắng nghe trong im lặng và thụ động giống như họ. Ông ta bước về phía trước. Ánh đèn chiếu sáng gương mặt ông ta. Nữ Bá tước lắp bắp: “Stéphane d’Andeville... Stéphane...”
Đó chính là cha của Elisabeth và Bernard. Sắc mặt ông ta rất nhợt nhạt, bị suy yếu do những vết thương ông ta phải chịu và ông ta chỉ mới đang bắt đầu bình phục.
Ông ta ôm chầm lấy những đứa con của mình. Bernard bày tỏ sự ngạc nhiên và vui sướng khi thấy ông ta ở đó.
“Phải.” Ông ta nói. “Tôi nhận được tin nhắn của ngài Tổng Tư lệnh nên đã đến đúng lúc Paul cho người tìm tôi. Chồng con là một người tốt đấy, Elisabeth. Cậu ấy đã kể cho cha nghe mọi chuyện rồi khi cha và cậu ấy gặp nhau không lâu trước đây. Và giờ cha đã thấy tất cả những gì cậu ấy đã làm... để nghiền nát con rắn độc đó!”
Ông ta tiến đến đứng trước mặt nữ Bá tước, những người lắng nghe ông ta đều cảm nhận được đầy đủ tầm quan trọng của những từ ngữ ông ta sắp nói. Trong một lúc, ả cúi đầu xuống trước ông ta. Nhưng ngay sau đó, đôi mắt ả lại sáng lên tia thách thức và nói: “Cả ông nữa cũng đến buộc tội ta à? Ông có gì để nói chống lại ta? Ta chắc là những lời dối trá đúng không? Những điều bỉ ổi?...”
Sau những lời này là một khoảng lặng dài. Thế rồi, rất chậm rãi, ông ta lên tiếng: “Trước hết, tôi đến đây như một nhân chứng để đưa ra bằng chứng liên quan tới thân phận của bà mà vừa nãy bà đòi hỏi. Bã đã tự giới thiệu mình với tôi từ lâu rồi bằng một cái tên không phải là của bà, một cái tên mà nhờ nó bà đã thành công khi chiếm được lòng tin của tôi. Sau này, khi bà cố gắng tạo dựng mối quan hệ sâu sắc hơn giữa chúng ta, bà đã hé lộ cho tôi biết mình thực sự là ai, hy vọng bằng cách này sẽ khiến tôi choáng váng vì những danh xung và những mối liên hệ của bà. Thế nên tôi có quyền cũng như có bổn phận phải tuyên bố trước Chúa lẫn con người rằng bà đúng là nữ Bá tước Hermine von Hohenzollern đích thực. Những tài liệu bà đã cho tôi xem đều là thật. Và cũng chỉ vì bà là nữ Bá tước von Hohenzollern đích thực nên tôi mới buộc phải phá vỡ những quan hệ mà trong bất cứ trường hợp nào cũng rất đau đớn và khó chịu đối với tôi, vì những lý do mà tôi thấy rất khó nói cho rõ ràng. Đó là bằng chứng của tôi.”
“Đó là thứ bằng chứng đáng xấu hổ!” Ả kêu lên trong cơn giận dữ. “Bằng chứng dối trá, như ta đã nói chúng sẽ là như thế! Không phải là bằng chứng!”
“Không phải là bằng chứng ư?” Ngài d’Andeville vặc lại, tiến gần hơn về phía ả, người run lên vì phẫn nộ. “Thế còn tấm ảnh này, do chính tay bà ký, mà bà đã gửi cho tôi từ Berlin thì sao? Tấm ảnh mà bà đã trơ trẽn mặt dày ăn vận giống hệt như vợ của tôi? Phải, bà, chính là bà đấy! Bà đã làm việc này! Bà đã nghĩ đến điều đó, bằng cách cố gắng khiến bức hình của bà trông giống hệt bức hình của người tình đáng yêu tội nghiệp của tôi, bà khơi dậy trong trái tim tôi những cảm xúc có lợi cho chính bà! Và bà không hề cảm thấy rằng việc mình đang làm chính là nỗi sỉ nhục tồi tệ nhất, sự xúc phạm tồi tệ nhất mình có thể gây ra cho người đã khuất! Và bà dám, bà, bà, sau khi chuyện đã xảy ra...”
Giống như Paul Delroze vài phút trước, ngài Bá tước đang đứng rất gần ả, đang đe dọa ả bằng nỗi căm hận của mình. Ả lắp bắp, giống như đang xấu hổ: “Tại sao không chứ?”
Ông ta siết chặt hai tay thành nắm đấm và nói: “Như bà nói, tại sao không? Vào lúc đó, tôi không biết bà là ai... và tôi chẳng biết gì về tấn bi kịch... tấn bi kịch của quá khứ... Chỉ đến ngày hôm nay, tôi mới có thể so sánh các thông tin. Và trong khi hồi ấy tôi đã ghê tởm bà bằng sự ghê tởm theo bản năng thuần túy, thì giờ tôi buộc tội bà bằng sự ghét cay ghét đắng không thể so sánh được... giờ khi tôi đã biết, phải, đã biết chắc chắn một trăm phần trăm. Rất lâu trước đây, khi người vợ tội nghiệp của tôi đang hấp hối, hết lần này đến lần khác bác sĩ đều nói với tôi: “Đúng là một căn bệnh lạ. Bà ấy bị viêm phế quản và viêm phổi, tôi biết; thế nhưng lại có những chuyện mà tôi không hiểu nổi, những triệu chứng - tại sao lại che giấu nó? - những triệu chứng của chất độc.” Tôi đã từng phản đối. Cái lý thuyết dường như không tưởng ấy! Vợ tôi bị đầu độc ư? Ai đã ra tay? Chính là bà, nữ Bá tước Hermine, chính là bà! Hôm nay tôi tuyên bố điều đó. Chính là bà! Tôi xin thề, và tôi hy vọng mình sẽ được cứu rỗi. Những bằng chứng ư? Trời ạ, cả cuộc đời bà chính là chứng nhân chống lại bà. Nghe đây, có một vấn đề mà Paul Delroze không thể rọi ánh sáng vào được. Cậu ấy không hiểu nổi tại sao, khi bà giết chết cha cậu ấy, bà lại phải mặc quần áo giống như quần áo của vợ tôi. Tại sao bà làm thế? Vì cái lý do đáng ghét rằng, ngay cả vào thời điểm đó, cái chết của vợ tôi đã được quyết định, và rằng bà đã mong muốn ghim vào tâm trí những ai có thể trông thấy bà sự nhầm lẫn giữa nữ Bá tước d’Andeville với chính bà. Bằng chứng không thể chối cãi. Vợ tôi trở thành hòn đá ngáng đường bà nên bà giết chết bà ấy. Bà đã đoán được rằng một khi vợ tôi chết đi, tôi sẽ không bao giờ quay về Ornequin nữa, nên bà đã giết chết vợ tôi. Paul Delroze, cậu đã nói đến sáu vụ án mạng. Đây là vụ thứ bảy: Vụ giết nữ Bá tước d’Andeville.”
Ngài Bá tước giơ cao hai nắm tay siết chặt và run run lên trước mặt nữ Bá tước Hermine. Người ông ta đang run lên vì phẫn nộ và dường như sắp ra tay đánh ả. Tuy nhiên, ả vẫn đứng bất động. Ả không hề cố gắng phủ nhận lời buộc tội mới nhất. Như thể mọi thứ đã trở nên xa lạ với ả, lời buộc tội bất ngờ này cũng như tất cả những lời buộc tội kia đều nhắm vào ả. Có vẻ như ả không còn nghĩ đến mối nguy hiểm đang treo lơ lửng hay sự cần thiết phải trả lời. Tâm trí ả đang phiêu diêu ở nơi khác. Ả đang lắng nghe cái gì đó ngoài những lời nói kia, đang nhìn thấy cái gì đó ngoài những gì diễn ra trước mắt; và như Bernard đã nhận xét, như thể ả đang bận rộn lo lắng những chuyện diễn ra bên ngoài hơn là tình thế khủng khiếp ả đang thấy mình lâm vào.
Nhưng tại sao? Ả còn hy vọng vào cái gì nữa?
Một phút trôi qua, rồi một phút nữa.
Thế rồi đâu đó trong hầm ngầm, phía trên cùng, phát ra âm thanh như một tiếng cạch.
Nữ Bá tước ngẩng đầu lên. Và ả lắng nghe bằng tất cả sự tập trung và nét mặt háo hức đến nỗi không ai dám quấy rầy sự im lặng dữ dội ấy. Paul Delroze và ngài d’Andeville theo bản năng bước lùi lại chỗ cái bàn. Nữ Bá tước Hermine vẫn tiếp tục lắng nghe...
Bỗng, trên đầu ả, ngay trong chính cái khối đen đặc của trần nhà uốn hình vòm, một tiếng chuông điện vang lên... chỉ vài giây thôi... Bốn tiếng chuông dài bằng nhau... Và chỉ có thể.