Người Thầy

Lượt đọc: 818 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

Mười năm làm nhà giáo, ba mươi tám tuổi, nếu phải đánh giá về mình thì tôi sẽ bảo, Anh thế là khá đấy. Có nhiều ông thầy dạy học mà chẳng thèm biết học trò nghĩ gì về họ cơ. Giáo án là chúa nhất. Những ông thầy này oai lắm. Họ chế ngự lớp học bằng chính tính cách họ kèm sự đe dọa: cây bút đỏ sẽ ghi vào phiếu điểm cái chữ F [104] đáng sợ. Thông điệp của họ gửi học trò là: Tôi là thầy giáo chứ không phải cố vấn của các em, không phải người để các em thổ lộ tâm tình, không phải bố mẹ các em. Tôi dạy một bộ môn: học hoặc không học, có thế thôi.

Tôi thường nghĩ mình nên là một ông thầy nghiêm khắc, trọng kỷ luật, có đầu óc tổ chức và biết tập trung vào những chuyện cần thiết, là một thứ John Wayne [105] của ngành sư phạm, một nhà giáo Ireland cầm que chỉ hướng, đai da và cây gậy. Các thầy giáo nghiêm khắc giao hàng của mình trong bốn mươi phút. Hãy tiêu hóa bài học này và chuẩn bị nhả ra vào ngày thi.

Đôi khi tôi đùa, Nhóc, ngồi vào ghế và im lặng, kẻo tôi vặn cổ. Chúng cười ồ vì biết tôi chỉ đùa thôi. Thầy dễ thương chứ nhỉ? Khi tôi đóng vai nghiêm khắc chúng lễ phép nghe cho đến khi cơn thịnh nộ của tôi qua đi. Chúng hiểu tôi mà.

Tôi không xem lớp học là một tập thể chỉ biết ngồi nghe. Những khuôn mặt học trò cho thấy chúng thích hay thờ ơ với nhiều mức độ khác nhau. Chính sự thờ ơ này đã thách thức tôi. Sao thằng tiểu quỷ kia lại trò chuyện với cô bé bên cạnh mà không nghe tôi giảng? Thầy xin lỗi, nhưng mà James này, thầy đang giảng bài mà.

Ồ, dạ dạ.

Có những khoảnh khắc và những cái nhìn. Có thể chúng quá nhút nhát không dám nói với anh bài giảng thật hay, nhưng qua cách chúng rời phòng học hay cách chúng nhìn anh là anh biết được tiết học vừa rồi thành công hay đáng bỏ đi. Những ánh mắt tán thưởng làm ấm lòng anh trên xe điện về nhà.

Trong lớp làm gì thì làm, nhưng vẫn còn có những quy định của các vị quan chức chủ quản mọi trường trung học ở New York:

Học trò không được ồn ào, không được đi lại trong phòng học hay ngoài hành lang. Ồn ào thì học với hành gì được.

Lớp học không phải sân chơi. Không được ném lung tung. Khi muốn hỏi hay trả lời, học trò phải giơ tay xin phép. Không được tự tiện nói to. Tự tiện nói to có thể gây ra hỗn loạn, khiến các quan chức Sở Giáo dục Brooklyn hay những thầy cô từ nơi khác đến tham quan trường có ấn tượng xấu.

Giới hạn việc cho phép ra nhà vệ sinh ở mức tối thiểu. Học trò nào cũng biết đủ thứ mánh khóe để xin ra ngoài. Một trò ở tầng một được phép đi vệ sinh thỉnh thoảng còn bị bắt quả tang đang nhòm vào một lớp khác có cô bé mà trò này thầm yêu đang ngồi học và cô bé này thì tha thiết nhìn lại. Không thể khoan thứ những chuyện như thế được. Có một số nam nữ sinh đã xin ra ngoài để gặp nhau ở tầng hầm hay khoang cầu thang làm những chuyện không nên, bị các thầy hiệu phó cảnh giác bắt gặp báo cáo lên ban giám hiệu và mời cha mẹ đến. Có những em khác xin ra ngoài để lén hút thuốc ở những chỗ khuất nẻo. Cho phép đi vệ sinh là chỉ để đi vệ sinh, không được lạm dụng cho chuyện khác. Không được đi lâu quá năm phút. Nếu vi phạm, giáo viên phải báo lên văn phòng hiệu trưởng, văn phòng sẽ cử người kiểm tra các nhà vệ sinh cùng các địa điểm khác để đảm bảo không xảy ra những chuyện không hay.

Hiệu trưởng nào cũng muốn trường mình được trật tự, kỷ luật, mọi chuyện trôi chảy. Họ đi kiểm tra trên các hành lang. Họ ngó vào qua cửa lớp. Họ muốn thấy các nam nữ sinh cúi đầu trên sách vở, nam nữ sinh chăm chỉ ghi chép, nam nữ sinh giơ tay, hăm hở trả lời những câu hỏi của giáo viên.

Các giáo viên giỏi luôn cứng tay. Họ phải giữ vững kỷ cương trong lớp học, điều sinh tử ở một trường trung học hướng nghiệp ở New York, nơi mà đôi khi băng đảng ảnh hưởng tới tận trường. Anh phải để mắt tới những băng đảng này. Chúng có thể thao túng cả một trường, mà như thế là hỏng hết.

Cả giáo viên cũng để tai nghe. Sau nhiều năm trong phòng học, đối diện cả nghìn khuôn mặt thiếu niên, họ có giác quan thứ sáu về bất cứ ai bước vào phòng. Họ thấy những cái liếc xéo. Ngửi bầu không khí một lớp mới họ biết ngay đây toàn ngữ “rận trong quần” hay có thể cùng làm việc. Họ thấy những đứa kín đáo cần phải gợi cho nói và những đứa lớn miệng cần làm cho im bớt. Qua cách ngồi của một nam sinh họ biết nó chịu hợp tác hay là phường phá bĩnh. Là một dấu hiệu tốt khi học trò ngồi ngay ngắn, đặt tay lên bàn, mỉm cười nhìn thầy giáo. Là một dấu hiệu xấu khi học trò ngồi ngả ra sau, thò chân trên lối đi, nhìn ra cửa sổ, nhìn lên trần nhà hay nhìn phía trên đầu thầy cô. Hãy coi chừng, có vấn đề đấy.

Trong lớp nào cũng có một gã ôn dịch để thử thách anh. Nó thường ngồi hàng cuối, nơi nó có thể nghiêng ghế sát tường. Anh đã nhắc nhở cả lớp về chuyện ngồi nghiêng ghế thé này: Các em ạ, ghế có thể bị trượt và các em có thể bị thương. Rồi thầy cô sẽ phải viết báo cáo trong trường hợp phụ huynh khiếu nại hoặc dọa thưa kiện nhà trường.

Andrew biết ngồi nghiêng ghế sẽ làm anh bực mình hay ít ra cũng khiến anh phải chú ý. Khi ấy nó có thể chơi trò vặt khiến đám con gái để mắt tới. Anh bảo: Này, Andrew.

Nó rề rà câu giờ. Thử thách đấy, anh giáo ạ, đám con gái đang nhìn nó kìa.

Hở?

Đó là thứ âm thanh của đám thiếu niên mà anh không tìm thấy trong từ điển. Hở? Các bậc cha mẹ nghe thường xuyên. Nó có nghĩa: Bố, mẹ hay thầy muốn gì nào? Sao làm phiền tôi thế?

Cái ghế, Andrew. Em vui lòng ngồi ngay ngắn, được không?

Em chỉ ngồi có làm gì đâu nào.

Andrew, cái ghế có bốn chân. Ngồi nghiêng trên hai chân có thể bị trượt ngã.

Cả lớp im phăng phắc. Tới giờ “đọ súng” rồi. Lần này anh biết mình ở vị thế an toàn rõ rệt. Anh cảm nhận được cả lớp không mấy ưa Andrew, còn nó biết sẽ không được hậu thuẫn. Nó là một đứa gầy gò ốm yếu, kẻ thui thủi một mình. Tuy vậy, cả lớp vẫn căng thẳng nhìn. Chúng có thể không ưa nó, nhưng nếu anh bẻ họe nó quá thì chúng sẽ chống lại anh. Nếu có chuyện học trò đối chọi giáo viên thì chúng sẽ đứng về phía học trò. Mà chỉ vì chuyện ngồi nghiêng ghế.

Lẽ ra anh có thể lờ đi. Sẽ chẳng ai nhận thấy gì hết. Thế thì, anh giáo, vấn đề gì đây? Đơn giản thôi: ngay từ ngày đầu Andrew đã tỏ ra không ưa anh, và anh không chịu nổi bị không ưa, nhất là khi kẻ đó là một thằng nhóc chết tiệt cả lớp không ưa. Andrew biết anh ưa nữ sinh hơn. Dĩ nhiên tôi ưa nữ sinh hơn. Cho tôi dạy năm lớp đa số là gái thì tôi sướng như trên thiên đường. Muôn hình muôn vẻ. Nhiều màu sắc. Nhiều trò chơi. Nhiều kịch tính.

Andrew chờ đợi. Cả lớp chờ đợi. Chiếc ghế vẫn nghiêng một cách thách thức. Chao, giá mình nắm chân ghế rồi giật mạnh một cái nhỉ! Đầu nó sẽ từ trên giường tuột xuống và cả lớp sẽ cười ồ cho mà xem.

Tôi quay đi. Tôi không biết tại sao đã quay đi, tới đầu lớp; khi về tới chiếc bàn của mình tôi chắc chắn vẫn chưa biết nên làm gì hay nói gì. Tôi không muốn chúng nghĩ rằng tôi rút lui, tôi biết tôi phải làm gì đấy. Đầu Andrew vẫn ngả vào tường, và nó tặng tôi cái nụ cười khinh thị ấy.

Tôi không ưa mái tóc hung bù rối lẫn nét mặt đẹp của nó. Tôi không ưa vẻ kênh kiệu thanh tú của nó. Thỉnh thoảng khi tôi sôi nổi về một đề tài và cả lớp lắng nghe, tôi thao thao bất tuyệt, tự hào về bản thân mình, tôi ngoái nhìn ánh mắt đăm đăm lạnh lùng của nó, và tự hỏi nên thử khuất phục nó hay làm cho nó không ngóc đầu lên được.

Trong đầu tôi có tiếng thì thầm, Anh hãy rút ra điều gì chứ. Hãy biến chuyện này thành một bài học về sự quan sát. Hãy làm như thể mọi chuyện là do anh đã sắp xếp từ trước cả rồi. Tôi mới hỏi, Lớp mình có chuyện gì? Chúng ngơ ngác. Chúng bối rối.

Tôi mới bảo, Các em hãy tưởng tượng mình là phóng viên một tờ nhật báo. Các em vào phòng này trước đây vài phút. Các em thấy gì? Các em nghe gì? Sự vụ như thế nào?

Michael đáp ngay: Chẳng có sự vụ gì hết. Chỉ có Andrew vẫn cà chớn như mọi khi.

Andrew tắt ngấm nụ cười khinh thị và tôi cảm thấy mình đã khiến nó phải hoang mang. Tôi sẽ không phải nhiều lời. Sẽ tiếp tục đặt những câu hỏi gợi ý rồi để cả lớp phán xét nó. Tôi sẽ làm cho nụ cười vĩnh viễn biến khỏi mặt thằng tiểu quỷ này và nó sẽ không bao giờ còn ngồi nghiêng ngồi ngửa nữa.

Tôi đóng vai một ông thầy khách quan, biết suy nghĩ: Một nhận xét như thế, Michael ạ, không cung cấp cho người đọc được mấy thông tin.

Dạ, nhưng ai cần thông tin kiểu thế ạ? Chẳng lẽ tay nào đó của tờ Daily News vào lớp này rồi viết một bài ồn ào về Andrew với chiếc ghế khiến thầy giáo tức điên lên?

Cô bạn gái của nó giơ tay.

Ừ, Dianne?

Cô bé nói với cả lớp: Thầy McCourt hỏa chúng ta…

Hỏi chứ không phải hỏa , Dianne ạ.

Cô bé ngừng lại. Ngẫm nghĩ. Rồi nó nói, Thầy thấy không. Thầy McCourt, thế giới này sai lầm vậy đó. Người thử giúp người liền bị người kia sửa lưng từng từ một. Như thế bực mình lắm. Ý em là OK khi bảo Andrew đặt ghế ngay ngắn kẻo giả vờ ngã cái đầu ngu xuẩn của bạn ấy, nhưng không có lý do gì để sửa lưng cách người khác nói. Thầy biết em định làm gì không? Em định bảo Andrew kê ghế ngay ngắn chứ đừng cứng đầu như thân lừa.

Cô bé mười sáu tuổi, cao lớn và rất “ngầu”, mái tóc vàng rủ trên lưng rất sành điệu làm tôi liên tưởng tới những diễn viên điện ảnh Bắc Âu. Tôi bối rối khi cô bé đi tới cuối phòng rồi đứng trước Andew.

Andrew này. Bạn thấy chuyện gì đang xảy ra ở đây. Lớp mình đông, tới hơn ba mươi người. Thầy McCourt đứng trên kia còn bạn ngồi nghiêng ngả trên ghế, thầy bảo bạn ngồi ngay ngắn nhưng bạn cứ ngồi mỉm cười, Andrew này, ai biết trong đầu bạn đang nghĩ gì. Bạn làm phí thì giờ của mọi người trong lớp. Bạn có chuyện gì nào? Thầy giáo được trả lương để dạy học chứ không phải để bảo bạn ngồi ngay ngắn như thể bạn là học trò lớp một, đúng không? Đúng không, Andrew?

Andrew vẫn ngồi nghiêng như cũ nhưng đưa mắt nhìn tôi như muốn hỏi, Có chuyện gì ở đây thế nhỉ? Em phải làm gì?

Nó kéo ghế lại ngay ngắn. Rồi nó đứng dậy đối mặt Dianne. Thấy chưa? Bạn sẽ không bao giờ quên tớ, Dianne ạ. Bạn sẽ quên cả lớp này, quên cả ông thầy, quên ông ấy tên gì, nhưng sẽ không quên chuyện tớ ngồi nghiêng ngả khiến thầy giáo bực mình. Mọi người trong lớp ddefu sẽ mãi nhớ đến tớ. Có phải thế không ạ, thưa thầy McCourt?

Tôi chỉ muốn vứt bỏ chiếc mặt nạ của một ông thầy chín chắn, nói toạc điều mình nghĩ: Này, thằng nhóc bần tiện, đặt ghế xuống cho ngay ngắn kẻo ông quăng mày ra khỏi cửa sổ thành thịt băm cho lũ chim bồ câu ngay đấy.

Tôi đâu thể nói thế được. Người ta sẽ báo cáo lên nhà chức trách ngay. Anh phải hiểu vai trò của anh thôi: nếu bọn lỏi thỉnh thoảng có làm anh điên tiết thì phải chịu đựng thôi, cha nội ơi, chịu đựng thôi. Đâu có ai ép anh phải ở lại với cái nghề khốn khổ đồng lương ít ỏi này, cũng chẳng có gì níu chân không cho anh đi qua chiếc cửa kia tới thế giới sôi sục của những người đàn ông đầy quyền lực, những người đàn bà xinh như mộng, những bữa tiệc ở khu thượng lưu và những chiếc giường trải sa tanh.

Được thôi, nhưng anh sẽ làm gì trong cái thế giới bao la của những người đàn ông đầy quyền lực kia vân vân…? Thôi, trở lại với công việc đi. Hãy nói với cả lớp về chuyện ngồi ngay ngắn. Đã hết đâu. Chúng đang chờ kìa.

Nghe đây. Các em có nghe không nào?

Chúng mỉm cười. Ông thầy lại nói cái câu muôn thuở: Nghe đây. Các em có nghe không nào? Chúng gọi nhau trong hành lang, làm điệu bộ nhại: Nghe đây. Các em có nghe không nào? Thế có nghĩa là chúng mến ta đấy.

Tôi bảo, Các em đã thấy lớp này có chuyện gì rồi. Các em đã thấy Andrew ngồi nghiêng trên ghế và điều gì đã xảy ra khi tôi bảo Andrew ngồi ngay ngắn. Các em có chất liệu cho một câu chuyện, đúng không nào? Có một sự xung đột: Andrew xung đột với thầy giáo. Andrew xung đột với cả lớp. Andrew xung đột với chính mình. Phải, đúng đấy, Andrew xung đột với chính mình. Các em đang ghi nhớ rồi, phải không nào? Nếu chưa các em chỉ cần hỏi, Tại sao thầy lại làm lớn chuyện vụ Andew với chiếc ghế? Hay tại sao Andrew lại phá bĩnh như thế? Nếu các em phải tường thuật thì còn thêm một khía cạnh nữa: động cơ của Andrew. Duy nhất Andrew biết tại sao cậu ấy lại ngồi nghiêng ngả, các em chỉ được quyền phỏng đoán thôi. Chúng ta có thể sẽ có hơn ba mươi điều phỏng đoán trong lớp này.

Hôm sau Andrew nấn ná lại sau giờ học. Thầy McCourt, thầy từng học ở Đại học New York, phải không ạ?

Phải.

Dạ, mẹ em bảo có biết thầy.

Thật à? Thầy rất vui được biết có ai đấy còn nhớ đến mình.

Ý em là mẹ em biết thầy nhưng không phải ở đại học.

Thế nữa sao?

Mẹ em mất năm ngoái. Mẹ em bị ung thư. Tên mẹ em là June.

Lạy Chúa tôi. Bảo rằng tôi chậm hiểu quả tình không đúng lắm. Phải nói là đần. Sao tôi lại không đoán ra? Sao tôi không nhận ra nàng trong đôi mắt nó?

Mẹ em luôn bảo sẽ gọi cho thầy nhưng rồi buồn chuyện ly dị, kế đến bị ung thư, đến khi em kể rằng em học thầy thì mẹ em bắt em hứa không được tiết lộ về bà. Mẹ em bảo đằng nào thì thầy cũng không muốn trò chuyện với mẹ em nữa.

Thầy rất muốn trò chuyện với mẹ em chứ. Thầy muốn trò chuyện với mẹ em suốt đời cơ mà. Mẹ đã lấy ai? Cha em là ai thế?

Em không biết cha em là ai. Mẹ em lấy ông Gus Peterson. Bây giờ em phải đi thu dọn tủ cá nhân của em. Dượng em sắp dọn về Chicago và em phải đi với dượng và bà mẹ kế. Thật ngộ vì em có một ông bố dượng và một bà mẹ kế, nhưng OK.

Chúng tôi bắt tay nhau và tôi nhìn nó đi trong hành lang. Trước khi rẽ tới chỗ đặt tủ cá nhân, nó quay lại vẫy, tôi tự hỏi trong một thoáng rằng mình có thể nào để quá khứ trôi qua dễ dàng vậy sao.

Nơi trường ốc có câu rằng: Đừng bao giờ đe dọa cả một lớp hay một học trò nếu anh không làm nổi. Nhất là chớ có dại dột đe dọa tay Benny “Bùm Bùm” Brandt nổi tiếng trong trường vì có đai đen võ Karaté.

Sau khi trốn học bốn ngày liền, nó ung dung vào lớp giữa giờ học về những từ nước ngoài trong tiếng Anh như: amen, pasta, chef, sushi, limousine và những từ khiến học trò khúc khích cười như: lingerie, bidet, brassiere [106] .

Tôi có thể phớt lờ Bùm Bùm, cứ tiếp tục giảng, để mặc nó đi tới chỗ ngồi. Nhưng tôi biết cả lớp đang nhìn tôi thắc mắc: Sao tụi mình phải có thư xin lỗi mỗi khi vắng mặt còn Bùm Bùm lại có thể ngồi vào chỗ tỉnh bơ như thế kia? Chúng nghĩ đúng, tôi đồng ý với chúng và tôi phải chứng tỏ rằng mình không nhu nhược.

Khoan đã. Tôi cố lấy giọng châm biếm.

Nó liền ngừng ngay ở cửa: Dạ?

Tôi vân vê nghịch mẩu phấn trong tay để tỏ ra rằng mình rất “ngầu”. Tôi phân vân giữa hai câu hỏi: Em định đi đâu đấy? và Em nghĩ em đi đâu đấy hả? Câu đầu nghe như một câu hỏi bình thường có ẩn chút uy quyền của thầy giáo. Câu thứ hai nghe như thách thức và có thể gây phiền toái. Song dù nói cách nào thì giọng điệu vẫn quan trọng hơn cả. Tôi chọn giải pháp nhẹ nhàng hơn.

Khoan đã. Em có giấy cho phép không? Em cần giấy cho phép của văn phòng hiệu trưởng sau thời gian vắng mặt.

Đây là ông thầy đang nói. Ông thầy đại diện cho uy quyền: văn phòng hiệu trưởng ở cuối hành lang – nơi cấp giấy phép cho mọi thứ, hiệu trưởng, thanh tra học chính, thị trưởng, tổng thống, Chúa Trời. Đấy không phải vai trò tôi thích. Tôi đứng đây để dạy tiếng Anh, chứ không phải để hỏi giấy phép.

Brandt nói: Ai định ngăn cản em nào? Giọng nó hầu như bông lơn, lẫn tò mò thành thật, nhưng cả lớp thì há hốc miệng.

Mẹ, cà chớn, Ralphie Boyce nói.

Giáo viên trung học được cấp trên chỉ thị không dung túng ngôn ngữ dung tục trong lớp. Thứ ngôn ngữ ấy là bất kính và có thể dẫn tới đổ bể lề luật và trật tự nhà trường. Tôi thật muốn khiển trách Ralphie nhưng không thể được, vì trong đầu tôi cũng hiện lên mấy từ Mẹ, cà chớn.

Brandt đứng quay lưng về phía cửa lớp đã đóng sập lại đằng sau nó, vẻ nhẫn nại.

Và mối thiện cảm bất đồ này tôi dành cho cái thằng cục mịch thợ thiếc tương lai xuất thân đường Delancey, khu Manhattan là gì chứ? Có phải vì cung cách nhẫn nại nó chờ, hầu như với ánh mắt dịu dàng? Nó có vẻ biết điều và chín chắn lắm. Vậy thì sao tôi không bỏ cái vai ông thầy nghiêm khắc đi mà bảo nó: Thôi được rồi. Brant, em ngồi xuống đi. Lần này thầy bỏ qua chuyện giấy phép, nhưng lần sau thì cố mà nhớ nghe chưa. Nhưng tôi đã đi quá xa, không rút lại được nữa. Bạn bè của nó đã chứng kiến, thành ra tôi buộc phải có một hành động nào đấy.

Tôi tung mẩu phấn lên cao rồi chụp lấy. Brant đứng nhìn. Tôi bước lại phía nó. Hôm nay không phải là ngày tôi muốn chết, nhưng vì cả lớp đang chờ đợi, đã đến lúc tôi trả lời câu hỏi của nó: Ai định ngăn cản em nào?

Tôi lại tung mẩu phấn lên cao, có lẽ là lần cuối cùng trong đời, rồi nói: Thầy sẽ cản em.

Nó gật đầu như muốn nói: Thế là phải lẽ. Ông là thầy giáo mà.

Mối thiện cảm quay trở lại, tôi thật muốn vỗ vai nó mà rằng Brandt ơi, thôi ta bỏ qua, em ngồi xuống đi.

Tôi lại ném mẩu phấn lên cao, nhưng chụp hụt. Mẩu phấn rơi xuống sàn. Dứt khoát phải nhặt nó lên. Tôi cúi xuống lượm mẩu phấn thì thấy ngay trước mắt là chân của Brandt, mời mọc. Tôi túm lấy, kéo mạnh. Brandt ngã ngửa ra sau, đập đầu vào nắm đấm cửa bằng đồng thau, trượt xuống nền nhà, nằm lặng yên như thể đang toan tính bước tiếp theo sẽ phải làm gì. Một lần nữa cả lớp há hốc miệng, Wow .

Nó xoa phía sau đầu. Phải chăng nó đang chuẩn bị tung một cú đấm chớp nhoáng, cú chặt bằng sống tay, cú đá?

Cà chớn thật, em không biết là thầy rành Karaté đấy, thầy McCourt.

Xem ra tôi là người chiến thắng, nên tiếp theo đến lượt tôi: OK, Benny, em có thể ngồi xuống.

Được phép chứ.

Gì?

Mọi thầy cô đều nói: Em được phép ngồi xuống. Thì ra Bùm Bùm sửa lưng tôi. Tôi đang ở trong nhà thương điên chăng?

OK. Em được phép ngồi xuống.

Nghĩa là thầy không đòi giấy phép hay gì hết?

Không. Xong rồi.

Nghĩa là thầy trò ta đấu nhau chẳng vì chuyện gì hết?

Trên đường về chỗ ngồi Bùm Bùm đạp lên mẩu phấn rồi đưa mắt nhìn tôi. Cố ý phỏng? Tôi có nên phản ứng không nhỉ? Không. Trong đầu tôi vang lên một tiếng nói: Dạy tiếp đi. Đừng làm như một đứa choai choai nữa. Thằng nhỏ này có thể bẻ anh ra làm hai đấy. Anh giáo ơi, hãy trở lại với bài học về những từ nước ngoài trong tiếng Anh đi.

Brandt hành xử như thể không hề có chuyện gì xảy ra giữa hai thầy trò, khiến tôi cảm thấy xấu hổ, muốn xin lỗi cả lớp, nhất là nó. Tôi tự nhiếc móc rằng chuyện mình vừa làm thật rẻ tiền. Giờ đây chúng khâm phục tôi vì tưởng tôi giỏi Karaté. Tôi liền lảm nhảm:

Hãy hình dung tiếng Anh của chúng ta sẽ ra sao nếu bỏ đi những từ gốc tiếng Pháp. Khi ấy ta sẽ không thể bảo anh tài xế chiếc limousine nữa. Ta sẽ phải nói đồ lót thay vì lingerie. Ta không thể đi tới restaurant chef. Ta sẽ phải tạo một từ mới thay cho brassiere [107] .

Thì thầm, thì thầm. Khúc khích, khúc khích. Ôôô, thầy McCourt ơi, thầy nói gì thế.

Đó là cách để chúng quên đi vụ vừa rồi. Tôi cảm thấy mình chiến thắng trên mọi mặt cho tới khi tôi ngó qua Brandt. Đôi mắt nó như muốn nói: Cũng được, thầy McCourt ơi. Em đoán là thầy cần ra oai, em thấy cũng được thôi mà.

Nó đủ thông minh để có thể thi đậu bằng tiếng Anh của bang New York. Nó có thể viết một bài luận tàm tạm đủ điểm, nhưng nó lại quyết định thi rớt. Nó chẳng buồn quan tâm tới danh sách đề tài chọn lựa mà tự đặt cho nhan đề bài luận là “Tiếng kêu chiêm chiếp”, rồi viết ba trăm năm mươi lần “chiêm chiếp, chiêm chiếp, chiêm chiếp…”

Tình cờ tôi gặp Bùm Bùm trên đường Delancey sau kỳ thi tốt nghiệp, tôi hỏi nó về cái bài chiêm chiếp kia.

Em chẳng biết nữa. Em vẫn có những ý tưởng điên rồ và bất chấp chuyện gì sẽ xảy ra. Em ngồi trong phòng thi ấy, mọi chuyện mới vớ vẩn làm sao, cái ông giám thị ở đấy răn đe chúng em không được ngó bài người bên cạnh, lúc đó có một con chim đậu trên bậu cửa sổ chiêm chiếp mãi nên em mới tự bảo: OK, mẹ, quái gì chứ, rồi em đặt bút ghi lại tiếng chim kêu. Năm em mười bốn tuổi, bố em cho em đi học võ. Tay người Nhật cho em ngồi đợi ngoài đại sảnh cả giờ luôn, tới khi em hỏi: Ô này ông, buổi học của tôi sao đây? thì hắn bảo em về nhà đi. Về nhà à? Ý em là hắn đã được trả tiền rồi mà. Hắn nói: Về nhà đi. Em hỏi: Tuần tới tôi trở lại hay sao? Hắn chẳng nói chẳng rằng. Tuần sau em trở lại, hắn hỏi: Mày muốn gì? Em nhắc lại em muốn học võ. Hắn bảo em đi chùi nhà vệ sinh. Em thắc mắc không biết liên quan thế nào đến chuyện tập võ nhưng em không nói gì hết. Em đi chùi nhà vệ sinh. Hắn bảo em ra ngồi trường kỷ, cởi giày vớ rồi nhìn bàn chân mình. Mắt không được rời khỏi bàn chân. Thầy đã từng nhìn chân mình bao giờ chưa? Em có một bàn chân lớn hơn bàn chân kia. Hắn đi ra bảo em, Mang giày vào, không vớ, rồi về nhà đi. Càng ngày em càng tuân theo lời hắn dễ dàng hơn. Em chẳng còn thấy bực mình nữa. Đôi khi em ngồi trên ghế băng, chẳng làm gì hết, rồi về nhà mà vẫn trả hắn tiền. Em kể cho bố em, ông chỉ nhăn mặt. Sau sáu tuần như thế tay Nhật mới dẫn em vào phòng dạy em bài đầu tiên. Hắn bắt em đứng quay mặt vào tường còn hắn cầm một thứ kiếm xông tới la hét om sòm chừng mười lăm phút. Kết thúc giai đoạn này hắn bảo em được thu nhận vào trường hắn, nhưng trước khi về em phải chùi nhà vệ sinh để dẹp đi những ý nghĩ lớn lối về mình, nếu có. Thành ra em biết hôm ấy thầy kéo em ngã là tại vì sao. Em biết thầy phải cứu thân thầy, với em thế OK thôi, vì em không cần cái thế giới này, còn thầy là một ông thầy OK, em cóc quan tâm bọn nhóc trong lớp nghĩ gì. Nếu thầy nghĩ cần phải tỏ ra ta đây là một thầy giáo “ngon lành” thì thầy nên về nhà lau chùi phòng vệ sinh.

Đây là thực trạng ở các trường công lập Mỹ: Càng tránh xa việc dạy học lương bổng anh càng cao và anh càng oai. Hãy lấy chứng chỉ giáo viên, dạy học hai hoặc ba năm. Theo học những khóa về hành chính, giám sát, hướng dẫn, rồi với những chứng chỉ mới này anh có thể chuyển đến một văn phòng có máy điều hòa không khí, có phòng vệ sinh riêng, được nghỉ trưa lâu hơn, lại có cả thư ký. Anh sẽ không phải đánh vật với hàng đoàn hàng lũ bọn nhóc “rận trong quần”. Cứ ngồi trốn trong văn phòng, anh sẽ không bao giờ còn phải thấy lũ nhóc con chó chết nữa.

Nhưng giờ đây tôi ba mươi tám tuổi, không có tham vọng leo lên cao trong hệ thống trường sở, lênh đênh vô định trong giấc mơ Mỹ, sắp đối diện thời khủng hoảng của tuổi trung tuần, dạy tiếng Anh ở trường trung học mà chẳng nên cơm cháo gì, bị cấp trên – các hiệu trưởng, hiệu phó – cản đường hoạn lộ, ấy là tôi nghĩ thế.

Tôi lo lắng không yên mà không biết có chuyện gì khiến mình phiền não. Alberta bảo: Sao anh không làm cái bằng tiến sĩ rồi thăng tiến trong thế giới này?

Tôi bảo: Được thôi.

Trường Đại học New York nói đồng ý, họ sẽ nhận tôi làm luận án tiến sĩ, nhưng vợ tôi bảo: Sao anh không làm ở London hay Dublin?

Em muốn tống khứ anh chứ gì?

Vợ tôi cười.

Năm mười sáu tuổi tôi cùng một người bạn đến thăm Dublin, sáng đi chiều về. Tôi đứng tựa vào một bức tường đá xám xịt xem diễu hành. Bức tường xám này là trường của Trinity College; tôi không biết rằng nó được xem như một thứ lãnh thổ nước ngoài, nước Anh và đạo Tin lành. Xích xuống phía dưới nữa là hàng rào và một cái cổng khổng lồ ngăn chặn những kẻ như tôi bước vào. Trước cổng là nhiều bức tượng, trong đó có Edmund Burke và Oliver Godsmith. Ô, tôi nói, ông ấy đấy, ngay kia kìa, người đã viết quyển The Deserted Village – Ngôi làng Hoang vắng – mà tớ đã phải học thuộc lòng trong trường.

Bạn tôi, người vùng Limerick, hiểu đời hơn tôi, bảo: Cậu hãy ngắm nhìn Oliver và những nhân vật kia cho kỹ đi, vì loại như cậu sẽ chẳng đời nào được bước qua cái cổng kia đâu. Ngài Tổng Giám đốc đã phán rằng người Công giáo nào vào học Trinity đều sẽ mặc nhiên bị rút phép thông công.

Từ đấy, mỗi lần đến Dublin tôi đều bị cuốn hút tới trường Trinity. Tôi đứng trước cổng, khâm phục nhìn cách các sinh viên vắt thật tao nhã chiếc khăn quàng cổ của trường Trinity qua vai. Tôi khâm phục cách phát âm nghe rất Anh của họ. Tôi khát khao những cô nàng Tin lành xinh đẹp không thèm nhìn nhỏi tới tôi. Họ sẽ lấy chồng môn đăng hộ đối, toàn thứ dân Tin lành có ngựa quý [108] , chứ ngữ như tôi mà dám bon chen lấy một người trong bọn họ thì sẽ bị đá đít khỏi nhà thờ Công giáo, đừng mong gì được cứu rỗi.

Khách du lịch Mỹ áo quần sặc sỡ đi ra đi vào trường đại học này, tôi ước gì có đủ can đảm để cũng tự mình vào trong ấy, nhưng nếu bị người gác cổng hỏi vào làm gì thì tôi chẳng biết trả lời sao.

Sáu năm sau tôi trở về Ireland trong bộ quân phục Mỹ, mà tôi nghĩ sẽ được nể trọng. Tôi được nể trọng thật, miễn đừng mở miệng. Tôi cố nói giọng Mỹ cho hợp với bộ quân phục. Không ăn thua. Mới đầu các cô tiếp viên nhanh nhẹn chạy tới dẫn tôi vào bàn, nhưng khi tôi lên tiếng thì họ nói: Ày ày Chay-dớt [109] , anh đâu phải Mẽo. Anh chỉ là dân Ireland như mọi người thôi. Anh người vùng nào? Tôi bảo tôi là GI ở Alabama, nhưng một cô ở Bewley’s Café trên đường Grafton bảo: Anh mà là người bang Alabama thì em là nữ hoàng Rumani. Tôi lắp bắp thú nhận mình là dân Limerick cô mới thôi không đòi làm nữ hoàng Rumani nữa. Cô bảo trò chuyện với khách là trái với quy định của Bewley’s Café, nhưng trông tôi có vẻ uống rượu mạnh. Tôi khoe đã uống bao nhiêu là bia với rượu trên khắp bang Bavaria ở Đức, cô bảo nếu thế thì tôi nên mời cô một ly Sherry ở quán McDaid’s phía trên kia.

Tôi thấy cô chẳng có gì hấp dẫn, nhưng rất hãnh diện vì có một cô tiếp viên ở Bewley’s chịu uống với mình.

Tôi tới quán McDaid’s chờ. Những tay nhậu đăm đăm nhìn tôi, nhìn bộ quân phục Mỹ của tôi rồi khẽ huých nhau khiến tôi đâm nhột. Anh chàng quầy bar cũng nhìn chòng chọc, rồi khi tôi gọi một pin [110] bia thì hắn hỏi, Quán ta có vinh dự tiếp một ông tướng hay là sao đây?

Tôi không hiểu ý châm biếm nên trả lời rằng, Không, tôi là hạ sĩ, cả quán cười ồ, khiến tôi có cảm tưởng mình như đồ khùng nhất trần đời.

Tôi lúng túng tợn. Tôi sinh ra ở Mỹ. Lớn lên ở Ireland. Rồi trở về Mỹ. Giờ đây tôi mặc quân phục Mỹ. Nhưng tôi thấy mình đặc Ireland. Lẽ ra họ nên biết tôi là người Ireland chứ. Lẽ ra họ đừng cười nhạo tôi chứ.

Khi cô phục vụ ở quán Bewley’s tới ngồi sát tường cùng với tôi rồi gọi một ly Sherry thì họ lại huých nhau và nhìn tôi chòng chọc. Anh chàng quầy bar nháy mắt nói gì đấy về một “nạn nhân mới”. Hắn rời khỏi quầy tới hỏi tôi có muốn một pint nữa không. Dĩ nhiên tôi muốn một pint nữa. Mọi người chăm chú nhìn khiến tôi nóng cả mặt. Soi vào gương lớn tôi thấy mắt mình đỏ ngầu.

Cô phục vụ nói khi nào anh chàng quầy bar mang bia đến cho tôi anh ta có thể nhân tiện mang cho cô thêm một ly Sherry nữa để uống sau một ngày làm việc mệt nhọc ở quán Bewley’s. Cô xưng tên là Mary. Cô bảo nếu tôi có ý định xem thường cô, vì cô chỉ là người chạy bàn thì tôi nên chấm dứt ngay đi. Tôi chẳng qua chỉ là một gã nhà quê khoác áo lính Mỹ lấy le. Rượu Sherry chừng như đã khiến nàng nói huyên thuyên, nàng càng nói thì những người khách ngồi dọc tường càng cười tợn. Nàng bảo chỉ làm tạm ở quán Bewley’s thôi. Nàng đang chờ luật sư giải quyết chúc thư của người bà, xong xuôi nàng sẽ mở một cửa hàng nhỏ trên đường Grafton bán thời trang hạng oách cho khách sộp.

Tôi chẳng biết gì về thời trang hạng oách, song tôi băn khoăn không biết nàng sẽ làm gì trong một cửa hiệu như thế. Nàng béo núc, mắt sâu hoắm, cái cằm sệ không ngớt rung rinh. Da thịt nàng lồi ra khắp mọi chỗ. Tôi không muốn nàng và không biết phải làm gì. Thấy mọi người cười cợt nhìn, tôi tuyệt vọng buột miệng, nói rằng tôi phải đi.

Sao cơ? Nàng hỏi.

Tôi phải… Tôi phải ngó trường Trinity College. Ngó bên trong. Tôi phải qua cổng. Là pint bia nâu thứ ba của tôi nói đấy.

Nhưng đó là cơ ngơi của dân Tin lành mà, nàng nói.

Mặc xác. Tôi phải vào.

Mấy người có nghe không? Nàng hỏi cả quán. Anh này muốn vào trong trường Trinity đấy.

Ô, Chay-dớt , một người đàn ông nói. Một người khác nói lạy Đức Mẹ.

Thưa ông tướng, được thôi, anh chàng quầy bar nói. Cứ việc. Ngài cứ tới Trinity, vào thăm thú trong đó, nhưng nhớ đi xưng tội ngày thứ Bảy.

Anh nghe chưa? Mary hỏi. Xưng tội vào ngày thứ Bảy, nhưng cưng đừng lo. Em sẵn sàng nghe cưng xưng tội bất cứ lúc nào. Nào, uống cạn pint bia đi rồi mình tới Trinity.

Chúa ơi. Nàng muốn đi cùng với tôi. Cô nàng Mary núng nính đi với tôi, trong bộ quân phục Mỹ, trên đường Grafton. Mọi người sẽ nói: Nhìn tay Mẽo kia mà xem. Chẳng lẽ hắn không biết làm gì hơn là cặp kè một cô nàng mập ú như thế trong khi gái Dublin xinh đẹp nhất thế giới ư?

Tôi bảo nàng không cần phải bận tâm, nhưng nàng cứ khăng khăng một mực, tay ở quầy bar thì bảo tôi có hơn một lý do phải xưng tội vào ngày thứ Bảy: Vì cô nàng xanh xao gầy gòm của anh không biết thương hại là gì đâu.

Sao tôi không chứng tỏ tinh thần độc lập? Chẳng lẽ tôi lại phải bước qua cổng trường Trinity, lần đầu tiên trong đời, với tấm thân phì nộn mồm miệng lảm nhảm này kẹp tay mình ư?

Tôi đã đi với nàng thật.

Suốt quãng đường Grafton nàng liến thoắng vặc hỏi bất kỳ người nào nhìn chúng tôi: Có chuyện gì thế? Bộ mấy người chưa từng thấy Mẽo bao giờ hả? cho tới khi một người đàn bà quàng khăn đáp trả: Có chứ, nhưng chúng tôi chưa từng thấy tay Mẽo nào hạ cấp đến độ phải đi với một kẻ như cô. Mary gào lên rằng nếu nàng không bận việc quan trọng thì sẽ cào lòi mắt bà kia.

Tôi lúng túng khi định bước qua cổng trường Trinity. Người gác cổng mặc đồng phục nhất định sẽ hỏi tôi muốn vào đấy làm gì, nhưng y chẳng buồn để ý, kể cả khi Mary lên tiếng: Chào cưng.

Rút cục tôi đã đứng trên nền đá lát bên trong cổng trường, nhưng không dám bước thêm bước nào nữa. Oliver Goldsmith đã từng tản bộ nơi đây. Jonathan Swift đã từng tản bộ nơi đây. Hết thảy những người Tin lành giàu có hàng bao thế kỷ qua đã từng tản bộ nơi đây. Tôi đã đứng nơi đây, bên trong cổng trường, thế là đủ rồi.

Mary kéo tay tôi: Sắp tối rồi. Anh định đứng đây suốt đêm sao? Đi thôi, em thèm Sherry muốn chết. Rồi mình về căn buồng nhỏ của em, ai biết được rồi sẽ có chuyện gì nữa, ai biết được. Nàng cười khúc khích, kéo tôi sát vào tấm thân bồ tượng mềm mại rung rinh của nàng, còn tôi thật muốn nói với cả thành phố Dublin rằng: Đâu có, đâu có, nàng không phải bồ của tôi.

Chúng tôi đi trên đường Nassau, nàng dừng lại trước hiệu Yates ở góc đường trầm trồ các món nữ trang. Đẹp quá, nàng nói. Đẹp quá. Chao ơi, sẽ đến một ngày ngón tay em được đeo một trong những chiếc nhẫn này.

Nàng buông tay tôi ra để chỉ trỏ một chiếc nhẫn trong tủ kính, tôi liền bỏ chạy. Chạy ngược con đường Nassau, nghe loáng thoáng tiếng nàng rủa sả rằng tôi là một thằng oắt Mẽo bẩn thỉu gốc Limerick.

Hôm sau tôi tới quán Bewley’s xin lỗi nàng về lối cư xử của mình. Nàng bảo: À, chuyện ấy không sao. Ai biết được sau khi uống và ly Sherry hay bia anh sẽ lộ chân tướng thế nào. Nàng bảo nàng sẽ xong việc vào lúc sáu giờ, nếu tôi muốn thì chúng tôi có thể đi ăn cá với khoai rán rồi về buồng của nàng dùng trà. Uống trà xong nàng bảo chắc chắn khuya quá rồi tôi đi bộ về khách sạn mãi trên đường Grafton không tiện đâu, vả chăng chẳng phiền hà chút nào nếu tôi ở lại rồi sáng mai cùng đi xe buýt với nàng. Nàng ra phòng vệ sinh ở ngoài hành lang, còn tôi cởi quần áo ngoài. Nàng quay trở vào trong chiếc áo ngủ xám phập phồng như sóng lượn. Nàng quỳ xuống bên giường, làm dấu thánh giá, cầu Chúa che chở nàng khỏi mọi tai họa. Nàng thưa với Chúa rằng nàng biết mình đang buông thả theo sự quyến rũ, nhưng cái gã nằm trên giường kia chắc chắn chẳng phải ngây thơ vô tội gì đâu.

Nàng lăn lên giường, ép gí tôi vào tường rồi khi tôi định kéo áo ngủ của nàng lên thì nàng hất tay tôi ra. Nàng bảo nàng không muốn chịu trách nhiệm về việc tôi mất linh hồn, nhưng nếu tôi chịu khó đọc kinh sám hối trước khi ngủ quên đi mất, nàng sẽ thấy yên dạ hơn. Tôi đang đoc bài kinh này thì nàng cởi áo ngủ rồi ghì chặt lấy tôi. Nàng thì thầm: Lát nữa anh đọc nốt bài kinh cũng được mà; tôi ừ. Thật vậy, bằng cách lao vào tấm thân bồ tượng mỡ màng của nàng tôi đã kết thúc bài kinh sám hối của mình.

Hồi đó tôi hai mươi hai tuổi. Năm ba mươi tám tuổi tôi nộp đơn xin vào trường Trinity College. Họ trả lời rằng sẽ xét đơn của tôi với điều kiện tôi phải qua Kỳ thi Khảo nghiệm Tốt nghiệp của Mỹ (Graduate Record Examination – GRE). Tôi thi và kết quả khiến cả tôi lẫn mọi người kinh ngạc, vì môn tiếng Anh của tôi được chín mươi chín điểm trên một trăm. Có nghĩa là tôi ngang ngửa với những đầu óc thông minh nhất nước Mỹ, tôi vô cùng phấn chấn đi ngay tới quán Gage và Tollner’s ở Brooklyn ăn món cá vược với khoai nướng và uống nhiều vang đến nỗi sau đó không nhớ mình đã về nhà như thế nào. Alberta nhẫn nại với tôi; sáng hôm sau nàng không cằn nhằn gì cả, vì dẫu sao thì tôi cũng sẽ đi Dublin học một trường nổi tiếng và nàng sẽ phải xa tôi trong hai năm tới, thời gian mà trường Trinity cho để tôi soạn và bảo vệ luận án tiến sĩ.

Về môn toán của kỳ thi GRE có lẽ tôi được điểm số thấp nhất thế giới.

Alberta đặt cho tôi một giường ngủ trên tàu Queen Elizabeth , chuyến áp chót của con tàu này vượt Đại Tây Dương về hướng Đông. Chúng tôi liên hoan một bữa trên tàu để chia tay, đương nhiên phải thế. Chúng tôi uống sâm banh, rồi khi tới giờ khách thăm phải rời tàu thì tôi hôn nàng và nàng hôn tôi. Tôi bảo sẽ thấy thiếu nàng, nàng bảo sẽ thấy thiếu tôi, song tôi không dám chắc có đứa nào nói thật lòng. Tôi hơi váng đầu do uống sâm banh nên khi con tàu rời xa bờ tôi đưa tay vẫy mà không biết vẫy ai. Đời mình là thế, tôi nghĩ. Vẫy mà không biết vẫy ai. Thật là một nhận xét sâu xa cần được suy nghĩ thêm, nhưng tôi nhức đầu nên không suy nghĩ nữa.

Tàu chạy vào sông Hudson, nhắm hướng Narrows. Tôi lên đứng trên boong để đưa tay vẫy chào Ellis Island [111] . Mọi người đều vẫy chào pho tượng Tự do, còn tôi vẫy chào hòn đảo Ellis, nơi mang cả hy vọng lẫn đau buồn.

Tôi nhớ lại bản thân tôi, thằng nhóc chưa đầy bốn tuổi, ba mươi tư năm trước, cũng đã vẫy vẫy trên chuyến tàu đi Ireland, nay tôi lại đứng đây, vẫy vẫy. Tôi đang làm gì, tôi đi đâu, để làm gì?

Khi ta có một mình và vẫn còn váng vấp sâm banh, ta sẽ đi loanh quanh thăm thú trên tàu. Tôi đang đáp con tàu Queen Elizabeth tới Dublin để vào trường Trinity College đây, nếu anh không phản đối. Có bao giờ anh nghĩ rằng việc đi tới đi lui như thế, vẫy vẫy tay như thế là anh sẽ đứng về phía kẻ thù? Cái Trinity College ấy, cái trường Tin lành ấy, xưa nay luôn trung thành với hết vua Anh nọ tới chúa Anh kia, thử hỏi nó đã làm được những gì cho tự do của đất nước Ireland? Thế mà đầu óc hạt đậu vắt mũi chưa sạch của anh cứ luôn coi bọn chúng, lũ ngựa Tin lành kiêu ngạo phát âm uốn a uốn éo kiểu Anh còn mặt cứ vểnh lên trời ấy là siêu việt hơn mình.

Oliver St. John Gogarty xưa cũng học Trinity và tôi từng viết luận án về ông, đọc hết những trước tác của ông mà tôi tìm được, từng hy vọng sẽ thấm được tí tài năng và văn phong của ông, nhưng chỉ công toi. Có lần tôi đưa luận án của mình cho Stanley Garber, một đồng nghiệp ở trường McKee và kể cho anh ta về niềm hy vọng của tôi. Anh ta lắc đầu mà rằng: Nghe này, anh McCourt, hãy quên Gogarty đi. Trong đáy sâu của tâm hồn anh, anh vẫn là thằng nhỏ đái dầm ở những ngõ hẻm ở Limerick. Hãy tìm cho ra anh là thằng quái nào. Hãy leo lên thập tự giá hứng chịu lấy đau khổ của chính mình. Không khác được đâu, anh bạn ạ.

Sao anh lại nói thế được nhỉ, hở Stantley? Chuyện thập tự giá ấy. Anh là dân Do Thái mà.

Đúng thế. Nhưng anh hãy nhìn dân Do Thái chúng tôi mà xem. Chúng tôi tìm cách thích ứng với những người không phải đạo Do Thái. Chúng tôi đã tìm cách để đồng hóa ấy chứ, nhưng họ đâu có chịu. Kết quả là thế nào? Cọ xát, anh bạn ạ, và chính sự cọ xát này đã sinh ra những người như Marx, Freud, Einstein và Stantley Garber. Hãy cảm ơn Chúa vì anh đã không bị đồng hóa, McCourt ạ, và hãy quên Gogarty đi. Anh không phải là Gogarty. Anh chỉ một mình. Anh hiểu chứ? Nếu lúc này đây anh té lộn nhào rồi chết, những ngôi sao vẫn chuyển động trên quỹ đạo của chúng còn anh sẽ là một đốm sáng. Hãy đi con đường riêng của mình, bằng không một ngày nào đó anh sẽ tàn đời trong một ngôi nhà nhỏ trên Staten Island, đọc kinh Kính mừng với một mụ Maureen nào đó.

Tôi không thể suy nghĩ về điều này được vì kìa, đang bước xuống chiếc cầu thang chính của chiếc Queen Elizabeth , là một phụ nữ tôi quen. Nàng nhìn tôi nói mình đi uống với nhau chút gì đi. Tôi nhớ rằng nàng vốn là y tá riêng cho dân giàu ở New York mà là tự hỏi không biết nàng còn là gì khác nữa. Nàng bảo nàng bực mình vì cô bạn đã đổi ngày đi khiến giờ nàng thế này đây, nữ y tá, trong căn phòng đôi hạng nhất, một mình năm ngày dài. Rượu vào lời ra, tôi kể nàng nghe về sự cô đơn của tôi và rằng chúng tôi vẫn có thể bầu bạn được với nhau trong chuyến đi, tuy hơi khó vì nàng ở phòng hạng nhất còn phòng tôi ở dưới mực nước [112] .

Ô, được thế thì thích quá, nàng đáp. Nàng lai Ireland nên thỉnh thoảng nói lơ lớ.

Giá như được tỉnh táo thì tôi có thể cân nhắc đấy, nhưng tôi sa vào vòng quyến rũ nên quên mất giường ngủ của mình ở dưới thân tàu.

Vào ngày thứ ba của chuyến đi tôi lẻn ra khỏi buồng, tới buồng ăn điểm tâm – lần đầu tiên tôi vào đây. Người phục vụ hỏi: Thưa ông tìm gì ạ? Tôi lúng túng trả lời rằng không biết ngồi ở đâu.

Thưa, ông chưa từng vào đây bao giờ sao?

Chưa.

Là phục vụ, anh ta tránh không hỏi thẳng. Người quản lý cũng thế, anh ta chỉ bảo rằng tôi bị chính thức xem như không có mặt trên tàu. Ban quản lý tàu cho rằng tôi ham vui nên đã cùng bạn bè lên bờ. Rõ ràng anh ta chờ một lời giải thích, nhưng tôi không thể nào khai hết những chuyện đã trải qua trong căn buồng hạng nhất với cô y tá kia được. Anh ta nói dạ, họ có ghế dành cho tôi và xin mời tôi dùng điểm tâm.

Trong căn buồng dưới mực nước nọ có hai giường. Anh bạn cùng buồng với tôi đang quỳ đọc kinh. Anh giật mình khi thấy tôi. Anh thuộc giáo phái Giám lý [113] ở Idaho, sang Heidelberg [114] học thần học, thành ra tôi không thể khoe rằng ba tối vừa qua mình ở trong buồng hạng nhất với một cô y tá từ New York. Tôi xin lỗi đã làm gián đoạn việc cầu nguyện của anh, nhưng anh trả lời rằng tôi không thể làm gián đoạn việc cầu nguyện của anh được, vì cả cuộc đời anh là sự cầu nguyện. Tôi thấy điều anh nói thật hay và ước gì cuộc đời tôi cũng là sự cầu nguyện. Điều anh nói khiến tôi bị cắn rứt lương tâm, thấy mình thật không xứng đáng và đầy tội lỗi. Anh tên Ted. Anh trông chững chạc và vui vẻ, hàm răng đều đặn, tóc húi kiểu lính thủy đánh bộ. Chiếc áo sơ mi trắng sạch bong, hồ và là thẳng thớm. Anh thoải mái với chính mình và hòa thuận với thế giới. Chúa ở trên thiên đàng - thiên đàng của phái Giám lý - nên hết thảy đều tốt lành. Tôi thấy lo lo. Nếu đời anh là sự cầu nguyện thì đời tôi là gì? Một chuỗi tội lỗi dài lê thê chăng? Nếu chiếc tàu này đụng phải băng sơn thì hẳn Ted sẽ leo lên boong hát "Con gần Người thêm rồi, Chúa ơi," còn tôi sẽ tìm trên boong tàu một ông linh mục để xưng tội lần cuối cùng.

Ted hỏi tôi có mộ đạo không, có đi nhà thờ không. Anh mời tôi một giờ nữa đến dự lễ của phái Giám lý, nhưng tôi lẩm bẩm rằng thỉnh thoảng cũng có đi nhà thờ. Anh bảo rằng anh hiểu. Làm sao anh hiểu được? Một người phái Giám lý biết gì về những đau khổ của người Công giáo, đặc biệt của người Công giáo Ireland? (Tôi không nói ra, dĩ nhiên rồi. Tôi không muốn xúc phạm cảm nghĩ của anh. Anh thành khẩn quá mà). Anh hỏi tôi có muốn cùng cầu nguyện không, tôi lại lẩm bẩm rằng tôi không biết bài kinh Tin lành nào, hơn nữa tôi phải tắm và thay quần áo. Anh nhìn tôi với đôi mắt mà các nhà văn gọi là soi thấu tim gan và tôi cảm thấy anh biết hết cả rồi. Tuy mới hai mươi bốn tuổi thôi, song anh đã có được niềm tin, viễn ảnh và hướng đi. Có thể anh đã từng nghe nói về tội lỗi, song ta có thể thấy rằng anh đã thoát khỏi nó, anh trong trắng về mọi mặt.

Tôi bảo Ted rằng tắm xong tôi sẽ tìm tới nhà nguyện Công giáo dự thánh lễ. Anh bảo, Anh không cần thánh lễ. Anh không cần linh mục. Anh có lòng tin, có Kinh thánh, có hai đầu gối và một cái sàn nhà để quỳ xuống cầu nguyện là đủ rồi.

Điều này khiến tôi bực mình. Sao con người không thể để con người được yên? Sao cứ cần phải cải đạo những kẻ như tôi?

Không, tôi không muốn quỳ xuống cầu nguyện với một người theo phái Giám lý. Thậm chí tôi không muốn đi dự thánh lễ hay xưng tội hay gì gì khác, khi tôi có thể lên kia, tản bộ trên boong, ngồi ghế ngắm nhìn chân trời nhấp nhô.

Ối, thây kệ, tôi nói rồi vừa tắm vừa nghĩ đến những chân trời. Tôi nghĩ chân trời thú vị hơn con người. Chúng không làm phiền những chân trời khác. Khi tôi ra khỏi phòng tắm thì Ted đã đi rồi, đồ đạc được xếp gọn ghẽ trên chiếc giường cá nhân.

Trên boong tàu cô nàng y tá lướt tới, khoát tay một người đàn ông mập lùn tóc hoa râm; y khoác chiếc áo xanh nước biển hai hàng cúc, quanh yết hầu phồng lên một chiếc khăn Ascot màu hồng. Nàng giả vờ không thấy tôi, nhưng tôi nhìn nàng đăm đăm khiến nàng phải khẽ gật đầu chào. Nàng bước qua trước mặt tôi và tôi tự hỏi phải chăng nàng cố tình lắc mông để hành hạ tôi.

Cứ lắc đi. Đây cóc cần.

Nhưng cóc cần thế nào được. Tôi cảm thấy cõi lòng tan nát, vì bị đá ra rìa. Sau ba ngày với nhau sao mụ y tá này lại có thể bỏ tôi mà đi với lão già ít nhất cũng đã sáu mươi? Chẳng lẽ nàng đã quên những lúc cùng tôi ngồi trên giường tu vang trắng? Chẳng lẽ nàng đã quên những lúc tôi kỳ lưng cho nàng trong bồn tắm? Tôi biết phải làm gì đây trong hai ngày trước khi tàu cập bến ở Ireland? Tôi sẽ phải nằm ở giường trên, nghe anh chàng phái Giám lý cầu nguyện và thở dài bên dưới. Nàng y tá đâu thèm quan tâm. Nàng cố tình chạm mặt tôi trên mọi boong tàu để tôi đau khổ, rồi tôi nghĩ về nàng và lão già kia thì tôi kinh tởm khi hình dung thân hình già cỗi nhăn nheo của hắn nằm sát bên nàng.

Hai ngày kế tiếp bầu trời trên đại đương vần vũ. Tôi đứng tựa thành tàu, chỉ muốn nhảy phứt xuống Đại Tây Dương, xuống tận đáy với những chiếc tàu chìm trong Thế chiến, tàu chiến, tàu ngầm, tàu khu trục, tàu hàng và tự hỏi không biết có chiếc tàu sân bay nào từng bị chìm chưa. Tôi quên nỗi khốn khổ của mình được một lúc khi nghĩ đến những chiếc tàu sân bay và những xác người vật vờ dưới đáy biển sâu, va vào các vách khoang tàu. Nhưng nỗi khốn khổ kia quay trở lại. Khi ta chẳng có gì để làm ngoài chuyện lang thang trên tàu, thỉnh thoảng gặp cô y tá đã cùng ta chung chạ ba ngày giờ đây lại cặp kè với một lão già mặc áo hai hàng cúc thì ta có khuynh hướng nghĩ mình kém cỏi chẳng ra thớ gì. Nếu tôi nhảy xuống Đại Tây Dương thì có thể sẽ khiến nàng phải trăn trở đấy, nhưng chẳng ích gì cho tôi vì lúc ấy tôi còn biết gì nữa đâu.

Tôi đứng bên thành con tàu đang trôi về đời mình, thấy mình quả là một thằng hèn. (Đó là một trong những từ tôi thích nhất lúc bấy giờ và nó đúng.) Thằng hèn. Từ ngày đến New York cho tới hôm nay đứng trên con tàu Queen Elizabeth này tôi chẳng làm gì khác hơn là vật vờ đến hết việc này qua việc nọ: di dân, làm những việc qua ngày, rượu chè ở Đức và New York, chạy theo đàn bà, học nhăng nhít bốn năm ở trường Đại học New York, hết dạy trường này lại nhảy qua trường khác, lấy vợ và cứ mong còn độc thân, rồi lại say sưa, bế tắc trong nghề dạy học, đáp tàu đi Ireland với niềm hy vọng rằng đời mình rồi sẽ khấm khá hơn.

Ước gì tôi có thể là một người trong những nhóm du lịch vui vẻ kia, trên đất liền hay trên biển cả, chơi bóng bàn hay bài Shuffleboard, rồi đi uống vài ly và làm những gì khác nữa, nhưng tôi lại chẳng có tài cán gì. Tôi thử tới thử lui trong đầu. Ô, xin chào, tôi sẽ nói với họ. Quý vị khỏe không? Họ sẽ trả lời: Cám ơn, khỏe, nhân tiện ông uống với chúng tôi nhé? Tôi sẽ đáp: Tại sao không? với vẻ rất vô tư. (Đây lại là một trong những từ tôi thích hồi đó, vì tôi muốn được như thế thật và vì tôi thích nghe thanh âm của từ này.) Sau vài ba ly chắc tôi sẽ vô tư thật. Với vẻ duyên dáng Ireland, tôi sẽ là cái đinh của cuộc vui, nhưng tôi không muốn rời xa thành tàu và cái ý tưởng chấm dứt một lần cho yên mọi chuyện.

Con số ba mươi tám mãi luẩn quẩn trong đầu óc tôi. Ông thầy luống tuổi đáp tàu đi Dublin, mà vẫn là sinh viên. Liệu đó có phải cách sống của một kẻ trưởng thành không?

Tôi buộc mình ngồi xuống ghế xếp để họp với chính tôi hầu giải quyết chuyện khủng hoảng diễn ra ở Đại Tây Dương, nhắm mắt để khỏi thấy biển cả và cô y tá. Nhưng tôi không tránh nổi tiếng giày cao gót của nàng kêu lách cách và tiếng cười hô hố của anh Mỹ già thắt khăn Ascot.

Giá tôi có được chút thông minh tối thiểu, chứ không phải chỉ được cái tài sống sót vớ vẩn, tôi đã thử đánh giá lại cuộc đời đau khổ của mình. Nhưng tôi không có tài nội quan. Bao năm xưng tội ở Limerick khiến tôi có thể tự vấn lương tâm chẳng kém một ai. Song đó là chuyện khác. Giáo hội chẳng giúp gì được ở đây cả. Trên chiếc ghế xếp này tôi không dám mạo hiểm vượt qua giáo lý. Dần dà tôi nhận ra rằng mình chẳng hiểu gì hết thảy, cố tìm hiểu mình và nỗi thống khổ của mình chỉ tổ nhức đầu thôi. Một gã đàn ông ba mươi tám tuổi giữa trăm mối ngổn ngang mà không biết phải làm gì. Tôi thật ngu dốt biết bao. Nay tôi nghiệm ra điều này: tôi được khuyến khích trách móc tất cả mọi người (ngoại trừ bản thân mình) về đủ chuyện: cha mẹ, thời thơ ấu khốn khổ, Giáo hội, người Anh.

Ở New York người ta, nhất là Alberta, bảo tôi: Anh cần được giúp đỡ. Tôi hiểu ý họ muốn nói: Đầu óc anh không được ổn đấy. Phải đi khám bác sĩ tâm thần thôi.

Nàng dai như đỉa. Nàng bảo thật khó sống nổi với tôi, nàng lấy giờ khám cho tôi ở một nhà phân tâm học trên đ East Ninety-sixth, nơi có nhiều phòng mạch của các bác sĩ tâm thần. Tên ông ta là Henry. Tôi bị hố khi bảo rằng trông ông ta giống Jeeves. Ông ta hỏi: Jeeves là ai? và không hài lòng khi tôi kể về nhân vật này của P.G. Wodehouse. Ông ta nhướng mày giống y tay Jeeves và tôi thấy mình như một thằng điên. Vả lại tôi chẳng biết mình có chuyện gì ở phòng mạch này. Qua những lớp tâm lý ở Đại học New York tôi được biết rằng tinh thần con người ta gồm nhiều phần khác nhau: ý thức, vô thức, tiềm thức, cái Tôi, bản năng vô thức, dục tình và có thể còn vài ngóc ngách nữa là nơi lũ quỷ ẩn náu. Đó là phạm vi hiểu biết của tôi, nếu có thể gọi đó là hiểu biết. Rồi tôi thắc mắc sao lại phải trả đồng tiền mình đổ mồ hôi sôi nước mắt mới kiếm nổi để ngồi đối diện người đàn ông đang ghi nguệch ngoạc vào một quyển sổ đặt ngang cằm, thỉnh thoảng dừng lại đăm đăm nhìn tôi như thể tôi là một giống người quái lạ.

Họa hoằn lắm ông ta mới lên tiếng, khiến tôi cảm thấy phải lấp những khoảng trống yên lặng, bằng không hai chúng tôi sẽ chỉ ngồi đó trố mắt nhìn nhau. Ông ta cũng chẳng buồn hỏi: Ông thấy chuyện ấy thế nào? như người ta vẫn hỏi trong phim. Khi ông ta gập quyển sổ lại thì tôi biết là xong rồi, đến giờ trả tiền cho ông ta. Lần đầu tiên ông ta bảo sẽ không tính trọn tiền thù lao đâu. Tôi được bớt vì là thầy giáo nghèo. Tôi muốn trả lời rằng tôi không cần được cứu tế, nhưng lại thôi vì tôi hiếm khi nói ra những điều mình nghĩ.

Cách tiếp bệnh nhân của ông ta khiến tôi cảm thấy khó chịu. Ông ta bước vào phòng bệnh nhân ngồi chờ rồi đứng lại. Đó là dấu hiệu để tôi đứng dậy vào phòng khám. Ông ta không bao giờ bắt tay, không bao giờ chào hỏi. Tôi thắc mắc chẳng lẽ nhiệm vụ của tôi là chào hỏi hay chìa tay ra để ông ta bắt và nếu tôi làm như thế thì ông ta sẽ xét đoán tôi ra sao. Liệu ông ta có cho rằng tôi làm thế vì cảm thấy hết sức tự ti? Tôi không muốn cung cấp cho ông ta lý lẽ để bảo tôi điên như một vài vị tiền bối trong dòng họ của tôi. Tôi muốn gây ấn tượng với ông ta qua vẻ thờ ơ, qua sự đối đáp lôgich và, nếu có thể, qua tài dí dỏm của mình.

Lần đầu tiên ông ta quan sát trong lúc tôi cân nhắc nên cư xử thế nào. Liệu khám thế này có giống một kiểu xưng tội không? hay lục vấn lương tâm? Tôi nên ngồi lên chiếc ghế cao kia hay nằm trên sofa như vẫn thường thấy trong phim? Ngồi ghế thì tôi sẽ phải nhìn mặt ông ta năm mươi phút, còn nếu nằm dài trên sofa thì tôi có thể nhìn lên trần, tránh đôi mắt ông ta. Rút cục tôi ngồi ghế, ông ta cũng ngồi ghế và tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì không thấy có nét bực bội nào trên mặt ông ta.

Sau đôi ba lần khám, tôi muốn bỏ quách, ra một cái quán trên Third Avenue làm chầu bia xế trưa cho thoải mái. Nhưng tôi không dám hay không đủ, chưa đủ, nổi nóng. Hết tuần này qua tuần khác tôi ngồi nói lảm nhảm trên ghế, có khi một tuần hai lần vì, ông ta bảo, tôi cần được theo dõi đều đặn hơn. Tôi muốn hỏi tại sao, nhưng rồi chớm hiểu rằng phương pháp của ông ta là khiến tôi tự tìm ra câu trả lời. Nếu thế thật, tôi tự hỏi, Việc gì tôi phải trả ông ta tiền? Sao tôi không thể ngồi trong Central Park ngắm nhìn cây cối với lũ sóc, chờ những vấn đề của mình tự lộ ra? Hoặc sao tôi không thể ngồi trong một quán nước, uống vài ly bia, quán chiếu nội tâm, kiểm nghiệm lương tâm mình? Sẽ tiết kiệm được hàng trăm đô la. Tôi muốn hỏi thẳng rằng: Thưa bác sĩ, tôi bị gì thế ạ? Sao tôi lại ở đây? Tôi muốn có được sự chẩn bệnh tương xứng với số tiền tôi trả ông, không ít, dù đã được ông bớt cho vì là thầy giáo nghèo. Nếu ông cho biết tên bệnh thì tôi có thể tìm hiểu rồi xem cần chữa thế nào. Tôi đâu thể đến đây tuần này qua tuần khác lảm nhảm về đời mình mà không biết đang nói về khúc đầu, khúc giữa hay khúc cuối.

Tôi đâu thể nói với ông ta như thế được. Tôi đâu được dạy dỗ kiểu ấy. Làm thế thì tôi thành bất lịch sự còn ông ta có thể thấy bị xúc phạm. Tôi muốn mình trông tử tế, chứ không muốn ông ta thương hại. Chắc chắn ông ta sẽ thấy tôi là người biết suy nghĩ, đầu óc quân bình, dù cuộc sống vợ chồng có vấn đề và tôi không có mục tiêu cụ thể trong thế giới này.

Ông ta không ngừng viết nguệch ngoạc vào quyển sổ và, tuy ông ta không để lộ ra, tôi biết ông ta rất khoái thời gian trị bệnh cho tôi. Tôi kể cho ông ta về quãng đời bên Ireland và trong lớp. Tôi cố gắng kể thật sống động và vui, để ông ta vững tâm rằng với tôi mọi sự đều ổn cả. Dù sao chăng nữa, tôi không muốn làm ông ta phải bối rối. Nhưng nếu mọi chuyện ổn cả thì tôi ở đây để làm gì mới được chứ? Tôi muốn ông ta trả lời, dù chỉ nhếch mép hay một từ cộc lốc thôi cũng được, để tỏ rằng ông ta trân trọng nỗ lực của tôi. Chẳng gì hết. Ông ta đã thắng. Ông ta đã thắng.

Rồi ông ta làm tôi giật mình. Ông ta nói: À há, rồi bỏ quyển sổ trên lòng, nhìn tôi đăm đăm. Tôi hoảng quá không nói nổi. Tôi đã nói gì khiến ông ta "à há"?

Tôi nghĩ rằng ông đào trúng mỏ vàng rồi đấy, ông ta nói.

Ô, lại trúng mỏ vàng lần nữa. Ông chủ nhiệm hoa ở trường Trung học Kỹ nghệ Thời trang đã khen tôi trúng mỏ vàng lần tôi giảng bài về các thành phần của câu.

Trước khi ông ta "à há" tôi chỉ nói rằng ngoài giờ dạy ở các trường trung học ra tôi là người nhút nhát, không hay tiếp xúc. Trong một nhóm người tôi hầu như không mở miệng trừ khi đã uống vài ba ly, không như vợ hay em trai tôi. Họ chẳng ngại gặp và trò chuyện rôm rả với bất cứ ai. Mỏ vàng đấy.

À há xong, ông ta hừm: Tham gia một nhóm người có thể đem lại ích lợi cho ông. Nếu ông quan hệ tương tác với những người cùng nhóm thì có thể sẽ là bước khởi đầu được đấy. Ở đây chúng tôi có một nhóm nhỏ. Nếu ông đồng ý thì ông sẽ là số sáu.

Tôi không muốn là số sáu. Tôi không biết quan hệ tương tác nghĩa là gì. Mà dù nghĩa là gì đi nữa thì tôi không muốn tham gia. Làm cách nào để ông ta hiểu rằng theo tôi thì việc này chỉ phí thì giờ và tiền bạc? Dẫu sao thì tôi vẫn phải lễ độ. Sáu tuần ngồi ghế này làm nhảm khiến tôi khốn khổ hơn bao giờ hết. Bao giờ tôi mới có thể ung dung gặp gỡ và chuyện phiếm với mọi người dễ dàng như Alberta và Malachy?

Nhà tôi bảo rằng đây là một ý kiến hay, cho dù mỗi tuần sẽ phải tốn nhiều hơn. Nàng bảo rằng tôi thiếu đôi chút kinh nghiệm giao tế, tôi hơi thô lỗ, nhóm sinh hoạt này có thể giúp tôi vượt được yếu kém của mình.

Chuyện này đã làm chúng tôi cãi nhau mấy tiếng đồng hồ. Nàng là ai mà dám bảo tôi thô lỗ như mấy tay Ireland mới chân ướt chân ráo xuống tàu, giày còn nhem nhép bùn? Tôi bảo nàng rằng tôi sẽ không bỏ ra hàng giờ với đám New York điên khùng ca cẩm về cuộc đời và phô trương những chuyện bí mật riêng tư. Hồi nhỏ tôi đã phải thì thầm vào tai các ông cố đạo về tội lỗi của tôi khiến các ông ngáp dài bắt tôi hứa không tái phạm để khỏi xúc phạm đến Chúa Jesus khốn khổ đang phải chịu đau đớn trên thập tự giá cứu chuộc tội lỗi của tôi, thế là quá đủ. Nay nàng và lão phân tâm học lại muốn tôi tiết lộ thêm nữa. Không.

Nàng bảo nàng phát ốm vì phải nghe chuyện thuở bé khốn khổ của tôi, một đứa trẻ Công giáo. Tôi không trách nàng. Tôi cũng mệt vì thời thơ ấu khốn khổ của mình đấy chứ, mệt vì nó đeo đuổi tôi qua Đại Tây Dương, không ngừng mè nheo đòi tôi kể cho mọi người biết. Alberta nói nếu tôi không chịu tiếp tục chữa chạy thì tôi sẽ gặp khó khăn lắm đấy.

Chữa chạy à? Em muốn nói chữa chạy cái gì?

Thì cái anh đang chữa chạy đấy, và nếu anh không kiên trì đến cùng thì vợ chồng mình phải chia tay.

Nghe hấp dẫn quá. Nếu độc thân trở lại thì tôi tha hồ nhởn nhơ khu Manhattan. Tôi có thể nói: Được lắm. Vợ chồng chia tay thì cứ chia tay. Nhưng tôi lặng thinh. Ngay cả nếu tôi độc thân thì có người đàn bà đầu óc lành mạnh nào lại thèm lấy tôi, một tay nhà giáo thô lỗ, sống không mục đích, tiết lộ đời mình cho một lão Jeeves trên đường East Ninety-sixth? Tôi nghĩ tới câu châm ngôn Ireland "Bất hòa hơn là cô đơn" nên đã ở lại.

Những người trong nhóm này kể nhiều chuyện động trời. Họ nói về quan hệ tình dục với bố mẹ, anh chị em, với các chú bác tới nhà thăm, với một giáo sĩ Do Thái, với một con chó lông xù Ireland, với một cái lọ đựng gan gà, với một người thợ tới sửa tủ lạnh - luôn mấy ngày, quần áo hắn quẳng bừa trên sàn bếp. Những chuyện này lẽ ra cùng lắm chỉ tiết lộ cho cha cố, nhưng nhóm này không ngại kể những điều bí mật của mình cho mọi người. Tôi cũng biết chút ít về sex. Tôi từng đọc Kama Sutra [115] , Người tình của công nương Chatterly Một trăm hai mươi ngày ở Sodom của Marquis de Sade, song theo tôi thì đó cũng chỉ là sách thôi và toàn là do các tác giả tưởng tượng cả. Nếu ngồi trong nhóm này thì D.H. Lawrence, thậm chí cả Marquis de Sade cũng sẽ bị rúng động.

Chúng tôi ngồi theo hình bán nguyệt, Henry ngồi đối diện không ngừng ghi chép vào quyển sổ, chốc chốc lại gật đầu. Một ngày nọ cả nhóm im phăng phắc sau khi một gã kể rằng ngày ngày vẫn đi lễ, nhận bánh thánh đem về nhà để thủ dâm. Gã nói đó là cách gã cắt đứt mọi liên hệ với Giáo hội Công giáo La Mã, gã khoái nên cứ làm hoài. Gã biết trên đời này sẽ chẳng có ông cố đạo nào chịu làm phép giải cho gã cái tội phạm thượng nhường ấy.

Đó là lần sinh hoạt thứ tư của tôi trong nhóm, cho đến lúc đó tôi chưa hề nói một lời. Lúc ấy tôi chỉ muốn đứng lên bỏ ra ngoài. Tuy chẳng còn Công giáo gì mấy, nhưng tôi không bao giờ lại nghĩ đến chuyện dùng bánh thánh để thỏa mãn tình dục cho mình. Sao gã không rút quách ra khỏi Giáo hội, rồi muốn làm gì thì làm?

Henry biết tôi đang nghĩ gì. Ông ta ngừng ghi chép, hỏi tôi có điều gì muốn nói với gã kia không và tôi thấy mặt mình như bị bỏng rát. Tôi lắc đầu. Một người đàn bà tóc hoe đỏ bảo: Nói đi mà. Anh đã tham dự bốn lần rồi mà chưa hé môi được một lời nào. Sao tụi tôi cứ phải phơi bày hết mọi chuyện riêng tư để rồi lần nào anh cũng len lén chuồn đi kể những chuyện bí mật của tụi tôi cho các bạn nhậu của anh trong quán rượu?

Gã bánh thánh nói: Đúng vậy, tôi đã tự bêu riếu mình rồi, cha nội ơi, nên tụi tôi muốn được nghe chuyện của anh. Anh tính sao đây? Anh định cứ ngồi ì ra đó còn tụi tôi làm mọi việc hay sao chứ?

Henry hỏi Irma, cô nàng ngồi bên trái tôi, nghĩ gì về tôi, tôi ngạc nhiên vì cô nàng nắn vai tôi rồi nói cảm thấy tôi toát ra sức mạnh. Cô nàng nói muốn được học trong lớp của tôi, rằng tôi hẳn phải là một thầy giáo giỏi.

Anh nghe chứ, Frank? Henry hỏi. Sức mạnh.

Tôi biết họ đang chờ tôi nói gì đấy. Tôi thấy mình cũng phải tham gia thôi. Hồi ở đức có lần tôi ngủ với một ả điếm, tôi nói.

A, được đấy, người đàn bà tóc hoe đỏ nói. Hãy ghi nhận rằng anh ta có thiện chí.

Hay lắm, gã bánh thánh nói.

Kể tụi tôi nghe chuyện ấy đi, Irma nói.

Tôi lên giường với ả.

Thế à? Người đàn bà tóc hoe đỏ hỏi.

Chỉ có vậy thôi. Tôi lên giường với ả. Tôi trả cho ả bốn Mark.

Henry cứu tôi. Hết giờ rồi. Tuần tới ta gặp lại.

Tôi không trở lại đó nữa. Tôi nghĩ có thể ông ta sẽ gọi điện thoại hỏi sao tôi bỏ ngang, nhưng Alberta bảo rằng họ không được làm thế. Anh phải tự quyết định thôi, nếu anh không trở lại có nghĩa là bệnh anh nặng hơn rồi. Nàng bảo bác sĩ chỉ có thể làm được đến mức đó thôi, nếu anh cứ liều lĩnh không chịu chữa chạy bệnh tâm thần của mình thì đầu anh sẽ nhuốm máu anh đấy.

Em nói sao?

Em dẫn Kinh Thánh [116] đấy.

Tôi rời văn phòng giáo sư Walton, chủ nhiệm khoa Anh văn của Trinity College. Ông bảo: Được, được chứ, về chuyện tôi xin làm luận án tiến sĩ và: Được, được chứ, về đề tài của luận án "Quan hệ văn hóa giữa Ireland và Mỹ, từ 1889 đến 1911". Sao ông lại chọn những mốc thời gian này? Vì năm 1889 William Butler Yeats xuất bản quyển thơ đầu tiên của ông ta và năm 1911, ở Philadelphia các diễn viên đoàn kịch Abbey Theater đã bị khán giả ném tới tấp đủ thứ lên đầu sau buổi trình diễn vở The playboy of the Western World . Giáo sư Walton bảo rằng: Được lắm. Người hướng dẫn tôi, ông nói, sẽ là giáo sư Brendan Kenneally, một nhà thơ trẻ tài ba kiêm học giả, người hạt Kerry. Bây giờ tôi chính thức là sinh viên trường Trinity, nghĩa là tôi trở thành một nhân trác tuyệt thơ thẩn trong những giảng đường xây bằng đá hoa cương. Tôi thử đi ra ngoài bằng cổng trước y như một kẻ vẫn quen vào ra cổng này. Tôi đi thật chậm để những du khách Mỹ nhìn thấy tôi. Về Minneapolis hẳn họ sẽ kể với mọi người thân quen rằng đã trông thấy tận mắt một sinh viên Trinity chính cống yêu đời.

Khi được nhận làm luận án tiến sĩ ở Trinity thì ta rất nên ăn mừng bằng cách đi dọc đường Grafton tới quán McDaid’s, nơi trước đây đã lâu ta từng ngồi với cô nàng Mary của quán Bewley’s. Một người đàn ông đứng quầy hỏi: Từ Mỹ qua, phải không? Sao hắn lại biết nhỉ? Chắc tại quần áo của tôi rồi. Thiên hạ luôn nhận ra dân Mẽo qua quần áo của họ mà, hắn nói. Thấy hắn dễ mến nên tôi đã kể về trường Trinity, về giấc mơ nay đã thành sự thật của tôi. Hắn liền tỏ ra thù địch ngay. Chay-dớt , hôm nay là cái ngày buồn thản như c… nên anh mới phải tới Dublin để vào học cái trường đại học như c… ấy. Chẳng lẽ bên Mỹ không có cả vạn trường như thế này ư, hay họ không thèm nhận anh, hay anh là một tên Tin lành khốn kiếp, hở?

Hắn giễu hay sao chứ? Tôi sẽ phải làm quen với cung cách của đàn ông Dublin mới được.

Tôi mơ hồ nhớ ra rằng mình là kẻ ngoài cuộc, là người nước ngoài, một tên Mẽo trở về cố hương, hơn nữa lại gốc gác ở Limerick. Tôi cứ nghĩ là mình trở về như một người hùng chiến thắng, một tên Mẽo về quê hương với bằng đại học, cử nhân và thạc sĩ, một kẻ sống sót nổi qua gần mười năm dạy các trường trung học ở New York. Tôi nhầm tưởng rằng mình sẽ thích hợp với không khí ấm cúng trong những quán rượu Dublin. Tôi cứ tưởng rằng mình sẽ giao du trong một nhóm văn học trí tuệ trác tuyệt mà những học giả Mỹ chỉ được lảng vảng bên lề sẽ truyền từng lời dí dỏm của tôi về Mỹ cho giới hàn lâm và họ sẽ mời tôi thuyết trình về văn học Ireland cho các nữ sinh viên hấp dẫn không cưỡng nổi tại Vassar và Sarah Lawrence.

Nhưng làm gì có. Nếu có một nhóm như thế thì tôi chẳng bao giờ được là thành viên của nó. Chỉ lảng vảng bên lề thôi.

Tôi ở Dublin hai năm. Căn phòng đầu tiên của tôi ở tại Seaview Terrace, không xa đường Ailesbury, nơi Anthony Trollope từng cư ngụ thời ông làm thanh tra bưu điện cưỡi ngựa đi khắp Ireland và mỗi sáng viết ba nghìn từ. Bà chủ nhà của tôi bảo rằng hồn tôi vẫn còn quanh quất nơi đây và bà chắc chắn rằng trong tường nhà cũ của ông có giấu bản thảo một quyển tiểu thuyết nổi tiếng. Tôi biết hồn ông Trollope vẫn ở trong ngôi nhà này, vì khi ông đi dạo quanh nhà giữa canh khuya thì lớp mỡ quanh món trứng chiên với thịt xông khói của tôi bỗng dưng đặc lại. Tôi mò mẫm khắp phòng tìm tập bản thảo kia, cho đến khi hàng xóm than phiền vì tôi cứ gõ vào tường suốt ngày suốt đêm. Tôi tiến chật vật ở Dublin. Sáng nào tôi cũng đều rất quyết tâm. Tôi uống cà phê tại quán Bewley’s rồi làm việc tại Thư viện Quốc gia hay Thư viện trường Trinity. Trưa tới tôi tự bảo mình đói rồi đấy, rồi lững thững tới một trong những quán gần đó như Neary’s, McDaid’s hay Bailey ăn một ổ bánh mì kẹp. Bánh mì kẹp cần một pint bia mới nuốt trôi được, người ta hay đùa rằng lũ chim không thể nào bay nổi nếu chỉ có một cánh. Một pint bia nữa khiến lưỡi tôi mềm hơn, giúp tôi chuyện gẫu được với những thực khách khác, chẳng mấy chốc tôi cảm thấy thật vui. Khi các quán bia đóng cửa vào giờ nghỉ trưa thiêng liêng thì tôi lại tới quán Bewley’s uống cà phê. Toàn là trì hoãn. Nhiều tuần lễ trôi qua mà chuyện nghiên cứu của tôi về quan hệ văn học Ireland-Mỹ vẫn chưa đi tới đâu. Tôi tự bảo mình là một kẻ ngu dốt, chẳng biết gì về văn học Mỹ và chỉ biết vụn vặt về văn học Ireland. Tôi cần có kiến thức cơ bản, nghĩa là phải đọc lịch sử của hai nước này. Khi đọc lịch sử Ireland tôi ghi vào thẻ mọi tài liệu tham khảo về nước Mỹ. Khi đọc lịch sử Mỹ tôi ghi vào mọi thẻ tài liệu tham khảo về Ireland.

Đọc lịch sử thôi chưa đủ. Tôi còn phải đọc những tác giả quan trọng, phát hiện xem họ ảnh hưởng thế nào đến các đồng nghiệp bên kia Đại Tây Dương và ngược lại. Chắc chắn Yeats có kết giao với các đồng nghiệp Mỹ và ảnh hưởng trên họ. Chắc chắn Edmund Downden ở Trinity College từng là một trong những người Âu đầu tiên đã bênh vực Walt Whitman, nhưng tôi sẽ làm gì với những chi tiết này? Tôi nên viết gì? Với lại tốn công sức thế này mà có ai thèm liếc mắt qua không chứ?

Tôi có thêm những phát hiện khác nữa, tôi lần theo những dấu vết xa hơn cả thời của thuyết tiên nghiệm ở Mỹ và thời văn học phục sinh ở Ireland. Ở đây có những bài tường thuật về những người Ireland đã cuốc, đào, chiến đấu và ca hát khi tham gia xây kênh Erie, làm đường xe lửa Union Pacific và tham chiến trong cuộc Nội chiến Mỹ. Họ tham gia cả hai phe đối địch; những người Ireland thường đánh lại chính anh em và bà con của họ. Chừng như nơi nào có chiến tranh cũng đều có người Ireland chiến đấu cho cả hai phía, ngay cả ở Ireland. Hồi học ở Limerick chúng tôi nghe mãi những chuyện buồn lê thê về nỗi thống khổ mà nước Ireland phải chịu dưới ách thống trị của bọn Saxon, nhưng không hề được nghe kể về những người Ireland đã xây dựng, chiến đấu và ca hát trên đất Mỹ. Giờ đây tôi đọc về âm nhạc Ireland ở Mỹ, về thế lực và tài năng của người Ireland trong nền chính trị Mỹ, những thành tích chói lọi của trung đoàn Fighting 69 [117] , của hàng triệu người đã mở đường cho John F.Kennedy [118] được vào ngồi trong Phòng bầu dục [119] . Tôi đọc những bài tường thuật về việc bọn Mẽo đê tiện đã kỳ thị người Ireland trên khắp New England như thế nào và người Ireland đã chống lại để trở thành những thị trưởng, thống đốc, chủ tịch Đảng ra sao.

Tôi có một chồng thẻ riêng cho lịch sử người Ireland trên đất Mỹ, nhiều hơn chồng thẻ về quan hệ văn hóa. Chúng đủ để giữ tôi khỏi bén mảng tới các quán rượu vào những giờ ăn trưa, song cũng đủ đẻ giữ tôi khỏi công việc lẽ ra tôi phải làm về quan hệ văn hóa giữa Ireland và Mỹ.

Liệu tôi có đổi được đề tài luận án không nhỉ? Liệu trường Trinity có cho phép tôi đưa ra vài khía cạnh về người Ireland trên đất Mỹ, về vai trò của họ trong chính trị, âm nhạc, quân sự, sinh hoạt giải trí?

Giáo sư Walton bảo rằng trong khoa Anh văn thì điều này không thể được. Có vẻ tôi thiên về lịch sử, việc này cần được khoa Sử chấp thuận. Ông không nghĩ là sẽ được vì tôi không có kiến thức cơ bản về lịch sử. Một năm của tôi ở Trinity đã qua rồi, chỉ còn một năm nữa thôi để hoàn thành luận án về quan hệ văn hóa giữa Ireland và Mỹ. Giáo sư nói tôi phải có quyết tâm sắt đá mới được.

Làm sao tôi có thể thú nhận với nhà tôi ở New York rằng tôi đã phung phí một năm trời để khảo sát những đường bào và những nền đường sắt trong lịch sử Ireland và Mỹ, trong khi lẽ ra tôi phải mở mang kiến thức về văn học?

Tôi nán lại Dublin, miễn cưỡng nặn ra một thứ tạm gọi là luận án. Nếu lúc ăn trưa tôi có ra quán làm một pint bia cho tỉnh táo thì sau đó chắc chắn tôi sẽ có được cái nhìn thấu đáo hơn, cảm hứng sẽ lóe lên trong đầu óc. Chắc chắn. Tiền của tôi chạy qua phía bên kia quầy rượu. Pint bia chạy theo chiều ngược lại. Còn chẳng thấy chút cảm hứng nào.

Tôi ngồi trên băng ghế trong công viên St. Stephen’s Green, thèm khát những cô gái làm việc trong các văn phòng ở Dublin. Họ có chịu bỏ việc theo tôi tới Coney Island, Far Rockaway, Hamptons không?

Tôi ngắm những con vịt bơi lội trong hồ mà ganh tị với chúng. Chúng chỉ phải làm cái chuyện kêu quác quác, bơi lội và há mỏ đớp mồi. Chúng đâu cần lo lắng về cái luận án đang làm tôi chết dở. Sao tôi lại dính vào cái chuyện này chứ? Sự thể như thế nào? Chúa ơi! Lẽ ra tôi có thể ở lại New York, hài lòng với số phận của mình, ngày ngày dạy năm lớp rồi về nhà, uống một chai bia, đi xem phim, đọc sách, thì thầm tán tỉnh vợ rồi lên giường.

Nhưng mà không. Thằng Frankie nhóc tì thò lò mũi ở khu xóm nghèo ở Limerick lại định chơi trội cơ, muốn leo lên cao trên bậc thang xã hội cơ, muốn chen chân vào đám người tầng lớp khá giả cỡ Trinity College cơ.

Thành ra chú mày phải lãnh đủ vì tham vọng đáng khinh của chú mày, Frankie ạ. Sao không chạy ngay ra phố mua lấy cái khăn quàng của trường Trinity? Biết đâu nó sẽ làm cho chú mày lên tinh thần, giúp chú mày viết được một công trình khảo cứu vĩ đại độc đáo về quan hệ văn học giữa Ireland và Mỹ từ năm 1889 đến 1911.

Có một thứ động thái gọi là “trấn tĩnh lại”. Tôi cố thử nhưng làm quái gì có tĩnh để mà trấn?

Năm thứ hai ở Dublin chầm chậm trôi qua. Tôi không thấy thoải mái. Tôi không có cá tính lẫn tự tin để chen vai thích cánh vào một nhóm nào đấy, trở thành giống những gã trong nhóm, đãi một chầu rượu và buông ra những lời bình phẩm dí dỏm mà người ta bảo rằng thường nghe thấy tại các quán rượu ở Ireland.

Tôi ngồi trong thư viện làm phong phú thêm chồng thẻ cao nghệu của mình. Uống rượu chỉ làm đầu óc tôi mụ mị thêm. Tôi đi bộ thật lâu quanh thành phố, xuôi đường này, ngược đường kia. Tôi gặp một người đàn bà, một người Tin lành, và chúng tôi ngủ với nhau. Nàng yêu tôi, mà tôi không rõ tại sao.

Tôi lang thang trên đường phố Dublin tìm cửa vào. Tôi nhận thấy rằng thành phố nào cũng đều có một lối vào cho người ngoài và du khách. Ở New York, đối với tôi, đó là các trường học, các quán nước và tình bạn. Ở Dublin không có cửa nào cho tôi. Cuối cùng tôi phải thú nhận mình thiếu vắng gì: thiếu vắng New York. Mới đầu tôi không chấp nhận cảm giác này. Xéo đi. Để tôi yên. Tôi yêu Dublin. Hãy nhìn vào lịch sử: mỗi con đường đều đầy ắp quá khứ. Ngay từ nhỏ ở Limerick tôi đã mơ về Dublin. Phải rồi, nhưng mà, phải rồi, nhưng mà, hẳn ông dượng Pa Keating của tôi sẽ nói thế này: Cháu sắp bốn mươi rồi đấy, đã tới lúc hoặc ị hoặc xuống khỏi bồn xí.

Trước khi tôi rời Trinity, giáo sư Walton liếc nhìn đống thẻ của tôi rồi kêu: Trời đất ơi!

Tháng Giêng năm 1971 tôi trở về New York, bỏ dở luận án tiến sĩ. Alberta có thai. Chuyện này xảy ra vào mùa hè trước, khi chúng tôi đi nghỉ hai tuần ở Nantucket. Tôi bảo rằng tôi có thể tiếp tục nghiên cứu ở thư viện đường Forty-second ở New York. Nàng rất ấn tượng trước cái túi đầy những thẻ của tôi, nhưng muốn biết để dùng vào chuyện gì.

Mỗi thứ Bảy tôi ngồi trong phòng đọc phía Namm của thư viện đường Forty-second. Lẽ ra tôi phải ngồi trong phòng đọc phía Bắc cơ, là nơi dành cho văn học, nhưng vì tôi tìm thấy ở phòng đọc phía Nam thấy quyển Cuộc đời các vị thánh , chúng thu hút quá không lờ nổi. Rồi tôi ngẫu nhiên gặp được những bài tường thuật về việc xây con đường xe lửa xuyên lục địa, chuyện những người thợ Ireland và Trung Hoa đã thi đua từ hai hướng ngược nhau, chuyện cánh Ireland uống rượu hủy hoại sức khỏe, còn cánh Trung Hoa hút thuốc phiện rồi nghỉ ngơi, chuyện cánh Ireland món gì cũng ăn, trong khi cánh Trung Hoa tự nấu nướng những món họ biết và ưa thích, chuyện cánh Trung Hoa chẳng bao giờ hát hò trong lúc làm việc, còn cánh thợ Ireland điên khùng đáng thương ca hát không ngừng, cho dù việc hát hò này chẳng giúp được họ bao nhiêu.

Alberta nghỉ phép chờ ngày sinh nở. Tôi tạm thay nàng ở Seward. Nhưng một tháng sau khi tôi bắt đầu ở trường Trung học Seward Park thì ông hiệu trưởng chết vì đau tìm. Rồi tôi gặp ông hiệu trưởng mới trong thang máy, chính là ông chủ nhiệm khoa đã sa thải tôi khỏi trường Trung học Kỹ nghệ Thời trang. Tôi hỏi: Ông đuổi theo tôi đấy ư? Thấy ông ta mím môi là tôi biết ngay mình sắp mất việc một lần nữa.

Ít tuần sau tôi khóa sổ số phận mình. Trước mặt các thầy cô khác, ông hiệu trưởng hỏi tôi: Thế nào ô McCourt, ông thành cha rồi chứ?

Chưa ạ.

Thế ông thích con trai hay gái?

Ồ, với tôi thì con nào cũng như nhau.

Miễn là nó đừng vô tính, ông ta nói.

Nếu nó vô tính thì tôi sẽ dạy dỗ để lớn lên nó làm hiệu trưởng.

Chỉ ít lâu sau tôi nhận được bức thư nói rằng chỗ làm của tôi là “thừa”, ký tên quyền phó hiệu trưởng Mitchel B. Schulich.

Một kẻ thất bại về mọi mặt, tôi tìm chỗ đứng cho mình trong thế giới này. Tôi trở thành một thầy giáo thay thế lưu động, chạy từ trường này qua trường khác. Các trường trung học thuê tôi, theo từng ngày, dạy thế các thầy bị ốm. Vài trường thuê tôi khi các thầy giáo phải nghỉ dài ngày vì được tòa án gọi làm bồi thẩm đoàn. Tôi dạy Anh văn và mọi bộ môn thiếu giáo viên: sinh vật, nghệ thuật, vật lý, lịch sử, toán. Các thầy dạy thế như tôi trôi nổi đâu đó bên lề thực tại. Ngày nào tôi cũng bị hỏi: Hôm nay ông ai?

Bà Katz.

À há.

Mà đúng tôi là bà Katz hay ông Gordon hay cô Newman thật. Chị không bao giờ là chính tôi thôi. Tôi luôn luôn À há.

Trong lớp tôi chẳng có uy quyền gì. Đôi khi các hiệu phó bảo tôi phải dạy gì đấy, nhưng học trò chẳng thèm nghe và tôi chẳng làm gì được. Những đứa chịu đến lớp coi như tôi không có, chúng tán gẫu, xin ra ngoài, gục đầu trên bàn ngủ gà ngủ gật, phóng tàu bay giấy ôn những môn khác.

Tôi học được cách khiến chúng nản chí không đến lớp nữa: muốn cho lớp học vắng tanh anh chỉ cần mặt mũi cau có đứng trước cửa lớp. Chúng sẽ cho rằng anh hắc ám và chạy ngay. Chỉ có đám học trò người Hoa đến lớp. Hẳn là chúng bị cha mẹ đe nẹt. Chúng ngồi ở cuối lớp, học bài, phớt lờ những lời bóng gió của tôi rằng chúng cũng nên cút cho khuất mắt. Các hiệu trưởng và hiệu phó không hài lòng khi thấy tôi ngồi ở bàn giáo viên đọc báo hay xem sách trong một lớp học gần như vắng tanh. Họ bảo tôi phải dạy học chứ. Tôi được thuê để dạy học mà. Tôi trả lời rằng tôi muốn dạy lắm chứ, nhưng đây là giờ Vật lý mà tôi chỉ có chứng chỉ dạy Anh văn. Họ biết hỏi là vớ vẩn, nhưng là cấp trên nên buộc phải hỏi thôi: Thế học sinh đâu cả rồi? Học trò trường nào cũng đều biết quy luật này: Thấy một ông thầy dạy thay thì hãy cao chạy xa bay.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của frank mccourt