
Bởi vậy, chúng ta phải tháo gỡ cái thứ hiện đang cực kỳ mịt mù rối rắm này.
Thôi, Russell,” một giọng nói cất lên bên tai tôi. “Con mồi chuẩn bị lên đường chạy trốn rồi.” Căn phòng tối om, chỉ có ánh đèn cồn leo lét và tràn ngập mùi cà phê.
Tôi vẫn còn mơ màng trong cơn ngái ngủ.
“Thực ra thì ta sợ ‘con mồi’ bị rượt đuổi căng thẳng này lại chính là chúng ta đấy. Tỉnh dậy nào, ngay bây giờ, và uống tách cà phê của cháu đi. Có lẽ còn rất lâu nữa cháu mới được uống những đồ uống nóng hổi như thế này đấy. Và chuẩn bị quần áo của cháu nữa – nói chung là tất cả những gì có thể giúp cháu ấm áp, ta sẽ mang trả mấy thứ chúng ta mượn từ hàng xóm của cháu. Có khi,” ông ấy nói thêm, “cháu phải mua thêm một chai brandy như thế này nữa, trước khi cô bạn hàng xóm của cháu trở về. Khi trời còn chưa sáng, chúng ta phải nhanh chóng biến khỏi đây.”
Trước khi Holmes quay lại thì tôi đã cải trang thành một cậu trai và cầm đôi giày ống nặng trịch trên tay.
“Cháu sẽ đi chúng khi ra đến cánh cửa ngoài cùng. Bác Thomas thính giấc lắm.”
“Cháu thông thuộc khu nhà này hơn ta, Russell ạ, nhưng ta nghĩ chúng ta sẽ rời khỏi đây theo lối cửa sau. Cái xó xỉnh này của cháu sẽ bị quan sát từ dưới đường lớn đấy.”
Tôi nhấp tách cà phê đang bốc khói nghi ngút và nhăn nhó vì mùi vị của nó.
“Không phải là ông đã không rửa những cái cốc làm thí nghiệm này trước khi pha cà phê đấy chứ? Nó giống mùi lưu huỳnh hôm qua cháu sử dụng quá. Ơn Chúa, may mà cháu đã không làm thí nghiệm với thạch tín.”
“Một lượng nhỏ lưu huỳnh sẽ tốt cho máu đấy.”
“Và làm hỏng hết cà phê nữa.”
“Vậy thì đừng uống nữa. Nhanh lên, Russell, đừng lãng phí thời gian.”
Tôi nốc hết một nửa cốc cà phê rồi đổ phần còn lại vào bồn.
“Có một lối đi khác,” tôi thận trọng đề xuất, “một lối đi có thể tránh được cả đường lớn lẫn con hẻm phía sau, và nếu ai không nghiên cứu tấm bản đồ từ thời Trung cổ của khu vực này thì sẽ không thể nào biết được nó. Nó dẫn đến một cái sân cực kỳ bẩn thỉu,” tôi thêm vào.
“Có vẻ lý tưởng đấy. Và đừng có xao nhãng mà quên mang theo khẩu súng, Russell à. Có thể chúng ta sẽ cần đến nó, và ta thấy chẳng hay ho gì nếu cứ để nó trong ngăn kéo với miếng pho mát kinh khủng của cháu.”
“Ôi Stilton đáng yêu của cháu, nó sắp ăn được rồi. Cháu hy vọng là bác Thomas sẽ thích.”
“Nếu cháu còn đợi nó ‘chín’ hơn nữa thì nó cũng sẽ không ngại ngần việc ăn qua cái khuôn gỗ và chảy xuống sàn nhà đâu.”
“Ông ghen tị với khẩu vị sành điệu của cháu.”
“Vậy nên ta sẽ không có thêm bất cứ bình luận nào nữa. Ra ngoài thôi nào, Russell.”
Chúng tôi lặng lẽ lẻn qua các hành lang để lên căn gác phía trên, tôi lấy cái nạy ổ khóa mở cánh cửa và vào một nơi từng là chỗ ẩn mình của một vị linh mục từ hai trăm năm mươi năm về trước. Sau một hồi loay hoay lần mò trong tầng gác tối tăm, chúng tôi mới trèo lên được cái mái nhà trơn trượt phủ dày hơn năm phân tuyết. Holmes giận dữ rít lên với tôi.
“Cháu có nhầm đường không hả Russell? Chúng ta đã mất gần hai mươi phút trong cái mê cung này rồi đấy. Không còn nhiều thời gian đâu, ta tin là cháu hiểu.”
“Vâng, cháu hiểu. Chúng ta còn một con đường khác nữa, nhưng phải đánh đu giữa nhà cơ. Cháu có thể đợi đến khi cái lưng của ông khỏi hẳn, nếu ông không phiền.” Cái giọng điệu trách móc sắc lẻm trên đầu lưỡi tôi, tôi còn cố đá thêm vài câu nữa rồi mới tập trung vào lộ trình.
[1]
[2]
Cuối cùng chúng tôi cũng tìm thấy khu bãi rác đầy chất thải độc hại với bề mặt hàng thập kỷ phủ trắng phân ngựa, nước thải và vô số những thứ kinh khủng khác. Mùa hè, có lẽ nó còn thử thách sự nhạy bén của khứu giác ngang ngửa với pho mát Stilton của tôi. Chúng tôi nhanh chóng nấp vào chỗ khuất ngay sau cánh cửa, và tôi thì thầm với Holmes.
“Cháu thấy cái bãi rác này tuy an toàn, nhưng có hai khó khăn có thể xảy đến: thứ nhất, có thể sẽ có những kẻ đang nấp ngoài kia theo dõi chúng ta, và thứ hai, khi chúng phát hiện ra chúng ta bỏ trốn, rất có thể chúng sẽ lục tung nơi này lên và tìm dấu chân của chúng ta. Nếu như ông muốn, chúng ta sẽ lại đi trên các mái nhà.”
“Thực lòng, Russell, cháu làm ta thất vọng đấy, sao lại để cho mình bị giới hạn trong những lựa chọn hiển nhiên như vậy nhỉ. Chúng ta không còn thời gian để leo trèo nữa. Bọn chúng sẽ sớm nhận ra là cháu đã trốn thoát, vì vậy trưng ra dấu chân của cháu cũng chẳng hại gì. Chỉ cần không cho chúng thấy dấu chân của ta thôi. Nếu có kẻ theo dõi, hãy dùng khẩu súng của cháu.”
Tôi nuốt nước bọt, đút tay vào túi rồi sải bước một cách kiên quyết vào khu bãi rác rộng bát ngát, cảm thấy biết ơn đôi giày nặng trịch của mình. Tôi quay lại nhìn Holmes đang loạng choạng bước theo những dấu giày của tôi, cái váy của ông ấy được kéo cao lên làm lộ ra cái quần phía dưới. Nếu không phải vì các mối nguy hiểm đang rình rập xung quanh thì chắc hẳn tôi đã bật cười khúc khích trước cảnh tượng đó. Tôi lọt qua cổng với khẩu súng trên tay, nhưng không có ai ở đó, chỉ có những đám bụi đang cuốn tung lên phía mấy thùng rác bẩn thỉu.
Chúng tôi lần theo lối đi duy nhất, rồi băng qua con đường cây cối um tùm dần ra đường chính, một vài khách bộ hành đi trước đã biến tuyết trên mặt đường thành những bãi lầy. Đến đây chúng tôi đã có thể đi sát nhau, Holmes trong bộ dạng của một mụ già tập tễnh, còn tôi trong bộ dạng một thằng con trai nông thôn rụt rè. Bộ váy đen bẩn thỉu và cái áo choàng mà ông ấy mặc hôm qua đã được lộn trái lại thành một bộ váy màu xanh bẩn không kém, và cái nốt ruồi trên cằm ông đã biến mất, thay vào đó là một hàm răng giả với những cái răng sâu gớm ghiếc. Trong mắt tôi thì sự cải trang này cũng không tiến bộ hơn mấy, nhưng chắc chắn sẽ có một vài cặp mắt nhìn xuống cái miệng của ông ấy trước rồi mới nhìn lên khuôn mặt đang lấp ló giữa chiếc mũ và khăn quàng cổ.
“Dừng cái dáng đi của cháu lại, Russell!” Ông ấy nói thầm, nhưng với vẻ rất dữ dội. “Bước chân dài ra, và hãy khuỳnh khuỷu tay thêm một chút. Và vì Chúa, làm ơn bỏ cặp kính của cháu ra, ít nhất cho đến khi chúng ta ra được khỏi thị trấn. Ta không cho phép cháu mắc phải bất cứ sai lầm nào. À, cháu có thể để mũi dãi lòng thòng một chút được không?”
Ngay lập tức tôi lóng ngóng mò mẫm bước đi trong ánh bình minh ảm đạm, thỉnh thoảng suýt ngã khi cố dìu người mẹ già nua của tôi. Lúc trời rạng sáng, chúng tôi đã đứng trên đường Banbury - con đường dần lên phương Bắc.
“Hướng Bắc? Như vậy là sẽ xa London hơn ư? Sẽ là một ngày khá dài đấy.”
“Nhưng an toàn hơn. Để xem cháu có thể thuyết phục người đánh xe ngựa kia cho chúng ta đi nhờ vài dặm không.”
Tôi ngoan ngoãn làm theo, bước xuống đường để chặn người nông dân đang từ thị trấn trở về trên cái xe ngựa trống hoác, “Làm ơn cho mẹ con cháu đi nhờ đến Banbury để bà ấy được gặp đứa cháu mới sinh!”
Người đánh xe ngựa là một người đàn ông ba hoa và nói chuyện luộm thuộm. Chúng tôi phải bịa ra một câu chuyện để tránh bị phát hiện, dù vậy, trước khi bác ta thả chúng tôi xuống Banbury, tôi đã mệt rũ vì phải nhe răng ra cười một cách ngớ ngẩn dưới cái mũ rộng vành và cố gắng để không liếc nhìn bác ta. Ngay khi chiếc xe ngựa đi khỏi, tôi liền quay sang Holmes.
“Lần sau nếu có phải cải trang, thì cháu sẽ cải trang thành một mụ già điếc đặc và ông cứ việc cười với những trò lố bịch này cả tiếng đồng hồ.”
Holmes cười khúc khích và lê bước xuống đường.
*
Phải trải qua một ngày dài mệt mỏi chúng tôi mới đến được London, hai kẻ bộ hành đói lả và lạnh cóng đang cố lê bước trên con đường tít tắp. Chúng tôi, từ Oxford, đã phải đi lên phía Bắc rồi rẽ sang hướng Tây để đến được thành London ở Đông Nam, rồi còn đi bộ lòng vòng qua không biết bao nhiêu dặm đường miền đồng quê để vào được thành phố từ phía Nam, bởi vì con đường Oxford tất yếu sẽ là mục tiêu của những kẻ truy lùng. Từ Banbury đến Broughton Poggs, từ Hungerford đến Guildford, rồi qua Kent và Greenwich; chúng tôi đi bộ, hoặc xe ngựa nông trang, hoặc xe ngựa chở khách, rồi ô tô, và - một lần - trốn tiền vé trên chuyến xe đến London náo nhiệt. Holmes ngồi lặng lẽ, có lẽ vì cái lưng khiến ông ấy vô cùng đau đớn, nhưng tôi không thể làm được gì khác ngoài việc mua một chai brandy và ép ông ấy uống. Nhờ có Mycroft, chúng tôi sẽ tìm được những gì chúng tôi cần.
Chiều muộn, tuyết rơi nhiều hơn, nhưng không quá dày đến mức dòng xe cộ không thể di chuyển được. Khoảng bảy rưỡi, chúng tôi lặng lẽ bước xuống từ chiếc xe buýt công cộng để đến khu phố buôn bán Pali. Từ đây, chỉ cần đi một trăm thước nữa là tới cửa Câu lạc bộ Diogenes, nơi Mycroft Holmes là người sáng lập đồng thời là thành viên ưu tú nhất ở đó.
Holmes moi từ túi ra một mẩu bút chì và một chiếc phong bì bẩn thỉu đã qua sử dụng. Dưới ánh sáng đèn đường, ông chậm chạp viết một vài dòng nguệch ngoạc bằng đôi tay tê cóng. Đôi môi mỏng tím tái trên khuôn mặt xanh xao, dù ông vẫn choàng kín khăn để che đi bộ râu cả ngày chưa cạo.
“Hãy mang cái này đến trước Câu lạc bộ. Họ sẽ không để cháu vào đâu, nhưng họ sẽ mang thư này đến cho Mycroft nếu cháu nói với họ là thư này được gửi đến từ người em họ của ông ấy. Cháu có đồng nửa curon phòng khi họ lưỡng lự chưa? Tốt lắm. Ta sẽ ở lại đây. Còn nữa, Russell, có lẽ cháu nên đeo kính vào.”
Tôi lê những bước chân thật chậm chạp, đôi giày ống đã giúp tôi tránh bị ướt cả ngày hôm nay giờ trở nên nặng nề như hai cục đá. Người gác cửa có vẻ không muốn đưa bức thư lem luốc của tôi đến thành viên cấp cao của Câu lạc bộ, nhưng tôi vẫn kiên trì và chỉ chưa đầy một phút sau, tôi đã được hộ tống vào khu nhà ấm áp bên trong. Kính của tôi nhanh chóng bị mờ đi. Và khi một giọng quát tháo ầm ầm vang lên, “Ta là Mycroft Holmes, em trai ta đang ở đâu?” thì tôi đưa tay chùi kính và hướng về phía người nói. Một dáng hình khổng lồ.
“Thưa ngài, ông ấy đang đợi ngoài kia. Nếu như ngài không phiền, thì ông ấy, à không, chúng tôi, cần một nơi để nghỉ ngơi tối nay và một bữa ăn nóng sốt. Còn nữa,” tôi nói thêm, “có thêm bác sĩ thì càng tốt ạ.”
“Được rồi, ta biết Sherlock bị thương. Bà Hudson đã gọi điện cho ta trong một giọng tường thuật rất sinh động, và bà ấy ắt hẳn đã muốn ta thức dậy ngay để mang bác sĩ Watson đến Sussex nếu như ta không thuyết phục bà ấy rằng sự xuất hiện của chúng ta không phải là tốt, và các bác sĩ vùng Sussex cũng rất đáng tin cậy. Cuối cùng bà Hudson cũng đồng ý. Ta rất ngạc nhiên khi những người bạn của ta ở Sở thông báo rằng Sherlock đã biến mất khỏi bệnh viện. À, mà những vết thương cũng nhẹ thôi, đúng không?”
“Không nhẹ đâu ạ. Những vết thương rất trầm trọng, mặc dù nó không đe dọa đến tính mạng. Ông ấy cần được nghỉ ngơi, ăn uống và yên tĩnh.”
“Nó đang đứng dưới trời lạnh cắt da cắt thịt đúng không?” Mycroft cất cao giọng và sai người mang áo khoác đến, chúng tôi lao nhanh ra con đường ngập tuyết.
“Ông ấy bảo đợi cháu ở kia,” tôi nói, và chỉ về hướng những cột đèn cuối đường.
Người đàn ông đi bên cạnh tôi thật to lớn, nhưng ông ấy bước nhanh một cách đáng kinh ngạc đến chỗ người đàn ông mặc bộ quần áo nhàu nát màu xanh sẫm và đỡ ông ta đứng dậy từ cái sọt đựng hoa quả úp ngược.
“Chào anh, anh Mycroft,” Holmes nói. "Em xin lỗi vì đã làm phiền đến việc đọc sách của anh chỉ vì những chuyện vặt vãnh này, nhưng thật không may là hình như có kẻ đang rắp tâm tiêu diệt cô Russell đây và em. Em nghĩ anh luôn sẵn sàng giúp đỡ em.”
“Sherlock à, chú thật ngu ngốc vì đã không gọi cho tôi sớm hơn. Tôi có thể giúp chú thoát khỏi một ngày dài mệt mỏi như thế này. Chú cũng biết là tôi luôn hứng thú với những vụ án của chú mà, trừ những vụ án có quá nhiều bạo lực, tất nhiên là vậy. Nào, hãy vào nhà đi đã.”
Cặp mắt kính của tôi lại mờ đi khi chúng tôi bước vào tòa nhà đối diện với Câu lạc bộ, thế nên tôi gỡ kính ra và lập tức bị vấp ngã trên bậc cầu thang ngay sau lưng hai anh em Holmes. Khi vào đến phòng, tôi buông rèm xuống rồi thả phịch cái ba lô nặng trĩu xuống sàn nhà và đổ sụp xuống cái ghế bành đặt trước lò sưởi. Mycroft Holmes hình như có sai người mang đến cho tôi một ít đồ ăn và ấn vào tay tôi một thứ đồ uống nóng hổi. Sự ấm áp và việc không phải nhấc chân nhấc tay thật đúng là những niềm hạnh phúc tuyệt vời.
Tôi chắc hẳn đã ngủ quên trên chiếc ghế bành đó, vì một lúc sau tôi giật mình bởi cánh tay Holmes đặt trên vai mình.
“Ta không cho phép cháu ngủ liền hai đêm trên ghế như thế này đâu, Russell. Dậy ăn một chút cùng chúng ta đi.”
Tôi ngượng ngùng đứng dậy và đeo cặp kính phiền phức. “Cháu đi tắm trước được không ạ?” Tôi hỏi, không biết là hỏi ông Mycroft hay Holmes nữa.
“Tất nhiên rồi.” Mycroft đáp lại. Ông ấy dẫn tôi xuống hành lang đến một căn phòng nhỏ có một chiếc ghế sofa. “Đây sẽ là phòng của cháu khi cháu ở đây, cũng như phòng tắm và mọi thứ khác nữa. Ta sẽ mượn một vài đồ dùng của hàng xóm, nếu cháu muốn cất những tư trang cá nhân.” Ông ấy có vẻ hơi ngượng ngùng bởi sự riêng tư khó tránh trong lời đề nghị này, nhưng tôi nói lời cảm ơn ông ấy một cách chân thành, và điều đó khiến ông như trút được gánh nặng. Ông ấy rõ ràng là không quen với việc nắm bắt những nhu cầu của phái nữ, giống như Holmes trong lần đầu tiên bị tôi vấp phải trên sườn đồi.
“Cháu muốn hỏi một việc,” tôi ngập ngừng, và nhận ra sự lo lắng lại xuất hiện trên khuôn mặt to béo của Mycroft. “Những vết thương của ông Holmes... không nên để ông ấy nằm trên ghế bành cả đêm như vậy. Hay để ông ấy ngủ ở đây ạ?”
Khuôn mặt Mycroft giãn ra. “Ồ không, đừng quá lo lắng, cô Russell ạ. Ta có đủ phòng cho cả hai người,” rồi ông ấy chào tôi để chuẩn bị cho bữa tối sắp được dọn ra.
Tôi tắm rửa nhanh chóng rồi khoác vào cái áo choàng màu xanh dày mà tôi thấy được treo sẵn trong tủ quần áo. Tôi tháo những cái kẹp trên đầu, buông thả những lọn tóc xoăn dài rồi háo hức xỏ chân vào đôi dép rơm để đến bàn ăn. Hai người họ đang đợi tôi ở đó.
Khi tôi bước vào căn phòng, ông Mycroft ngay lập tức đẩy cái ghế đang ngồi ra sau, đứng dậy, và bước đến kéo một cái ghế cho tôi. Holmes (giờ đã trở lại với bộ dạng vốn có) nhìn anh trai mình một lúc, rồi nhìn tôi. Ông ấy trải chiếc khăn ăn của mình lên bàn, rồi từ từ đứng dậy, mỉm cười một cách kỳ lạ. Tôi được mời ngồi, ông Mycroft ngồi vào chỗ của ông ấy, rồi Holmes cũng ngồi xuống, nụ cười cố hữu thấp thoáng trên khóe môi. Có lẽ việc tôi trở lại trong hình hài một cô gái khiến ông ấy ngạc nhiên.
Món gà trống thiến quay khá ngon, bánh mì nóng hổi, rượu vang vẫn còn sủi tăm nơi đầu lưỡi. Chúng tôi nói về những chuyện tầm phào rồi kết thúc bữa ăn với một đĩa pho mát, và tôi rất sung sướng khi nhìn thấy một miếng pho mát Stilton. Tôi và ông Mycroft chia đôi miếng pho mát đó, chừa lại cho Holmes một miếng pho mát loại dày. Thật là một bữa ăn mãn nguyện!
“Một cái dạ dày no căng, một cái đầu ngà ngà say, lại còn... một chỗ an toàn để ngủ nữa chứ. Cháu còn đòi hỏi gì hơn đây? Cảm ơn ông, ông Mycroft.” Chúng tôi chuyển đến ngồi trước lò sưởi, Mycroft rót ba ly rượu lớn. Tôi nhìn ly rượu của mình, thầm mơ đến chiếc giường êm ái, rồi khẽ thở dài với Holmes.
“Tối nay ông sẽ gặp bác sĩ chứ, Holmes?”
“Không, không thể được. Chúng sẽ phát hiện ra chúng ta đang trốn ở đây mất.”
“Vậy những người ở Câu lạc bộ thì sao, cả người nấu ăn ở đây nữa? Họ sẽ biết thôi, chắc chắn vậy.”
“Người ở Câu lạc bộ rất kín đáo,” ông Mycroft nói, “và ta đã nói với nhà bếp là ta đang đói cồn cào.”
“Vậy là sẽ không có bác sĩ nào cả, kể cả bác sĩ Watson ư?”
“Đặc biệt là Watson.”
Tôi lại thở dài. “Cháu cho rằng đây là một bài kiểm tra nữa của ông về khả năng sơ cứu cơ bản của cháu, hoặc tương tự thế. Tốt thôi, hãy mang băng gạc cho cháu nào.”
Mycroft đi tìm những đồ dùng cần thiết còn Holmes thì bắt đầu cởi cúc áo.
“Lần này cháu có thể khiến ông xao lãng bằng cách nào đây?” Tôi hỏi với vẻ thông cảm. “Câu chuyện về Moriarty và Reichenbach Falls nhé?”
“Ta không cần đến sự xao lãng nào cả, Russell,” ông ấy nói cộc lốc. “Ta đã nói với cháu rằng một cái đầu mà không điều khiển được những cảm xúc của bản thân thì không còn là một cái đầu theo đúng nghĩa nữa.”
“Cháu biết rõ như thế rồi Holmes ạ,” tôi đáp lại một cách chanh chua. Đập vào mắt tôi là miếng băng gạc đã chuyển sang màu nâu, ngay bên dưới là lớp da với nhiều vết xước và bầm tím. Nhưng chúng có vẻ khá hơn nhiều, duy chỉ một chỗ vẫn còn rúm ró lại bởi những vết khâu, nhức nhói và tấy đỏ.
Tôi nhìn qua chỗ Mycroft, ông ấy vẫn đang lúi húi làm gì đó ở góc phòng. “Ông mang cho cháu một miếng thuốc cao đắp lên chỗ viêm tấy được không, ông Mycroft?”
Trong nửa tiếng sau, tôi giữ chặt miếng cao nóng ran trên lưng Holmes trong khi hai anh em ông cùng xem xét lại những sự kiện về hai vụ tấn công vừa rồi. Holmes để tôi kể nốt phần chuyện của tôi khi ông ấy châm điếu thuốc với đôi tay run run.
“Quả bom đâu rồi?” Mycroft hỏi khi tôi kết thúc câu chuyện.
“Trong cái túi xách của Russell.”
Mycroft lấy nó ra, để nó xuống mặt bàn và chạm nhẹ vào đám dây rợ . “Mai tôi sẽ nhờ một người bạn xem xét thứ này, nhưng có vẻ nó rất giống vật mà chú đã mang về từ vụ tấn công nhà băng Đại lộ phía Tây vài năm trước.”
“Còn một điều nữa, anh biết đấy, em đã đánh dấu cái gã tên Dickson nằm ở cuối danh sách mà chúng ta đang nghi ngờ. Trong thời gian năm năm kể từ khi gã đó được mãn hạn tù, thanh tra Lestrade có thông báo cho em rằng gã đã kết hôn, có được hai đứa con, làm ăn khá thuận lợi với cửa hàng nhạc cụ của ông bố vợ, và rất chăm chút cho gia đình. Khó có thể đưa gã vào diện tình nghi được.
Trong khi nghe Holmes nói, một sự hoài nghi khó chịu bắt đầu len lỏi trong tâm trí tôi. Khi ông ấy dừng lại, tôi buột miệng nói .
“Holmes này, bà Hudson thì đi vắng rồi , nhưng ông có cho rằng chúng ta nên nhắn bác sĩ Watson chuyển vào khách sạn ở khoảng hai ba ngày không, hoặc là đi thăm bà con họ hàng, cho đến khi chúng ta biết chuyện gì đang diễn ra?”
Tấm lưng gầy trở nên cứng đờ dưới tay tôi, Holmes chầm chậm quay về phía tôi, vẻ thất kinh. “Chúa ơi, Russell, sao ta có thể... anh Mycroft, hãy lấy điện thoại ngay cho em. Russell, hãy gọi cho ông ấy. Đừng để ông ấy biết cháu đang ở đâu , hoặc biết ta đang ở cùng cháu. Cháu biết số ông ấy chứ? Được rồi. Ôi, nếu như có bất cứ điều gì xảy ra với ông ấy chỉ vì sự ngu xuẩn hết sức của ta... ”
Tôi áp ống nghe lên tai và đợi nối máy. Bác Watson thường đi nghỉ sớm, và lúc này đã hơn mười một giờ đêm. Holmes vặn ngón tay cái của mình trong khi chờ đợi, dõi theo nét mặt tôi. Cuối cùng thì máy cũng kết nối và tôi nghe thấy một giọng ngái ngủ ở đầu dây bên kia.
“Hmmmph?”
“Bác Watson, bác John yêu quý của cháu đấy ạ? Cháu Mary đây , cháu phải... à không, cháu khỏe bác ạ. Bác phải nghe cháu nói đây , cháu... không, ông Holmes khỏe ạ, à không, ông ấy đã khỏe, khi cháu gặp ông ấy lần cuối. Hãy nghe cháu nói, bác John, bác phải nghe cháu. Bác vẫn nghe chứ ạ? Vâng , cháu xin lỗi vì đã làm bác thức giấc muộn thế này, nhưng bác phải rời khỏi nhà, trong đêm nay, càng sớm càng tốt. Vâng , cháu biết là đã muộn, nhưng chắc chắn sẽ có một khách sạn nào đó còn mở cửa. Gì cơ ạ? Vâng, vậy thì tốt rồi. Bây giờ thì bác hãy lấy ít đồ và đi ngay đi. Sao ạ? Ôi, cháu không có thời gian để giải thích cho bác, nhưng đã có hai quả bom được gài, một quả dành cho Holmes, một quả dành cho cháu, và... đúng vậy đấy ạ. Không. Không ạ, quả bom ở chỗ cháu đã không nổ, còn Holmes chỉ bị thương nhẹ thôi, nhưng bác John, bác có thể đang gặp nguy hiểm lớn và phải rời khỏi nhà ngay lập tức. Ngay bây giờ. Vâng ạ, bà Hudson vẫn bình an vô sự. Không, ông Holmes không có ở chỗ cháu, cháu không biết chính xác ông ấy đang ở đâu nữa...” Tôi cẩn thận quay lưng lại với Holmes, và theo cách đó, sẽ giữ kín được một chút sự thật. “Ông ấy bảo cháu gọi cho bác. Không ạ, cháu không ở Oxford, cháu đang ở nhà một người bạn. Bây giờ thì bác hãy đi luôn đi; cháu sẽ gọi cho bác ở khách sạn ngay khi có được tin tức của Holmes. Còn nữa, bác không được để ai biết được cuộc nói chuyện này, bác hiểu chứ ạ? Mọi người vẫn cho rằng Holmes đang an toàn ở nhà của mình, chứ không hề nghĩ đến việc ông ấy đang lẩn trốn ở đâu đó. Bác không thật giỏi trong việc che giấu, cháu biết, nhưng điều đó rất quan trọng. Bác biết rằng các tờ báo sẽ làm gì nếu chúng moi được tin này chứ ạ? Bác hãy đến khách sạn và ở yên đó, đừng nói chuyện với ai hết, cho đến khi nào cháu gọi cho bác. Được chứ ạ? Cám ơn bác. Cháu thấy đầu óc nhẹ nhõm hơn rồi . Bác nhớ nhanh lên nhé? Vậy tốt rồi ạ, tạm biệt bác.”
Tôi cúp máy và nhìn Holmes. “Bà Hudson thì sao ạ?”
“Không cần thiết phải làm phiền bà ấy vào giờ này. Hãy đợi đến sáng mai.”
Sự căng thẳng trong phòng lắng xuống, nhưng nỗi mệt mỏi lại râm ran khắp thân thể tôi. Tôi nhẹ nhàng cài áo lại cho Holmes, rồi cầm ly của mình lên, giơ lên trước mặt hai anh em họ.
“Hai quý ngài, cháu xin chúc các ngài ngủ ngon. Cháu tin là ngày mai chúng ta hãy nên bàn bạc tiếp, khi đã biết thêm về mánh lới của chúng.”
“Khi những cái đầu trở nên tỉnh táo hơn,” Holmes đáp lại, như thế trích dẫn câu nói của ai đó, có lẽ là của Oscar Wilde. “Chúc cháu ngủ ngon, Russell.”
“Holmes à, hãy để cho cơ thể mình được nghỉ ngơi một chút nhé.”
Ông ấy với lấy cái tẩu thuốc.
“Russell, có những lúc tình trạng mệt mỏi lại như một phương thức để tập trung suy nghĩ. Ta sẽ trở thành một tên ngốc nếu như không biết tận dụng hiện tượng kỳ lạ này.”
Câu nói này phát ra từ miệng một ông già thậm chí còn không thể tự mình ngồi xuống ghế.
“Vì Chúa, ông hãy đi nằm đi.”
“Ta nhắc lại, chúc cháu ngủ ngon, Russell,” ông ấy vừa nói vừa cố lấy sức đánh một que diêm rồi châm lửa vào tẩu thuốc.
Tôi nhìn ông Mycroft, ông ấy chỉ nhún vai; vậy là tôi đành buông tay và trở về phòng ngủ của mình.
---❊ ❖ ❊---
CHÚ THÍCH
[1] Một loại pho mát màu trắng có những đường chỉ màu xanh lục và nặng mùi.
[2] 2 Từ thời Nữ hoàng Elizabeth I (năm 1558), ở Anh ban hành đạo luật đàn áp những người theo đạo Thiên chúa, và rất nhiều nhà dân thờ Thiên chúa đã xây thêm một phòng nhỏ trên gác mái làm chỗ trú ẩn cho linh mục.