
Cuộc phục kích diễn ra khi ánh chiều tà buông xuống rất nhanh... và đêm đông giá băng đang vây bủa.
Kỳ học mới bắt đầu khi kỳ lễ Thánh Michael và mùa Thu đang dần đến. Những cơ thể và khối óc được nghỉ ngơi suốt mùa hè giờ một lần nữa buộc phải gò mình trong lề lối của trường đại học. Ngày dần chuyển ngắn hơn, trời mây ầm u, những hàng đá và gạch của thành phố cũng trở nên đen bóng trong mưa dầm, và tâm trí chúng tôi cũng trở về với khuôn khổ trường lớp. Trong tất cả các kỳ học, tôi thích nhất là kỳ học mùa Thu - mùa lễ Thánh Michael, khi tôi có thể đắm chìm vào bài vở và những chiếc lá thu ướt đẫm rải đầy trên phố.
Tôi không còn say sưa hàng giờ đồng hồ ở Bodleian nữa, mặc dù tâm hồn tôi vẫn luôn bay bổng theo mùi giấy cũ. Tôi bắt đầu học tập một cách nghiêm túc với các trợ giáo của mình, và tôi còn nhớ có đôi lần họ nhìn tôi vẻ ngưỡng mộ và hài lòng, điều đó làm tôi thích thú chẳng kém gì câu nói “Làm tốt lắm, Russell” của Holmes.
Tôi khó có thể gọi sự mạo hiểm tiếp theo của chúng tôi vào cuối kỳ học này là một “vụ án”, bởi vì khách hàng không ai khác lại chính là chúng tôi. Nó ào tới chúng tôi như một cơn bão, nó đánh vào chúng tôi, hất ngã và đe dọa mạng sống của chúng tôi, sự tỉnh táo của chúng tôi, và những ranh giới mỏng manh đến bất ngờ đang tồn tại giữa Holmes và tôi.
Sự việc bắt đầu vào một đêm bẩn thỉu và ẩm ướt của tháng Mười hai. Tôi đã chán ngấy nơi này, nhất là cái khí hậu tồi tệ khủng khiếp của nó, hôm nay tuyết trút xuống từng mảng như mưa đá vậy, những cơn mưa lạnh lẽo dày đặc làm ướt hết cái áo choàng len dày nhất của tôi và biến đôi giày của tôi thành hai cái túi da sũng nước. Tôi đã phát ốm với thời tiết kiểu này, tôi chán Oxford, tôi bực tức với những yêu cầu của các trợ giáo, tôi phát cáu vì bị giam lỏng bên trong, tôi thấy mệt mỏi và không còn bình tĩnh được nữa.
Điều duy nhất khiến tôi thoát khỏi nỗi tuyệt vọng ảm đạm toàn tập lúc này là tự an ủi mình rằng đây chỉ là tình trạng tạm thời, rằng ngày mai tôi sẽ thoát khỏi nơi đây, vào giờ này tối mai, tôi sẽ được ngồi trước một lò sưởi bằng đá rộng thênh thang với thức uống gì đó thật nóng trên tay và một bữa ăn được chuẩn bị hết sức chuyên nghiệp, tôi ngồi đó với những người bạn thú vị, ngất ngây trong những bản nhạc thật hay và những món ăn ngon. Mà hơn nữa - ôi chao là vui sướng, ôi chao là hạnh phúc - tôi sẽ không phải đón Giáng sinh cùng cô tôi: ngày mai tôi sẽ đi Berkshire để thăm ngôi nhà vùng thôn quê của cô bạn Ronnie trong hai tuần. Đáng lẽ tôi đã đi từ ba ngày trước, nhưng một điều hết sức vô lý và hết sức bất ngờ là tôi phải ở lại để làm bài tiểu luận cuối kỳ - yêu cầu từ một trợ giáo tính khí thất thường và rất hay đòi hỏi của tôi. Nhưng bây giờ thì mọi chuyện đã suôn sẻ: bài luận đã xong xuôi và tôi đã thực sự được thoải mái. Ngày mai tôi sẽ rời xa cái lạnh khủng khiếp này và những điều tồi tệ nhất ở nơi đây.
Về đến ngôi nhà trọ, tôi cảm thấy mình giống như một con chuột bị nhúng nước. Dừng lại trước mái cổng, tôi cởi mấy lớp áo bên ngoài và nhìn chúng nhỏ nước tong tong lên nền đá. Tôi moi trong túi ra một chiếc khăn tay còn khô để lau hai mắt kính rồi bước vào nhà.
“Chào bác Thomas.”
“Có vẻ sắp tối rồi, cô Russell. Tôi thấy thời tiết đẹp đấy chứ.”
“Ô, quả là một buổi tối rất tuyệt để đi dạo, bác Thomas nhỉ. Sao bác không đưa bác gái đi chơi bằng thuyền một buổi? Cháu thích như vậy lắm. Bác gái có thích không ạ?” Tôi đeo kính vào - nó bị mờ vì hơi nước - và nhìn chăm chú cây thông Noel xinh xắn đang đứng hiên ngang trước cửa nhà.
“Bà ấy có. Nhìn nó rất đáng yêu, đúng không thưa cô? À, phải nói, có vài thứ trong tủ đồ của cô đấy. Để tôi đi lấy cho cô.” Người gác cổng già lại đằng sau, chỗ có một dãy hộc tủ được sắp xếp tương ứng với phòng của mỗi người. Ngăn kéo trên cùng, dãy thứ ba, là dành cho tôi. “Của cô đây. Một cái là bưu phẩm mới gửi tới, cái còn lại của một bà, à, một người phụ nữ có vẻ luống tuổi. Bà ấy muốn gặp cô thì phải.”
Bưu phẩm là thư của bà Hudson, nó luôn luôn được gửi đến đều đặn vào thứ Ba hàng tuần. Holmes thì hiếm lắm mới viết thư cho tôi, mặc dù thỉnh thoảng tôi cũng nhận được những bức điện khó hiểu từ ông ấy; bác sĩ Watson (bây giờ là bác John) cũng thỉnh thoảng viết cho tôi mấy chữ. Tôi nhìn món đồ còn lại.
“Một quý bà ạ? Bà ấy muốn gì ạ?”
“Tôi không biết, thưa cô. Bà ấy nói là cần nói chuyện với cô, và khi tôi trả lời là đến tối cô mới về thì bà ấy để lại mảnh giấy này cho cô.”
Tôi tò mò cầm cái phong bì lên xem. Đó là một loại phong bì rẻ tiền, người ta có thể mua nó ở bất cứ sạp báo nào hoặc nhà ga nào, kềnh càng và bụi bặm, và tên tôi được viết rất cẩn thận trên đó.
“Chữ viết của bác, đúng không, bác Thomas?”
“Vâng, thưa cô. Khi đưa cho tôi, bà ấy chẳng viết gì trên ấy cả, thế nên tôi mới viết tên cô lên.”
Khéo léo không để dính phải dấu vân tay còn hơi mờ ở một góc, tôi kéo bức thư ra. Hơi khó khăn một chút vì có vẻ như chúng bị dính keo ướt vào nhau, tôi phải gỡ hết sức cẩn thận. Thật ngạc nhiên vì bên trong chẳng có gì ngoài tờ quảng cáo của một hãng sản xuất cửa sổ nằm trên đường Banbury. Một phần vết giày in trên một góc của tờ quảng cáo và một vết chó cào khá lớn ngay chính giữa cho thấy nó đã bị rơi xuống mặt đường trước khi được nhét vào phong bì. Tôi lật nó lại, tự hỏi không biết nó có ý nghĩa gì. Bác Thomas cũng dõi theo từng cử chỉ của tôi. Tôi đưa nó ra trước ngọn đèn trên cái bàn của bác ấy. Không hề có những vết đinh ghim, không hề có một nét vẽ trang trí.
“Một loại thông điệp thật lạ lùng, cô Russell ạ.”
“Vậy ạ? Cháu có một bà cô khá lập dị và cô ấy thỉnh thoảng vẫn theo dõi cháu. Cháu nghĩ đó là cô cháu. Nếu cô ấy có làm phiền bác thì bác cho cháu xin lỗi nhé. Người phụ nữ đó trông như thế nào ạ?”
“ Ồ , thưa cô, tôi không cho rằng bà ta lại là một người họ hàng của cô. Mái tóc màu đen ấy xấu xí như thể... xin cô thứ lỗi, nhưng bà ta thực sự nên nhờ bác sĩ can thiệp vào cái nốt ruồi khủng khiếp dưới cằm mình.”
“Bà ta đã ở đây vào lúc nào hả bác?”
“Khoảng ba tiếng trước. Tôi ngỏ ý là bà ta có thể ở lại đây để đợi cô về và mời bà ta một tách trà, nhưng khi tôi đi khóa cửa sau thì bà ta nói là muốn đi, rồi khi tôi quay lại thì bà ta đã biến mất. Nếu bà ta quay lại, tôi đưa bà ta lên gặp cô nhé?”
“Không cần đâu bác Thomas ạ. Bác cứ gọi cháu và cháu sẽ xuống.” Tôi không muốn một người lạ mặt thình lình xông thẳng lên phòng mình. Mắt tôi hướng lên ngăn tủ mà bác Thomas vừa lấy ra những bức thư của tôi. Thật kỳ lạ. Người phụ nữ này là ai mà lại muốn biết phòng tôi ở đâu , và quan trọng hơn, là tại sao?
Tôi cảm ơn Thomas và đi qua chỗ bác ấy để đến hành lang dẫn lên phòng mình . Tôi ngồi ngay trên bậc cầu thang dưới cùng để tháo giày vì nó đã sũng nước và tôi không muốn gây thêm phiền phức cho vợ bác Thomas nữa.
Khu nhà lặng thinh, chỉ còn tiếng mưa rơi nặng hạt phía cửa sổ đầu hồi là vang lên rõ mồn một. Trèo lên cầu thang, tôi chợt rùng mình khi nghĩ về những âm thanh mà những cô gái trọ trong ngôi nhà này tạo ra. Đây là phòng của Veronica, cánh cửa đã đóng kín, nhưng sự hiện diện của cô ấy mạnh mẽ đến mức tôi hầu như vẫn nghe thấy những âm thanh náo loạn từ bữa tiệc cô ấy tổ chức vào tuần trước. Còn đây là phòng của Jane DelaField, rất tĩnh lặng, Jane có khả năng thiên bẩm trong việc sáng tác những bài thơ hài hước chỉ có năm câu. Phòng của Catharine, cô này có một người anh trai cực kỳ hấp dẫn. Anh ấy có một niềm say mê kỳ quặc với hoa hồng... không phải... là hoa iris. Tất cả họ đều đã trở về với gia đình thân thương, ấm áp và yên ổn, trong khi Mary Russell này, lạnh lẽo và cô đơn, đang bước trên những bậc cầu thang gió lùa lạnh ngắt để về căn phòng trống trải của mình.
Lên đến bậc thang cuối cùng, tôi lôi trong túi ra chiếc chìa khóa phòng. Chạm tay vào nắm đấm cửa, tâm trí tôi tràn ngập những ý nghĩ buồn bã đến nỗi tôi đã quên mất một tình tiết kỳ lạ mà bác Thomas nói về người đàn bà xấu xí đó, và vì vậy tôi gần như không để ý đến mấy dấu vết trên cửa phòng tôi. Nhưng khi chiếc chìa vừa tra vào ổ được vài phần thì tôi tê cứng người lại. Có một vết bẩn màu đen và dính mỡ trên cái nắm cửa bằng đồng sáng bóng của phòng tôi. Lại có vài vết cào xước nhỏ còn khá mới trong lỗ khóa. Một tia sáng lọt ra từ dưới khe cửa...
Tôi run rẩy . Nào, Russell, đừng có ngớ ngẩn thế chứ. Là vợ bác Thomas lại nhóm lửa trong lò cho mày như thường lệ thôi. Không việc gì phải lo lắng cả. Tôi vẫn còn thấy bực mình vì cái thời tiết chết tiệt ngày hôm nay, vì chuyến đi Berkshire muộn hơn dự tính, và các dây thần kinh của tôi như bị căng lên khi phải nán lại học cùng các trợ giáo. Không có gì ngoài một căn phòng hết sức bình thường ở bên kia cánh cửa, tôi có thể nhìn rõ nếu như cúi xuống nhìn xuyên qua lỗ khóa, hay hài hước hơn, quỳ hẳn xuống mà nhìn qua khe cửa dưới sàn.
Tôi tra khóa vào ổ thêm lần nữa, các ăng-ten trong đầu tôi bắt đầu rung lên bần bật. Tôi lùi lại nhìn quanh, nhưng không thấy có dấu hiệu nào khả nghi. Tuy nhiên, khi nhìn xuống lối đi ở hành lang, tôi có một cảm giác mơ hồ rằng mình vừa nhìn thấy một vật gì đó, một vật rất nhỏ. Tôi từ từ bước xuống rồi nhìn gần hơn. Ngay ở ngưỡng cửa sổ phía đầu cầu thang, có một vết bùn bẩn, hai lá thường xuân, và mấy giọt nước mưa còn đọng lại.
Chuyện gì đã xảy ra vậy? Làm sao mà những vết bẩn này lại thoát khỏi tay một người cẩn thận như vợ bác Thomas?
Không, Russell. Trí tưởng tượng của mày bay xa quá mức rồi đấy. Chắc chắn là bác gái đã mở cửa sổ cho một con bướm đêm bay ra ngoài, khiến những hạt mưa cùng mấy chiếc lá rơi vào và... Không thể! Hay là những người làm vườn đã cắt dây thường xuân hơi cẩu thả vào mùa xuân trước, và giờ họ quay lại để hoàn thành nốt công việc? Nhưng tại sao họ lại mở cửa sổ ra chứ...
Tự trấn tĩnh bản thân và sải bước qua hành lang về cửa phòng, nhưng tôi cứ đứng đó vài phút với chiếc chìa khóa trong tay mà không thể nào mở cửa được. Hơn lúc nào hết tôi ước mình mang theo khẩu súng (mà Holmes đã nhắc tôi luôn phải mang theo), nhưng giờ nó vẫn nằm yên trong ngăn kéo của tôi, vô dụng như thể nó đang ở tận bên Trung Quốc xa xôi vậy.
Sự thật là Holmes có rất nhiều kẻ thù, rất nhiều. Ông ấy đã từng giải thích chuyện này với tôi một vài lần, rèn luyện cho tôi sự đề phòng cần phải có, buộc tôi luôn nhớ rằng tôi rất có thể sẽ trở thành mục tiêu của những kẻ muốn báo thù ông. Tôi nghĩ điều đó khó có thể xảy ra, nhưng cũng phải thừa nhận rằng không phải là nó không thể xảy ra. Và ngay lúc này đây, tất cả những nghi ngờ mà Holmes cần mẫn khắc sâu vào tâm trí tôi đang khiến tôi thắc mắc là liệu đêm nay, trong khu nhà này, vào một đêm ngập sương mù ở Oxford, sự hận thù của kẻ nào đó dành cho Holmes có đổ ụp xuống đầu tôi hay không.
Tôi cực kỳ muốn lao xuống cầu thang và nhờ bác Thomas gọi điện cho cảnh sát, nhưng tôi chợt nghĩ đến hình ảnh những viên cảnh sát nện những đôi giày nặng trịch đến đây và những hành động chẳng lấy gì làm thoải mái của họ - họ có thể nhất thời khiến những kẻ bất lương run sợ, mà tôi cũng không thể nào ngủ yên giấc khi họ rời khỏi nơi này.
Trừ cảnh sát ra, tôi còn hai lựa chọn. Thứ nhất, tôi có thể mở khóa rồi đương đầu với bất cứ kẻ nào tôi bắt được trong phòng, nhưng nếu muốn làm thế thì tôi phải có Holmes phối hợp cùng. Cách thứ hai là đột nhập vào phòng mình bằng một lối khác không phải cửa chính. Thật không may, lối đi khác duy nhất lại là lối qua cửa sổ cách mặt sân đá phía dưới gần chục mét. Tôi đã từng trèo lên cây thường xuân, nhưng khi ấy là mùa hè, mọi thứ đều ấm áp và sáng sủa. Còn giờ đây, dù những dây leo ấy có thể giữ được cả trọng lượng cơ thể tôi, nhưng liệu những ngón tay tôi có đủ khỏe để bám vào không?
“Ôi vì Chúa, Russell, chỉ gần chục mét thôi mà. Oxford đã khiến con lười biếng thế sao, suốt ngày ngồi đến chai cả mông trong thư viện! Con sợ lạnh ư? Rồi con sẽ được ấm lại. Không hề có lựa chọn nào khác đâu, hãy tự xoay sở lấy đi.” Cái giọng Mỹ kéo dài của bố tôi lại vang lên như mỗi lần tôi băn khoăn e ngại, và nó luôn kích thích lòng dũng cảm trong tôi.
Tôi nhẹ nhàng quay lại hành lang và đi tiếp xuống các bậc cầu thang dẫn ra khoảng sân trong của ngôi nhà. Tôi tháo đôi tất len và chiếc áo khoác ngoài, để chúng cùng với đôi giày và cái túi đựng sách trong góc tối. Cẩn thận gài đôi mắt kính vào túi áo, tôi hít một hơi thật sâu, rồi lặng lẽ lao mình ra cơn mưa lạnh giá ngoài kia.
Nhiệt độ đã giảm sâu xuống khi tôi bước chân ra ngoài, bộ quần áo bằng len mỏng manh của tôi chẳng thấm tháp vào đâu so với trận mưa buốt lạnh như băng giá. Mưa bao phủ lấy tôi, dính chặt chiếc áo vào lồng ngực tôi đang co rúm lại, và bám vào đôi chân tôi thành một lớp dày lạnh cứng. Tôi đu người lên dây thường xuân trơn trượt và bám chặt những ngón chân đang gần như tê dại vào nhánh cây. Phải nhờ bác Thomas gọi cho cảnh sát thôi, đầu tôi nghĩ, nhưng thân thể tôi thì vẫn lẳng lặng leo lên.
Tôi với được đến lớp cửa sổ tối om thứ hai thì thấy những khe sáng từ phòng mình chiếu ngay trên đầu. Tôi bám vào chỗ vịn tiếp theo một cách thận trọng, và lúc ấy mới chắc chắn rằng tay mình đã không bị trượt khỏi chỗ vịn trước. Hóa ra sức mạnh của đôi tay tôi cũng không đến nỗi nào, và quan trọng hơn, tôi đã bám chặt được sợi dây leo. Từ từ, chầm chậm, tôi leo lên cái cửa sổ đầu tiên của phòng tôi và ghé mắt nhìn vào qua khe hở giữa mấy tấm rèm. Không có gì ở đó cả, ngoài cái lò sưởi đang cháy lách tách. Tôi khẽ nguyền rủa mình rồi đu qua một ô cửa sổ khác. Những sợi dây thường xuân ở đây có vẻ mảnh hơn, và một lần, do bám tay không chặt, tôi đã suýt ngã xuống cái sân đá bên dưới, may mà những cơn gió đã thổi tạt đi tiếng ầm ĩ ấy. Tới ô cửa sổ thứ hai, tôi đu người trên nhánh thường xuân như một con khỉ ướt nhẹp để nhòm vào khe hẹp giữa đám rèm.
Lần này tôi đã thành công. Ngay cả khi không mang kính tôi cũng có thể nhìn thấy mụ già mà bác Thomas đã miêu tả đang ngồi trước lò sưởi, cúi xuống đọc một quyển sách, đôi chân mang tất dày cộp gác lên thành ghế. Tôi dò dẫm bàn tay bị phồng rộp và tê cóng vào túi áo để lấy cặp kính ra, và sau khi suýt làm rơi nó đến hai lần, cuối cùng tôi cũng đặt được nó chênh vênh trên sống mũi. Kể cả khi nhìn nghiêng thì mụ ta cũng quá ư xấu xí với cái nốt ruồi đen sì như thể một con ve bậu trên cằm vậy. Tôi lùi người lại, cố gắng suy nghĩ. Tôi phải làm gì đó thật nhanh, vì đôi tay tôi sắp trở nên vô dụng hoàn toàn.
Một dòng nước lạnh băng chảy dọc sau lưng áo tôi, rồi tiếp tục chảy xuống đôi chân run của tôi. Não tôi đột nhiên cũng như đờ ra trong một cơn lạnh xuyên thấu. Có điều đó về mụ già này mà tôi không thể lý giải nổi. Là điều gì vậy? Tôi áp sát người hơn vào cánh cửa và quan sát. Cái tai, phải không nhỉ? Và thế là đột nhiên tất cả trở nên rõ ràng. Tôi cố nhét mấy ngón tay tội nghiệp đã lạnh cóng vào mép cửa sổ và kéo ra. Mụ già ngước nhìn lên, rồi đứng dậy bước đến mở to cánh cửa sổ. Tôi nhìn “mụ” một cách chua chát.
“Quỷ tha ma bắt ông đi, Holmes, ông đang làm cái quái gì ở đây vậy? Và vì Chúa, hãy giúp cháu trèo qua cái cửa sổ này trước khi ông đẩy cháu ngã xuống dưới cái sàn kia!”
Trong chớp mắt, tôi đã đứng trên tấm thảm, run lẩy bẩy và ướt sũng. Tôi lúng túng lấy vạt rèm lau khô cặp kính nên chẳng thể liếc mắt nhìn Holmes được. Ông ấy đứng đó, trong bộ váy xỉn màu với cái nốt ruồi khủng khiếp bám trên mặt, không hề tỏ ra là có lỗi một chút nào.
“Chết tiệt, Holmes, kiểu đột nhập hú hồn này có thể làm cháu gãy cổ đấy, và nếu như cháu không sắp chết cóng thì cháu chẳng phải nhờ đến những phút cuối cùng vừa rồi đâu. Ông quay lưng lại đi; cháu phải thay bộ này ra.” Holmes ngoan ngoãn xoay cái ghế vào bức tường trống trơn, và tôi vụng về cởi bỏ bộ quần áo đang mặc ngay trước lò sưởi nóng rực để mặc một cái áo thụng màu xám mà lúc sáng tôi đã gấp sẵn để trên ghế đó, rồi lấy một cái khăn tắm lau khô tóc.
“Được rồi, bây giờ thì ông có thể quay lại.” Tôi đẩy đám quần áo ướt sũng vào một góc phòng, định sẽ xử lý chúng sau. Holmes và tôi cũng khá thân thiết, nhưng tôi không muốn vung vẩy mấy thứ đồ lót ngay trước mũi ông ấy. Bạn bè cũng nên có những giới hạn nhất định.
Đi về phía cái bàn đầu giường để lấy lược rồi đẩy một cái ghế ra trước lò sưởi, tôi bắt đầu gỡ những bím tóc ướt nhẹp ra lau cho khô. Ngón tay, ngón chân, và cả mũi tôi đều tấy đỏ lên. Tôi đã bớt run, nhưng vẫn không thể nào ngăn được những cơn rùng mình chốc chốc lại chạy dọc qua cơ thể. Holmes lo lắng.
“Cháu có rượu brandy trong phòng không?” ông ấy hỏi với một giọng rất khẽ.
“Ông biết là cháu không uống cái thứ đó mà.”
“Ý ta không phải thế,” ông ấy nói, với tất cả sự kiên nhẫn của mình. “Ta hỏi là cháu có chút rượu nào không. Ta cần một ít brandy.”
“Vậy thì ông phải hỏi mấy cô bạn hàng xóm của cháu ấy.”
“Ta không chắc quý cô trẻ tuổi đó sẽ thông cảm khi thấy một kẻ như ta đứng trước cửa phòng cô ấy.”
“Không vấn đề gì đâu ạ. Cô ấy đã về Kent để nghỉ Giáng Sinh rồi.”
“Vậy thì ta sẽ coi như cô ấy đã cho phép.” Holmes ra khỏi phòng, đi về phía hành lang, rồi lại thò đầu vào cửa. “À này, đừng động vào cái máy ở trên bàn. Bom đấy.”
Tôi ngồi nhìn chòng chọc vào đống dây rợ rối tung với cái hộp đen sì ở ngay chính giữa cho đến khi ông ấy quay trở lại với chai rượu và hai cái ly tuyệt đẹp. Ông hào phóng rót cho tôi một ly, rồi rót cho mình một ly ít hơn.
“Không phải là loại rượu thượng hạng, nhưng thật tuyệt khi được uống bằng những cái ly này. Uống đi nào,” ông ấy ra lệnh.
Tôi ngoan ngoãn nhấp một ngụm to và nuốt trôi. Nó khiến tôi ho sặc sụa nhưng lại làm dịu đi những cơn ớn lạnh, và ngay khi uống hết chỗ rượu, tôi cảm nhận được một sức nóng lan tỏa đến từng đầu ngón tay.
“Ông biết rượu không phải là cách chữa trị tốt nhất cho chứng cảm lạnh, đúng không?” Tôi buộc tội ông ấy, hơi có phần ngỗ ngược. Tôi thực sự thấy bực mình với trò chơi của ông ấy - bom ư, thật lố bịch.
“Nếu không phải cháu đang run lên vì lạnh thì ta cũng chẳng đưa cho cháu một ly brandy đâu. Nhưng rõ ràng nó đã giúp cháu khá hơn nhiều, vậy nên hãy chải cho xong tóc đi và ngồi xuống ghế thật thoải mái nhé. Chúng ta sẽ có một cuộc nói chuyện lâu đấy. Ôi, đúng là ta lú lẫn thật rồi.” Holmes kiểm tra cái giỏ cũ kỹ và lôi ra một cái gói mà ngay lập tức tôi nhận ra đó là đồ ăn do chính tay bà Hudson làm. Tôi hớn hở lên ngay lập tức.
“Ôi bất ngờ quá! Chúa ban phước lành cho bà Hudson. Nhưng, cháu không thể ngồi ăn cùng một mụ già bẩn thỉu với một con bọ bám rít trên cằm được. Nếu ông mà để nó bò ra phòng cháu thì cháu sẽ không để yên cho ông đâu .”
“ Ồ , chỉ là vết bẩn thôi mà,” Holmes cười quả quyết và gỡ cái nốt ruồi khủng khiếp ấy ra. Ông đứng dậy, cởi cái váy bên ngoài và nới lỏng cổ áo sơ mi, rồi lại ngồi xuống theo-đúng-kiểu-Sherlock Holmes.
“ Cảm ơn ông.”
Tôi vồ lấy một chiếc bánh nhân thịt ngon tuyệt cú mèo và nhai ngấu nghiến. Một lúc sau, tôi chợt nhận ra Holmes đang nhìn mình với vẻ hết sức kỳ lạ, rồi nhanh chóng thay bằng ánh nhìn cao ngạo cố hữu.
“Cháu đang đói,” tôi thốt lên đầy vẻ bất cẩn và có phần hơi ngụy biện. “Cháu vừa mới trải qua một khoảng thời gian học phụ đạo cực kỳ khổ ải, hôm nay cháu đã bỏ bữa trưa, rồi lại phải vào Bodleian tra cứu suốt cả buổi chiều. Cháu không nhớ là mình có ăn sáng không nữa. Chắc là có.”
“ Ừ , vậy thì cháu cứ ăn đi, khi nào xong chúng ta sẽ nói chuyện.”
“Cháu xong rồi đây, cảm ơn ông.” Tôi để Holmes gói phần thức ăn còn lại rồi cất đi. Ông ấy di chuyển có vẻ rất khó nhọc, nhưng ông ấy rất ghét bị ai đó chú ý đến sự đau ốm của mình, nên tôi làm thinh. Hẳn là Holmes đang run lên vì lạnh trong bộ váy già nua đó, và căn bệnh thấp khớp hẳn là đang hành hạ ông. “Nếu như ông đặt số bánh ấy ở đằng kia, thì cháu sẽ có một bữa trưa ra trò vào ngày mai đấy.”
“Không được, rất tiếc là ta phải để chúng vào trong giỏ. Có thể chúng ta sẽ cần đến chúng vào ngày mai.”
“Holmes, cháu không thích như vậy đâu . Cháu có một cuộc hẹn vào ngày mai. Cháu sẽ đến Berkshire. Cháu đã hoãn chuyến đi này ba ngày rồi, và cháu không muốn hoãn thêm nữa chỉ vì những yêu cầu của ông!”
“Cháu không có sự lựa chọn, Russell ạ. Chúng ta buộc phải rời khỏi nơi này, trước khi chúng phát hiện ra chúng ta.”
“Ai cơ? Holmes, chuyện gì đang diễn ra thế? Đừng nói với cháu là ông muốn chúng ta lại lao ra ngoài đó nhé.” Tôi chỉ tay ra ngoài cửa sổ, nơi những giọt nước mưa ẩm ướt đang chuyển dần thành tuyết. “Thậm chí cháu còn chưa khô hết người. Và ông mang theo cái gì đến đây vậy - có thật đó là một quả bom không? Tại sao ông lại mang nó đến đây ? Nói cho cháu biết đi!”
“Thôi được rồi, nói một cách ngắn gọn là chúng ta sẽ rời khỏi đây , nhưng chưa phải bây giờ; quả bom được gài sẵn vào cửa phòng cháu khi ta đến đây , tất nhiên không phải hành động của ta; và ‘chuyện đang diễn ra’ không gì hơn ngoài một vụ cố sát.”
Tôi bắt đầu nhìn ông đầy kinh ngạc. Cái mớ dây rợ loằng ngoằng trên bàn dường như đang quằn quại trước mắt tôi, và tôi cảm thấy những ngón tay lạnh buốt đang chạy dọc sống lưng mình. Cố gắng bình tĩnh trở lại, tôi cất lời và cảm thấy hài lòng khi nhận ra giọng nói của mình mạnh mẽ hơn.
“Kẻ nào muốn giết cháu thế? Và làm sao ông biết được điều đó?”
“Tốt lắm, Russell à. Một cái đầu linh lợi cũng có thể trở nên vô dụng nếu cháu không biết cách kiểm soát cảm xúc của mình. Trước hết hãy nói cho ta biết, tại sao cháu lại trèo lên cây thường xuân mà không đi vào bằng cửa chính? Cháu đã không mang theo súng, thế nên cũng đừng mong sẽ nhảy qua được cái cửa sổ này để áp đảo kẻ xâm nhập phòng mình.” Giọng nói lạnh lùng của Holmes có phần quá vô tình, nhưng tôi vẫn không hiểu nổi tại sao chuyện này lại quan trọng với ông đến thế.
“Vì cháu cần biết những gì đang chờ cháu trước khi đưa ra quyết định. Nếu như phát hiện ra một bữa tiệc chiêu đãi có vũ khí thì cháu sẽ trèo xuống và nhờ bác Thomas gọi điện cho cảnh sát. Mà ông đã để lại vết bẩn trên nắm đấm cửa để cháu có thể nhận ra, đúng không?”
“Đúng thế .”
“Cả vết bùn và mấy lá thường xuân bên rìa cửa sổ?”
“Vết bùn đã có từ trước khi ta đến . Ta có đặt thêm một chiếc lá, vì ta tin chắc là cháu sẽ chú ý đến nó.”
“Tại sao lại có trò trốn tìm này, Holmes? Tại sao ông có thể đùa giỡn với sinh mạng của cháu khi để cháu phải leo lên tường như thế chứ?”
Holmes nhìn thẳng vào tôi và giọng nói của ông trở nên nghiêm túc đến chết người.
"Bởi vì, Russell yêu quý của ta, ta cần phải chắc chắn rằng mặc dù rất mệt mỏi, lạnh lẽo và đói lả, nhưng cháu vẫn có thể thu thập được những gợi ý nhỏ nhất và hành động một cách chính xác.”
“Cái phong bì trong ngăn để đồ của cháu khó có thể coi là một ‘gợi ý nhỏ’ được. Về khâu này thì ông hơi vụng về rồi. Tại sao ông không hỏi bà Hudson xem cháu đang ở phòng nào? Trước kia bà ấy đã từng đến phòng cháu mà.” Có một điểm gì đó ở đây mà tôi chưa sáng tỏ.
“Ta đã không gặp bà Hudson mấy ngày nay rồi.”
“Nhưng... những món ăn...?”
“Ông già Will đã mang đến cho ta đấy. Ông ấy không chỉ là một người làm vườn thôi đâu.’” Holmes nói thêm, với vẻ ngoài như chẳng liên quan gì.
“Nhưng tại sao ông...” Tôi chợt dừng lại, mắt tôi như mờ đi khi những mảnh sự kiện bắt đầu khớp vào nhau, và tôi đã hiểu vì sao Holmes lại mang dáng vẻ khó nhọc đến thế. “Chúa ơi, ông bị thương. Chúng đã tìm cách giết ông trước, đúng không? Ông bị thương ở những chỗ nào? Có nặng lắm không?”
“Vài vết xước chẳng mấy dễ chịu ở sau lưng, chỉ có vậy thôi. Ta e là ta phải nhờ cháu thay bộ đồ, nhưng không phải bây giờ. May mà gã đánh bom đó nghĩ là ta sẽ chết. Có một kẻ lang thang đã chạy qua xem ngay sau khi người ta đưa ta đến bệnh viện, hắn ta vẫn ở đó, đầu quấn băng, và một viên cảnh sát lúc nào cũng kè kè cạnh hắn.”
“Còn ai bị thương nữa không? Bà Hudson thì sao ạ?”
“Bà Hudson không sao cả, mặc dù phải đến một nửa số cửa kính ở tường phía nam đã bị vỡ tung ra. Trong thời tiết này, căn nhà càng trở nên tồi tệ hơn, thế nên bà Hudson đã đến tá túc tại nhà một người bạn tại Lewes đến khi nó được sửa xong. Không, quả bom không được gài trong nhà mà gài tại một trong những tổ ong của ta. Kẻ đó, hoặc bọn chúng, đã đặt quả bom từ đêm hôm trước, và hy vọng là ta sẽ ôm trọn nó vào sáng hôm sau. Có lẽ hắn đã sử dụng một máy phát vô tuyến để kích nổ từ xa, nếu không việc hắn hành động ngay sát những tổ ong sẽ rất khó khăn. Dù sao thì ta cũng rất lấy làm hạnh phúc vì quả bom đã không nổ thẳng lên mặt ta.”
“Kẻ nào, Holmes, là kẻ nào?”
“Có ba cái tên xuất hiện trong đầu ta lúc này, chúng đều là những kẻ ném bom và bị ta tống vào tù trước đây. Chính xác là bốn tên, nhưng một tên đã chết. Trong ba tên còn lại, tên thứ nhất đã được tự do cách đây năm năm rồi, nghe nói hắn đã ổn định cuộc sống và trở thành một người đàn ông biết lo lắng cho gia đình. Tên thứ hai được thả cách đây mười tám tháng và hình như vẫn lang thang vạ vật ở London. Còn tên thứ ba thì đã tẩu thoát khỏi nhà tù Princetown hồi tháng Bảy năm ngoái. Một trong ba kẻ đó có thể liên quan đến quả bom dành cho ta, một quả bom được gài chuyên nghiệp và còn rất ít chứng cứ nguyên vẹn. Tuy nhiên, quả bom của cháu lại là vấn đề khác. Nó rất đặc biệt và không có quả thứ hai, như dấu vân tay ấy. Ta không biết nhiều về bom, nhưng ta sẽ nhờ một chuyên gia xem xét nó. Chúng ta sẽ mang nó đi khi chúng ta rời khỏi đây.”
“Chúng ta sẽ đi đâu?” tôi hỏi với một sự kiên nhẫn hết sức có thể, nghĩ đến kỳ nghỉ đáng yêu sắp tới thế là sụp đổ hoàn toàn.
“Tất nhiên là đến cái nơi bẩn thỉu nhất.”
“Tại sao lại là London?”
“Là vì Mycroft, cháu yêu, ông anh Mycroft của ta. Ông ấy thân thiết với Sở cảnh sát London đến mức có thể dò hỏi tin tức từ những con người tốt bụng ấy như một con rồng tinh quái thu thập vàng vậy. Chỉ với một cuộc điện thoại, Mycroft có thể cho ta biết chỗ ở chính xác của ba kẻ khả nghi đó, và kẻ nào có khả năng nhất là tác giả của quả bom chết tiệt này. Cứ cho những kẻ ám sát vẫn tin rằng ta còn trong bệnh viện thì chúng cũng không thể nghĩ được cháu có liên quan với Mycroft đâu, vì hai người chưa từng gặp nhau mà. Chúng ta sẽ được an toàn ở chỗ ông ấy khoảng một hai ngày, chờ xem chúng sẽ bày trò gì tiếp theo. Ta đã đến đây nhanh nhất có thể, nhưng vẫn không kịp tóm hắn ở đây. Ta rất lấy làm tiếc về điều đó. Cháu thấy đấy, trước mặt cháu hiện giờ là một phiên bản vô cùng khác của Sherlock Holmes - già nua, rệu rã, và dễ dàng bị đánh gục!”
“Bởi một quả bom đã suýt cướp đi mạng sống của ông mà.” Những ngón tay dài của Holmes gạt đi lý do đó của tôi. “Chúng ta đi luôn bây giờ ạ?”
“Ta nghĩ là không. Kẻ đó đã biết quả bom không hề nổ. Hắn sẽ đặt ngay giả thiết rằng cháu sẽ được canh gác cẩn mật vào đêm nay. Gần sáng chúng ta hãy ra đường lớn. Cháu có thể nghỉ ngơi cho đến lúc đó.”
“Cám ơn ông.” Tôi rời mắt khỏi quả bom. “Trước tiên, cháu muốn xem cái lưng của ông đã. Cháu phải cần bao nhiêu miếng gạc đây?”
“Khá nhiều đấy. Cháu có không thế?”
“Một cô gái sống dưới tầng trệt bị mắc chứng nghi bệnh, mẹ cô ấy là y tá. Nếu như ông có thể mở trộm khóa cửa phòng cô ấy giống như đã làm với hàng xóm của cháu khi nãy thì chúng ta sẽ có đủ gạc để dùng.”
[1]
“A, Russell, cháu nói làm ta chợt nhớ ra... Một món quà sinh nhật sớm.”
Holmes lấy ra một gói nhỏ, hơi dẹt, bên ngoài bọc giấy bóng lấp lánh. “Cháu mở nó ra ngay đi.”
Tôi bóc lớp giấy bọc với sự tò mò cực lớn, bởi vì Holmes rất hiếm khi tặng quà cho một ai. Tôi mở chiếc hộp nhung đựng đồ trang sức và thấy bên trong là một dụng cụ nạy ổ khóa sáng bóng, có vẻ hiện đại hơn cái nạy ổ khóa mà ông ấy đang dùng.
“Trời ơi, Holmes, còn hơn cả lãng mạn nữa. Bà Hudson chắc sẽ hài lòng lắm.” Ông ấy cố nén cười rồi thận trọng đứng lên. “Chúng ta sẽ thử nó luôn chứ?”
Chỉ một lát sau, chúng tôi đã quay lại trước lò sưởi với một cơ số băng gạc, một cuộn băng dính khá lớn và một bình đựng chất khử trùng. Tôi rót cho Holmes một ly brandy lớn, và khi ông cởi áo ra, tôi biết số băng gạc đó chắc phải dùng gần hết. Tôi lại rót đầy ly cho ông, rồi đứng đó ước lượng công việc.
“Chúng ta phải nhờ đến bác sĩ Watson thôi.”
“Nếu Watson đang đứng ở đây thì ta đã nhờ ông ấy rồi. Giờ thì bắt đầu đi, Russell, ta không đau lắm đâu.” Holmes uống hết ly rượu thứ hai, tôi rót thêm cho ông một ly nữa, rồi cầm cái kéo lên, ngập ngừng.
“Holmes, kể cho cháu nghe về vụ án của vị Vua xứ Bohemia đi, và cả Irene Adler nữa.” Tôi hy vọng câu chuyện sẽ giúp ông ấy xao nhãng cái lưng đau của mình.
Lúc đầu Holmes từ chối, nhưng khi tôi tiếp tục cắt và tháo rời từng miếng bông băng cùng từng mảng da chết ra thì ông bắt đầu kể qua hàm răng nghiến chặt. “Câu chuyện bắt đầu vào một buổi tối mùa Xuân năm 1888, hình như vào khoảng tháng Ba, khi đó vị Vua của xứ Bohemia đã gõ cửa phòng ta và nhờ - ôi Chúa ơi, Russell, để lại cho ta chút da có được không - giúp đỡ. Có vẻ như ông ấy có dính líu đến một người phụ nữ, một người phụ nữ hoàn toàn không môn đăng hộ đối theo tiêu chuẩn hôn nhân của Hoàng gia - cô ấy là một ca sĩ opera. Thật không may là cô ấy cũng rất yêu vị vua này, thế nên cô ấy không hề muốn trả lại cho đức vua bức ảnh chụp lúc hai người đang nồng nàn say đắm bên nhau. Ông ấy muốn lấy lại bức ảnh đó, và đã nhờ đến ta.”
Một vết thương hẹp lộ ra, tôi luôn phải dừng lại mỗi lần Holmes nghiến chặt hai hàm răng và những giọt mồ hôi chảy ròng ròng xuống đôi lông mày. Tôi làm xong trước khi ông kết thúc câu chuyện, nhưng ông vẫn tiếp tục kể khi tôi mang cái áo dính đầy máu của ông đến chỗ cái chậu rửa ở góc phòng. Kết thúc câu chuyện là lý do vì sao mà cô ca sĩ lại phát hiện ra Holmes trong bộ dạng cải trang; rồi cô ta cùng với ông chồng mới của mình sau đó đã trốn tránh Holmes và đức vua như thế nào. Ông uống nốt ngụm rượu cuối cùng, ngồi nhìn chằm chằm vào lò sưởi, thở một cách nặng nhọc.
Tôi phơi cái áo ngay trước lò sưởi cho khô rồi quay sang người đàn ông đang gần như kiệt sức ngay bên cạnh.
“Ông cần phải nằm xuống và ngủ một giấc. Hãy ngủ trên giường cháu - ồ không, cháu không muốn nghe bất cứ sự phản đối nào cả. Ông cần phải được nghỉ ngơi, ông không thể ngủ trên ghế với tư thế đó được. Đừng có lịch thiệp một cách ngớ ngẩn nữa. Đi nào Holmes.”
“Thất bại thêm lần nữa. Ta đầu hàng đấy.” Với một nụ cười nhợt nhạt không còn thần sắc, Holmes đứng lên đi theo tôi. Tôi gạt ga trải giường và chăn sang một bên để ông từ từ đặt mình xuống. Tôi nhẹ nhàng kéo chăn phủ kín lên đôi vai trần của ông.
“Ông ngủ ngon nhé.”
“Cháu sẽ phải mặc quần áo con trai vào sáng ngày mai đấy. Cháu phải có vài bộ như thế, phải không nhỉ!”
“Tất nhiên rồi ạ.”
“Hãy mang theo một cái ba lô nhỏ đựng mấy đồ cơ bản bên trong, chúng ta sẽ mua quần áo nếu như chuyến đi quá dài.”
“Cháu sẽ chuẩn bị luôn tối nay.”
“Và hãy viết vài dòng cho bác Thomas, nói với bác ấy rằng cháu phải đi vắng trong vài ngày tới, vì cháu được báo là ông Holmes đang gặp rắc rối. Thomas làm việc cho ta; bác ấy sẽ hiểu những gì cháu nói.”
“Ông đúng là một kẻ láu cá. Giờ thì ông ngủ đi thôi.”
Tôi viết một mảnh giấy, không quên nhờ bác Thomas gọi điện cho Veronica Beaconsfield, dặn cô ấy không phải đến đón tôi ở ga tàu, rồi ngồi trước lò sưởi tết mái tóc lúc ấy đã khô hẳn. Tôi ngắm nhìn những hòn than cháy bập bùng, chầm chậm tết một nửa mái tóc óng mượt dài quá eo. Khi định chuyển sang bện nốt bên kia thì tôi nghe thấy tiếng Holmes cất lên từ trong góc phòng tối, rất nhỏ và líu ríu, phần vì buồn ngủ, phần vì có hơi men.
“Ta đã từng hỏi bà Hudson là tại sao cháu lại nuôi tóc dài đến nhường ấy. Bà ấy nói vì nó thể hiện sự nữ tính.”
Tôi lặng người. Đây là lần đầu tiên ông ấy nhận xét về vẻ ngoài của tôi mà không mỉa mai như mọi lần. Watson sẽ không bao giờ tin nổi điều này. Tôi mỉm cười rồi tiếp tục bện nốt chỗ tóc dở dang.
“Vâng, bà ấy luôn nghĩ thế mà.”
“Có đúng không vậy?”
“Nhưng cháu không nghĩ thế. Cháu thấy tóc ngắn bất tiện lắm, luôn cần phải chải và cắt tỉa. Tóc dài có vẻ dễ chịu hơn.”
Không có tiếng đáp lại, nhưng ngay sau đó tôi nghe thấy tiếng ngáy nhẹ bên tai. Tôi lấy một cái chăn nhỏ ở trên giá để đồ và quấn quanh người. Đặt cặp kính lên cái bàn nhỏ ngay bên cạnh, căn phòng trở nên mờ mờ ảo ảo. Tôi thu mình lại trên ghế và chìm vào giấc ngủ.
Khoảng vài tiếng sau đó, tôi choàng dậy, đông cứng người lại và không nhận thức được chuyện gì đang xảy ra xung quanh. Lò sưởi đã tắt ngấm từ bao giờ nhưng tôi vẫn có thể nhìn thấy ai đó đang ngồi bên cửa sổ, quấn chăn quanh người và nhìn ra ngoài bóng đêm. Tôi ngồi dậy và lần tìm cặp kính.
“Holmes, có phải...?”
Người đó quay lại và đưa tay lên môi ra dấu im lặng. “Suỵt! Im lặng nào, cô bé. Ngủ tiếp đi. Ta chỉ đang suy nghĩ thôi, có lẽ ta không nên dùng đến thuốc lá. Hãy ngủ thêm chút nữa đi. Ta sẽ đánh thức cháu dậy khi nào đến giờ.”
Tôi lại đặt cặp kính lên bàn, với tay bỏ thêm mấy viên than vào lò sưởi, rồi lại yên vị trên ghế... Rồi tôi thức giấc một lần nữa, và trong cơn mơ màng, khi nhìn qua chỗ Holmes, tôi đã thấy một điều kỳ lạ nhất từ trước đến giờ: một giọt nước mưa đang lăn dài trên má ông.
---❊ ❖ ❊---
CHÚ THÍCH
[1] Một biểu hiện của chứng suy nhược thần kinh: người mắc chứng này luôn nghi ngờ mình có bệnh.