Người tình của Sherlock Holmes

Lượt đọc: 4827 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
ngôi nhà trống rỗng
img
img

Cuộc tàn sát của những gã đàn ông...

Tôi bị đánh thức bởi tiếng rao của một người bán hàng rong trên đường vào buổi sáng u ám, và khi tôi còn đang nằm ườn trên giường, dồn hết sức lực để tìm cái đồng hồ của mình thì bỗng nghe thấy tiếng lách cách của những tách trà vang lên từ phòng bên cạnh. Tôi mặc vội bộ quần áo nhàu nát lôi ra từ ba lô rồi chạy tới phòng khách.

“Có vẻ như cháu vẫn kịp ăn bữa sáng đấy chứ,” tôi nói khi bước vào phòng, và đứng chết lặng khi nhìn thấy một người thứ ba ngồi ở bàn ăn. “Bác John! Sao bác...?”

Holmes đứng lên và cầm theo tách trà đến bên cửa sổ, rèm cửa đã được kéo lên gọn gàng. Ông thận trọng di chuyển nhưng dường như cái lưng không còn hành hạ ông nữa, cái cằm đã được cạo sạch râu và mái tóc cũng được chải cẩn thận. Holmes đã phải trải qua những ngày thật khó khăn.

“Ta e là người viết tiểu sử trường kỳ của ta đã học được một số điều từ ta rồi Russell ạ. Chúng ta đã bị tìm ra!” Vẻ mặt Holmes là sự trộn lẫn giữa thích thú và thất vọng, bao trùm lên là nỗi lo lắng, có phần bi quan. Ông nhăn nhó khi bác sĩ Watson cười lặng lẽ và phết bơ vào miếng bánh mì nướng.

“Cơ bản là thế, ngài Holmes thân mến của tôi ạ,” Watson nói, và Holmes khịt khịt mũi. “Mary có thể ở đâu, nếu cả hai người đang gặp nguy hiểm, ngoài ngôi nhà của anh trai ông? Cháu dùng chút trà nhé, Mary?” bác ấy mời, rồi nhìn tôi qua gọng kính. “Dù vậy ta cũng muốn nghe một lời xin lỗi từ cháu vì đã nói dối ta đấy.” Tôi chợt nhận ra rằng bác ấy đã bị tổn thương như thế nào khi được biết mọi chuyện, cũng như đã buồn rầu như thế nào trong suốt những năm qua khi khó có thể trở thành một người cộng sự tốt của Holmes. Tôi ngồi xuống chỗ Holmes vừa rời khỏi, và đặt tay lên vai bác ấy.

“Cháu xin lỗi, bác John à, thực lòng xin lỗi. Cháu đã rất lo cho bác, lo rằng nếu như bác đến đây thì bọn chúng sẽ đi theo bác. Cháu không hề muốn bác dính dáng đến vụ này.”

Watson ngượng ngùng đằng hắng rồi vỗ nhẹ lên tay tôi, đôi lông mày rậm màu nâu hơi nhướng lên.

“Mọi chuyện ổn rồi, cháu gái của ta. Ta hiểu. Cháu chỉ cần nhớ là sau một thời gian dài, ta không còn là một đứa trẻ khờ khạo cả tin nữa.”

Và, tôi miên man suy nghĩ, may mà bác ấy không để bụng chuyện đã bị “hất cẳng” khỏi Holmes bởi một đứa trẻ - một đứa con gái như tôi. Trái tim của người đàn ông này thật bao dung và độ lượng.

“Cháu biết điều đó, bác John ạ. Đáng lẽ cháu nên suy nghĩ cẩn thận hơn. Nhưng bác... làm thế nào mà bác đến đây được? Và bác đã cạo ria từ khi nào thế?” Chỉ mới đây thôi, nhìn da mặt bác ấy là tôi biết liền.

Holmes nói vọng ra từ phía cái rèm cửa, giọng ông y chang giọng một người cha vừa tự hào về trí thông minh của con mình lại vừa tức giận trước những trò tinh quái của nó.

"Hãy thể hiện cái tôi thứ hai của mình đi, Watson.”

Watson sốt sắng đặt cái thìa của mình xuống bàn rồi đi về phía cửa, nơi bác treo một cái áo khoác vá chằng vá đụp của một người cao to hơn bác đáng kể, một cái mũ quả dưa lệch, một đôi găng tay len bị rách mất ba ngón, và một cái khăn len.

“Đây là những thứ của người gác cổng ở khách sạn,” bác ấy tự hào giải thích. “Cũ lắm rồi, Holmes à, đồ cổ cả đấy. Tôi lẻn khỏi khách sạn bằng lối cửa sau của khu nhà bếp, đi qua ba nhà hàng và nhà ga Victoria, rồi bắt hai lượt xe, một xe ngựa và một taxi. Phải mất đến nửa tiếng tôi mới đi bộ hết một phần tư dặm đường còn lại, quan sát những kẻ lang thang trên mọi con đường. Chắc chắn không có kẻ bám đuôi nào, thậm chí cả Holmes, mà thoát được ánh mắt tôi,” bác ấy nháy mắt với tôi.

“Nhưng, bác John, chẳng phải cháu đã gọi điện cho bác sao?”

Bác ta đứng thẳng người một cách kiêu hãnh. “Bác là một bác sĩ, và một người bạn của bác đang bị thương. Bác phải có trách nhiệm chứ.”

Holmes càu nhàu gì đó từ cửa sổ, một ngón tay dài ngoằng của ông ấy vén mép rèm dày lên. Watson có lẽ không nghe thấy gì, nhưng những gì tôi nghe được là "Quả thật, trọn đời tôi, phước hạnh và sự thương xót sẽ quấy rầy tôi.” Tôi từng nghĩ là ông ấy hầu như mù tịt về Kinh Thánh1, nhưng ông ấy luôn là người gây nên những bất ngờ, dù đã cố ý thay đổi câu trích dẫn để nó phù hợp với hoàn cảnh hơn.

“Watson này, tại sao tôi lại phải để anh chọc ngoáy thêm vào những vết thương trên da tôi chứ, Russell chẳng phải đã làm rồi sao? Đã là quá đủ với tôi khi phải chịu đựng hai vị bác sĩ cùng vô vàn y tá ở bệnh viện địa phương rồi. Anh còn chưa đủ bệnh nhân sao?”

“Anh phải để cho tôi kiểm tra những vết thương vì tôi sẽ không trở về cho đến khi làm xong điều đó,” bác sĩ Watson nghiêm giọng. Holmes nhìn trừng trừng bác ấy, và khi ông nhìn sang Mycroft và tôi thì chúng tôi cùng phá lên cười. Ông giật mạnh tay khỏi rèm cửa.

“Hay đấy, anh bạn Watson. Chúng ta làm cho nhanh việc này nhé. Tôi còn có việc phải làm.” Thế là bác sĩ Watson và ông Mycroft đi rửa tay, mang theo cả túi đồ

[1]

nghề màu đen mà bác ấy đã mang một cách công khai trên suốt chặng đường. Tôi nhìn Holmes, tỏ vẻ thất vọng. Ông ấy nhắm mắt lại, gật gà gật gù, chỉ tay về phía cửa sổ, “Ở cuối phố ấy,” rồi biến mất theo sau bác sĩ Watson.

Tôi lại gần tấm rèm rồi thận trọng nhìn ra. Tuyết đã tan, chảy xuống từng rãnh nhỏ màu vàng xỉn dọc theo các bờ tường, và xa xa ở dưới đường lớn có một người đàn ông mù đang ngồi bán những chiếc bút chì. Vào giờ này thì hầu như người ta chưa bán buôn gì cả, nhưng tôi vẫn quan sát người đàn ông đó một lúc, vừa nghe thấy loáng thoáng tiếng người nói lao xao ở phòng bên. Tôi đang định quay đi thì một cậu bé đột nhiên đi đến chỗ ông già quấn khăn quanh người đó, thả một thứ gì đó vào cái cốc và nhặt lấy một cây bút chì. Rồi nó chạy đi. Tôi thận trọng quan sát khi cậu bé đi mất. Một cậu học sinh ăn mặc rách rưới. Ông già đen đúa mò tay vào cái cốc, như kiểu lão vừa mò được một đồng tiền xu, nhưng tôi lại nhận ra đó là một mảnh giấy được gấp nhỏ. Chúng tôi đã bị phát hiện.

Ông Mycroft đi vào phòng và rót một tách trà từ chiếc bình chỉ còn lại một chút. Có tiếng sột soạt bên ngoài cửa, tôi cứng người, nhưng ông ấy bình tĩnh nói, “Báo buổi sáng thôi mà.” Nói rồi ông ấy đi đến chỗ tấm thảm chùi chân và nhặt nó lên. Vừa lúc ấy có tiếng bác sĩ Watson từ phòng bên cạnh nhờ lấy thứ gì đó, nên ông ấy đưa cho tôi tờ báo rồi đi khỏi căn phòng. Tôi giở tờ báo ra, và nín thở. Một dòng tít chạy ngay trên trang nhất:

KẺ ĐÁNH BOM ĐÃ BỊ CHẾT BỞI CHÍNH QUẢ BOM

HẮN ĐÃ GÀI CHO WATSON VÀ HOLMES?

Một quả bom lớn đã phát nổ vào rạng sáng ngày hôm nay tại nhà bác sĩ John Watson, người viết tiểu sử nổi tiếng của thám tử Sherlock Holmes, và có vẻ đã sát thương chính kẻ gài đặt. Bác sĩ Watson may mắn thoát chết vì không có trong nhà, nơi ở hiện nay của ông vẫn chưa được xác định. Căn nhà đã bị hư hỏng nặng, ngoài ra không còn ai bị thương. Hậu quả của đám cháy nhanh chóng được khắc phục nhờ sự chỉ đạo sát sao của cấp lãnh đạo thành phố. Người phát ngôn của Sở Cảnh sát London cho biết kẻ thiệt mạng đã được nhận dạng là John Dickson, đến từ thành phố Reading. Dickson từng bị kết án vào năm 1908 vì tội dùng bom tấn công ngân hàng New York tại Đại lộ phía Tây, Southampton. Thám tử Sherlock Holmes chính là người đã đưa ra những bằng chứng quan trọng chống lại Dickson trong suốt phiên tòa xử hắn vào năm đó.

Có một vài thông tin chưa được xác minh về một vụ nổ bom trước đó tại trang trại biệt lập của ông Holmes ở vùng Sussex, trong đó, một nguồn tin đáng tin cậy cho rằng ngài thám tử đã bị thương rất nặng trong vụ gài bom này. Chúng tôi sẽ gửi những thông tin chi tiết hơn tới quý bạn đọc vào số báo tiếp theo.

Tôi đọc đi đọc lại bài báo ngắn đó, không hơn một tờ yết thị là mấy, với một cảm giác như đang đọc những điều bịa đặt. Quả thật tôi đã không thể lĩnh hội được từng câu chữ ngay trước mắt mình, một phần vì quá sốc, nhưng hơn cả là tôi thấy nó thật vô nghĩa. Đầu óc tôi quay cuồng. Tôi không biết mình đã đứng như vậy trong bao lâu cho đến khi nghe thấy tiếng ông Mycroft lanh lảnh ngay sau lưng.

“Russell, có chuyện gì vậy? Ta gọi thêm trà nhé?”

Tôi chỉ một ngón tay lên tờ báo, ông ấy vừa đọc vừa từ từ ngồi xuống cái ghế ngay gần đó. Tôi nhìn đôi mắt bàng hoàng của ông ấy ánh lên trên khuôn mặt tái nhợt, biết rằng ông ấy cũng đang giận dữ và cảm thấy bất lực như mình vậy.

“Giật gân thật,” cuối cùng ông ấy cũng thốt lên. “Chúng ta đã rất đúng giờ đấy chứ, phải không?”

“Đúng giờ cái gì vậy?” Holmes bước vào phòng, vừa đi vừa nới lỏng cổ tay áo, giọng nói sắc cạnh. Mycroft đưa cho ông bài báo. Holmes cầm lấy, rồi vừa đọc vừa huýt sáo. Khi bác sĩ Watson bước vào, Holmes quay sang nói với ông bạn của mình.

“Anh bạn vàng yêu quý của ta, có vẻ như chúng ta nợ Russell một lời cám ơn sâu sắc và chân thành đấy.”

Watson đọc bài báo về vụ chết hụt của mình và ngồi sụp xuống cái ghế mà Holmes đã nhanh tay đẩy ra phía sau cho bác ấy.

“Anh Mycroft, hãy lấy cho ông ấy một ly whisky.”

Watson cầm lấy ly rượu như người mất hồn. Rồi đột nhiên bác ta đứng dậy, với lấy cái túi màu đen.

“Tôi phải trở về nhà.”

“Anh không được manh động,” Holmes đáp lại, giằng lại cái túi từ tay người bạn.

“Nhưng còn bà chủ nhà trọ, còn giấy tờ của tôi.” Giọng bác ấy lạc đi.

“Bài báo đã nói rằng không có ai bị thương,” Holmes an ủi. “Giấy tờ của anh để sau cũng được, anh cũng có thể liên lạc sau với hàng xóm và cảnh sát mà. Còn bây giờ thì anh phải đi ngủ. Anh đã thức cả đêm rồi. À, hãy uống hết ly rượu đó đi đã.” Như mọi lần, bác sĩ Watson lại ngoan ngoãn nghe theo yêu cầu của bạn mình.

Khi Watson đã đi ngủ, Holmes châm tẩu thuốc, tiếng rít nhẹ hòa vào âm thanh lao xao của xe cộ dưới đường và những tiếng người loáng thoáng dưới đại sảnh. Chúng tôi đều im lặng, nhưng dường như âm thanh suy nghĩ của chúng tôi có thể nghe được rất rõ. Holmes nhìn chăm chú vào một điểm trên tường, còn tôi nghịch vớ vẩn một sợi dây tìm được ở trong túi. Mycroft ngồi xuống cái ghế bành đặt trước lò sưởi giữa hai chúng tôi và nhíu mày.

Tôi móc đi móc lại sợi dây thành nhiều hình thù phức tạp cho đến khi đành buông tay, phá vỡ sự im lặng.

“Được rồi, thưa các quý ông, cháu thừa nhận là cháu không nghĩ ra. Nhưng một trong hai người có thể nói cho cháu biết tại sao cái gã Dickson đó, giả sử bác sĩ Watson bị theo dõi trên đường đến đây, tại sao cái gã đó vẫn tiếp tục đánh bom? Rõ ràng là hắn chẳng quan tâm đến ngôi nhà hay bất cứ giấy tờ gì của bác sĩ Watson cơ mà?”

“Đó thực sự là một vấn đề rất thú vị, phải không anh Mycroft?”

“Và nó đã thay đổi cục diện một cách đáng kể, phải không chú Sherlock?”

“Dickson không hoạt động một mình đâu...”

“Nhưng hắn không phải là kẻ cầm đầu phi vụ này...”

“Hoặc cứ cho là chính hắn ta đi chăng nữa, thì những tên thuộc hạ của hắn quả là vô tích sự,” Holmes nói thêm.

“Bởi vì hắn không biết con mồi đã rời khỏi hiện trường trước đó một giờ đồng hồ.”

“Nhưng đó là một sự chủ tâm hay chỉ là sơ suất vậy?”

“Ồ, một băng nhóm tội phạm nguy hiểm cũng có thể mắc sai lầm lắm chứ. Muốn trở thành những kẻ sống ngoài vòng pháp luật thì cũng phải có một năng lực nhất định.”

“Kỳ cục, em không cho Dickson là một tên lóng ngóng vụng về.”

“Ồ, chắc chắn đó cũng không phải là một vụ tự sát, đúng không? Sau một loạt những hành động giết chóc mang tính trả thù như thế?”

“Chưa ai trong chúng ta chết cả,” Holmes nhắc.

“Chưa chết thôi,” tôi lẩm bẩm, nhưng họ lờ đi.

“Đúng vậy, liệu đó có phải là một sự khiêu khích không nhỉ? Hãy suy nghĩ chuyện này nhé.”

“Nếu như hắn được ai đó trả tiền để làm việc này...” Holmes bắt đầu.

“Tôi nghĩ Lestrade có thể kiểm tra tài khoản ngân hàng của hắn.” Mycroft tỏ vẻ nghi ngờ.

“...và nếu không chỉ là một vài kẻ “oan gia” ngày trước...”

“Không thể nào.”

“... tập hợp lại để xóa sổ em cùng những người thân xung quanh em...”

“Chắc chắn tôi sẽ là con mồi tiếp theo,” Mycroft đăm chiêu.

“...thì em lại càng băn khoăn hơn về cái chết của gã Dickson.”

“Không thể nào là tai nạn hay tự sát được. Một kẻ cầm đầu có thể gài bom chính người của mình không nhỉ?”

“Mycroft à, hãy nghiêm túc đi,” Holmes lạnh lùng.

“Đó là một câu hỏi hợp lý mà,” Mycroft quả quyết.

“Đúng vậy,” Holmes dịu giọng. “Liệu người của anh có thể tới hiện trường xem xét trước khi Sở Cảnh sát đến không?”

“Có lẽ không đến trước được, nhưng chắc chắn sẽ đến cùng một lúc.”

“Sẽ không có nhiều chứng cứ để lại đâu.”

“Tại sao tay trùm lại gài bom người của mình? Hắn không hài lòng với cách làm việc kém hiệu quả của gã đàn ông đó?”

“Hay hắn muốn tiết kiệm một khoản thanh toán cuối cùng?”

“Có thể để đỡ phải thuê gã đó sau này,” Mycroft đưa ra một thực tế.

“Không, có lẽ tiền bạc không phải là vấn đề quan trọng ở đây.”

“Quả bom ở chỗ Russell mới là vấn đề,” Mycroft đồng tình.

“Khó chịu nhất là gã Dickson không còn sống nữa,” Holmes càu nhàu.

“Quả bom không nổ, thế nên gã mới bị thủ tiêu.”

“Nhưng gã đã giết được chúng ta đâu?” Holmes phản đối.

“Tay trùm tức giận vì sự thất bại của gã đó và quyết tâm sử dụng một phương thức khác?”

“Thật hay!” tôi nói. “Sẽ không có quả bom nào nữa.” Nhưng Holmes phớt lờ tôi.

“Có thể là anh đúng. Dù vậy, lẽ ra em nên gặp Dickson để nói chuyện từ sớm hơn.”

“Tôi mới đáng trách. Đáng lẽ lúc đó tôi phải cho người theo dõi gã ngay. Nhưng...”

“Sao anh biết được gã ta lại hành động nhanh đến thế chứ!”

“Ừ, nhất là sau một khoảng...”

"... một ngày đủ các chuyện,” Holmes thở dài.

“...một ngày đủ các chuyện,” Mycroft nhắc lại, không hề nhìn tôi.

“Giá như em có thể đến chỗ của Russell sớm hơn... ”

Tôi đã theo dõi quá đủ cuộc đấu khẩu này rồi, nên tôi muốn phân xử công bằng và phá tan mọi rắc rối. “Ông đã không đến kịp chỗ cháu vì ngày Chủ nhật ông bị tấn công và đến tận chiều thứ Hai ông mới hồi tỉnh.” Holmes nhìn tôi, Mycroft nhìn em trai của mình, còn tôi thì tự mãn nhìn xuống sợi dây trong tay mình.

“Ta có nói là ta bất tỉnh đâu nhỉ,” Holmes khó chịu.

“Đúng, ông đã tìm cách khiến cháu tưởng rằng quả bom đó nổ vào tối thứ Hai. Tuy nhiên, ông đã quên rằng cháu cũng có chút ít kinh nghiệm trong việc quan sát những vết thương hở và bầm tím. Khi cháu nhìn thấy những vết thương sau lưng ông, chúng đã có từ bốn mươi tám tiếng trước chứ không phải là hai mươi tư tiếng. Hôm thứ Hai, cháu ở trong phòng cho đến tận ba giờ, và ông đã không hề liên lạc với cháu. Sau đó, bà Thomas còn vào phòng nhóm lửa lò như thường lệ, chứng tỏ ít nhất năm giờ chiều ông vẫn chưa hồi tỉnh. Tuy nhiên, lúc tám giờ, khi cháu quay trở lại và thấy bác Thomas vô cớ sửa cái bóng đèn ở hành lang ngay phía ngoài phòng cháu, thêm chuyện ông nói bác Thomas làm việc cho ông, thì cháu đã đoán ra vào khoảng giữa năm giờ đến tám giờ ông đã gọi điện cho bác Thomas và nhờ bác ấy để ý căn phòng của cháu cho đến khi nào cháu quay lại.

Sang ngày thứ Ba, có lẽ ông đã định đến chỗ cháu sớm hơn, dù đầu ông còn đang choáng váng và lưng thì đau nhức. Việc gì đã ngăn cản ông khiến sáu rưỡi ông mới tới nơi thế?”

“Sáu giờ hai mươi hai phút. Một loạt những chuyện xảy ra tình cờ như kiểu ma xui quỷ khiến. Lestrade thì đến muộn, bà y tá trưởng giữ quần áo của ta, đến khi những kẻ lang thang được đưa vào thì ta mới chộp lấy cơ hội ấy để làm một vụ đánh tráo với nhân viên bệnh viện. Khi ta về đến nông trang thì khắp nơi đầy rẫy cảnh sát. Ta phải đợi đến lúc bọn họ thong thả đi uống trà mới lấy được những đồ dùng cần thiết và liếc qua những gì còn lại ở tổ ong. Chúa ơi, may mà có Will, ta sẽ không làm được gì nếu không có ông ấy. Ta bị lỡ một chuyến tàu, và không hề có chiếc taxi nào trên bãi đỗ xe ở Oxford, thật đúng là ma quỷ.”

“Tại sao ông không gọi điện ngay từ bệnh viện? Hoặc gửi một bức điện?”

“Ta đã đánh một bức điện cho bác Thomas, ở một nhà ga khá nhỏ mà ta đoán chỉ có khoảng sáu lượt tàu qua đó mỗi năm. Cuối cùng khi đến Oxford, ta cũng gọi điện được cho bác ta và dặn bác ta đừng nói gì với cháu.”

“Nhưng Holmes này, sao ông lại phải cất công đến tận đây? Điều gì khiến ông cho rằng cháu đang gặp nguy hiểm? Hay đơn thuần chỉ là sự nghi ngờ cố hữu của ông?” Holmes có vẻ rất không thoải mái, không phải vì cái lưng đau. “Ông có thể đưa ra lý do nào đó... ”

“Không!” Mấy câu nói vừa rồi của tôi đã khiến Holmes phải hét lên, rõ ràng những hành động của ông ấy đang mâu thuẫn rành rành. “Có thể ta phải ở lại hiện trường, có thể chỉ cần một cú điện thoại cho cháu là xong, nhưng ta... phải nói thật với cháu rằng, ta không thể nào ngăn lại dòng suy nghĩ về cháu - nó như một tác dụng phụ lạ thường của cơn chấn động trong não vậy. Sáng sớm ngày thứ Ba, tất cả những gì ta có thể nghĩ tới là đến chiều phải tới được nơi cháu ở, và khi ta thấy mình có thể đi... ta đã đi.”

“Thật kỳ lạ,” tôi nói, và rõ ràng là thế thật. Tôi chẳng bao giờ nghĩ được rằng Holmes lại để sự yêu mến dành cho tôi cản trở việc điều tra một vụ án, dù não ông ấy có đang bị chấn động hay không. Tôi định mở miệng để phản công nhưng kịp thời kìm nén lại. Chân thành mà nói, ông ấy đã đúng.

“Thật kỳ lạ,” tôi nhắc lại, “nhưng cháu thấy mừng vì điều đó. Nếu như không có ông ở đó, chắc chắn cháu đã bước qua cánh cửa. Cháu đã thấy những dấu hiệu xáo trộn là hai vết xước nhỏ trên lỗ khóa, những chiếc lá và một vết bùn bẩn trên cửa sổ hành lang...”

“Cháu đã thấy nó.” Holmes bình thản đáp lại.

“Vâng. Không biết cháu có suy nghĩ chín chắn khi quyết định leo lên cây thường xuân vào một buổi tối như thế không nhỉ? Có lẽ là không. Dù sao đi nữa, ông đã đến, đã quan sát, mà chẳng liên lạc gì với cháu cả. Nhân tiện, cháu hỏi luôn, có phải ông cũng đã leo lên cây thường xuân đó, với cái lưng bị thương như thế? Hay là ông đã tìm cách để dỡ quả bom từ ngoài cửa ra vào?”

Holmes bắt gặp ánh mắt của anh trai mình và lắc đầu, vẻ thương hại đầy mỉa mai. “Con bé học quá nhiều nên mới thế này đây.” Rồi ông quay sang tôi. “Russell, cháu phải ghi nhớ các khả năng. Các khả năng, Russell à.”

Tôi bối rối mất một lúc, rồi nhận về mình sự thất bại.

“Cái thang, Russell. Có một cái thang ở phía bên kia khoảng sân. Mấy tuần vừa rồi chắc hẳn ngày nào cháu cũng phải nhìn thấy nó chứ.”

Cả Holmes và anh trai ông đều phá lên cười khi nhìn thấy khuôn mặt đỏ bừng xấu hổ của tôi.

“Thôi được rồi, cháu đã hoàn toàn bỏ qua chi tiết đó. Ông đã leo lên cái thang, gỡ quả bom, rồi chuyển cái thang ra chỗ khác, sau đó quay trở lại hành lang, đặt một chiếc lá và cố ý để lại một dấu vân tay không thể nhận diện. Nhưng Holmes, ông không thể nào để tên Dickson thoát như thế được. Phải có trục trặc nào đấy.”

“Ta tưởng sẽ bắt gặp gã trên phố, nhưng ta chỉ nhìn thấy những khuôn mặt cắm cúi vội vã bước đi trong mưa mà thôi.”

“Chứng tỏ gã Dickson hoặc tay trùm kia biết cháu rất rõ. Gã biết cháu ở phòng nào. Gã biết cả việc bà Thomas sẽ ở trong phòng và đợi đến khi bà ấy đi khỏi... có lẽ gã đã theo dõi bà ấy từ dưới đường. Gã đợi đêm xuống mới leo lên dây thường xuân, mang theo quả bom, rồi trèo qua cửa sổ, mở khóa, và bắt đầu hành động. Xong xuôi, gã lẻn ra ngoài cũng theo đường cửa sổ để trốn thoát, tất cả chỉ trong hơn một giờ đồng hồ. Dickson quả là một gã cao tay.”

“Còn nữa, ba mươi tiếng đồng hồ sau gã đã gây ra tai họa và toi mạng trong khi làm nổ tung một ngôi nhà trống không,” Holmes trầm ngâm.

“Russell đã đưa ra một luận điểm đáng để xem xét đấy,” Mycroft Holmes nói. “Đó là việc Dickson nắm quá rõ những thói quen của cô bé. Cũng như chúng nắm khá rõ nhất cử nhất động của chú.”

“Rằng em luôn kiểm tra những tổ ong của mình trước khi đi ngủ à? Hầu hết những kẻ nuôi ong đều làm như vậy mà?”

“Trong cuốn sách chú viết, chú đã tuyên bố đó là thói quen của chú.”

“Đúng như vậy, nhưng em cũng có thể kiểm tra vào sáng hôm sau chứ.”

“Tôi không thấy có sự khác biệt nhiều lắm,” ông Mycroft đáp.

“Em cho rằng mình nên mua một con chó.”

“Tuy nhiên, không có tài liệu nào được công bố mà tôi biết có nhắc tới Russell.”

“Dân làng ai chẳng biết.”

“Vậy nên, kẻ muốn hãm hại chú chắc chắn là kẻ đã đọc sách của chú, thông thuộc ngôi làng này, và thông thuộc cả Oxford nữa.”

“Thanh tra Lestrade chắc chắn sẽ biết những điều này,” Holmes nói.

“Còn phải xét đến chuyện có thể chúng dùng lũ trẻ con để đưa thông tin nữa.”

“Em rất ghét cái trò mua chuộc trẻ con của bọn sát nhân,” Holmes u ám nói.

“Đúng vậy, tôi đồng ý với chú, việc đó khiến lũ trẻ không được ngủ ngon và dẫn trở nên hư hỏng.”

“Ảnh hưởng cả đến việc học của bọn chúng nữa.”

“Nhưng mà là ai mới được cơ chứ?” tôi liều lĩnh xen ngang. “Là ai vậy? Chắc chắn không có quá nhiều kẻ căm thù ông đến mức không chỉ muốn giết ông mà còn muốn khử cả bạn bè ông, đồng thời có đủ tiền để thuê người gài bom và theo dõi chúng ta, lại còn đủ thông minh để có thể thực hiện tất cả những âm mưu này, đúng không?”

“Russell, chúng ta chưa thể có câu trả lời chính xác. Có rất nhiều kẻ phù hợp với tiêu chí thứ nhất, và đa phần bọn chúng đều có rất nhiều tiền, nhưng còn tiêu

chí thứ ba, ta thực sự bối rối. Trong tất cả những ‘người quen cũ’, ta không thể nghĩ ra kẻ thiên tài đứng đằng sau giật dây là ai.”

“Ông nói gì cơ, một ‘thiên tài’ ạ?” tôi hỏi lại.

“Đúng, một kẻ siêu phàm, chắc chắn là vậy. Thông minh, kiên nhẫn, ít nhất cũng có tiền, và hoàn toàn độc ác.”

“Nghe giống giáo sư Moriarty quá đi,” tôi giễu cợt, nhưng Holmes lại nghiêm trọng. “Đúng vậy, thật sự rất giống.”

“Ôi Holmes, không thể nào mà...”

“Ô không,” ông ấy vội nói thêm. “Ghi chép của bác sĩ Watson rất chính xác; người đàn ông đó đã chết. Không, có vẻ như đây sẽ là một tên Moriarty khác mà chúng ta không biết tới. Ta nghĩ đã đến lúc nối lại những mối quan hệ với thế giới tội phạm trong thành phố tươi đẹp này rồi.” Đôi mắt Holmes ánh lên trước viễn cảnh đó, tôi cảm thấy tim mình chùng xuống.

“Hôm nay ư? Chắc chắn là anh trai ông...”

“Mycroft chỉ say sưa với hoạt động gián điệp và những vụ đánh úp chính trị bất ngờ, ông ấy không chuyên về những kẻ đánh bom đã về vườn và những thằng nhóc lang thang trên đường phố đâu. Không, ta phải đi làm rõ một số chuyện đã.”

“Cháu sẽ đi với ông.”

“Cháu dứt khoát không được đi. Đừng nhìn ta như thế, Russell. Ta không thể lúc nào cũng bảo vệ được một cô bé non nớt như cháu, mặc dù ta thừa nhận là cháu rất thông minh. Đây là công việc chỉ phù hợp với những người đàn ông luôn sẵn sàng hóa thân từ một khách vãng lai thành một kẻ cặn bã của xã hội London thôi.”

“Nhưng còn lưng của ông?”

“Nó sẽ sớm khỏi thôi. Cảm ơn cháu.”

“Bác sĩ Watson đã nói như thế nào?” tôi cố chấp.

“Nói rằng nó nhanh khỏi hơn ta tưởng,” Holmes nói bằng một giọng rất rõ ràng. Tôi chịu thua.

“Ông muốn cháu vẫn ở lại đây cả ngày hôm nay sao?”

“Cũng không cần thiết, miễn là cháu không bị bám đuôi. Trên thực tế, tốt nhất là cháu nên rời khỏi đây mà không cho bọn chúng biết. Làm thế nào nhỉ? Phải rồi. Chúng ta giấu cái túi đồ hóa trang ở đâu, anh Mycroft?”

Mycroft nhấc thân hình nặng nề lên khỏi chiếc ghế và ra khỏi phòng. Holmes liếc mắt sang tôi.

"Russell, nếu như đến bảy giờ mà ta vẫn chưa tìm được gì thì chúng ta không cố nữa. Có một đêm diễn của người Ý tại nhà hát Covent Garden, chúng ta sẽ gặp nhau ở đó vào bảy giờ bốn mươi lăm, được chứ? Sau đó, tùy theo kết quả của ngày hôm nay, chúng ta sẽ quyết định xem nên trở về đây hay về nhà để chuẩn bị cho lễ Giáng sinh.”

Tôi xem câu nói cuối cùng này như một sự phù phiếm hơn là một khả năng thực tế. Chúng tôi đã dành cả Giáng sinh năm ngoái để giải phẫu một con cừu đực bị đầu độc. “Ta tin là cháu sẽ cẩn thận hơn trong ngày hôm nay. Hãy hòa mình vào đám đông, thi thoảng phải để ý phía sau nhé. Và phải luôn để tay gần khẩu súng, nhớ chưa?” Tôi cam đoan một lần nữa với Holmes rằng mình sẽ cố gắng làm tốt mọi chuyện để có thể đến chỗ hẹn theo đúng kế hoạch, ông còn tỉ mỉ hướng dẫn tôi cách rũ bỏ lớp cải trang và cả việc đột nhập vào Covent Garden.

[2]

Ông Mycroft bước vào phòng, cầm theo một cái túi cồng kềnh đặt xuống trước mặt Holmes, vẻ mặt có phần lo lắng.

“Chú dùng bữa trưa với tôi rồi hãy đi, Sherlock. Đừng kéo Russell ra ngoài trời lạnh kia thêm lần nữa mà không cho cô bé ăn uống gì, coi như tôi nài nỉ chú đó.”

“Được rồi, anh trai. Chuẩn bị các thứ cũng phải mất hàng giờ. Anh cứ gọi đó ăn trưa đi, em sẽ bắt đầu công cuộc hóa trang.”

“Khoan đã,” tôi nói, “ông phải gọi điện cho bà Hudson đã, Holmes.” Đó là một cuộc nói chuyện dài, và cuối cùng bà ấy cũng đồng ý là vài ngày tới sẽ ở nguyên chỗ của mình và không đến gần khu nông trang hay bệnh viện. Cuộc trò chuyện giữa tôi và Veronica Beaconsfield ngắn gọn hơn và thậm chí còn không được tự nhiên bằng cuộc trò chuyện của hai người kia - nói dối một người bạn thường ít khi thành công bằng việc nói dối một người lạ hoặc một người quê mùa thô kệch. Tôi buồn rầu quay lại bàn ăn vừa mới dọn lên, còn Holmes thì đang tự cải trang.

Phải nói là, tôi chỉ biết đứng đó nhìn, trong niềm khâm phục gần như kính sợ. Niềm đam mê với thách thức, khả năng gây ấn tượng tài tình, sự chú ý tỉ mỉ đến từng chi tiết và trí khôn tinh quái như cáo của Holmes lúc này đang được huy động triệt để. Ông ấy đã hóa trang thành chính anh trai mình.

“Thật may là bác sĩ Watson sẽ hy sinh bộ ria của mình để cải trang, nếu không thì ta sẽ phải dính một ít tóc ngay dưới cái mũi của cháu, Russell ạ. Mycroft, anh có thể lấy giúp em chiếc quần và áo khoác mà vị khách của chúng ta đã mặc không, ở trên giường ngủ ấy, à, tìm cho em mấy tấm lót vừa vặn và kiếm cho em thật nhiều băng dính nữa.” Dưới bàn tay của Holmes, bột màu đang được quết đầy lên hai má tôi, những sợi tóc được gắn thêm vào đôi lông mày, những đường kẻ và những nếp nhăn được vẽ đầy lên mặt. Ông ấy nhìn tôi đầy vẻ trách cứ. “Đừng có động đậy nhiều như thế. Bây giờ ta sẽ xé mấy tấm chăn này ra, còn cháu hãy tìm cách để giảm bớt chiều cao của mình đi. Cởi cái áo đấy ra, Russell,” ông ấy nói một cách lơ đãng, và khi tôi vừa đặt tay lên cổ áo thì có tiếng đằng hắng của Mycroft ngay phía sau lưng chúng tôi.

“Có cần thiết phải làm vậy không Sherlock? Có thể dính băng dính ra ngoài quần áo của cô bé mà?”

“Cái gì?” Holmes ngước nhìn lên và hiểu ngay việc gì đang xảy ra. “À, đúng rồi, em cũng nghĩ như vậy.” Ông ấy có vẻ bối rối. “Nào, đến đây.”

Những miếng lót khiến người tôi phình ra như thân hình của bác sĩ Watson; rồi chiếc mũ của bác ấy, cái khăn, và cả đôi găng tay nữa, tôi chỉ để hở mỗi khuôn mặt đã được hóa trang; cái kính của bác ấy thì gần giống kính của tôi nên tôi giữ lại kính cho mình, ơn Chúa.

Holmes cũng lót thêm mấy miếng lót cho mình, và chúng tôi trông hệt như hai xác ướp Ai Cập béo phị trở về từ cõi chết. Ông ấy chỉnh lại bộ quần áo của anh trai trên người một cách cẩn thận và sửa lại những nét vẽ trên khuôn mặt lần cuối cùng.

“Bây giờ cùng xem lại kế hoạch của chúng ta nhé. À, Watson đây rồi, anh đến đúng lúc quá.”

“Holmes? Anh phải không? Quần của tôi đâu? Anh đang làm cái trò gì vậy?” Giọng nói ngái ngủ, bối rối của bác Watson thật ngộ nghĩnh trong cái tình huống liều lĩnh này, và tôi bắt đầu cười khúc khích. Mycroft/Holmes nhìn tôi đầy ngờ vực, nhưng khi Mycroft thật bước vào thì Holmes bèn nhoẻn miệng cười trừ.

“Anh bạn thân mến của tôi, chúng ta đang chạy trốn. Những kẻ thù địch hoặc là đã bám theo anh đến tận đây, hoặc chúng đã ở sẵn đây rồi. Nếu như chúng bám theo anh, có thể chúng chưa phát hiện ra tôi mà chỉ biết là Russell đang ở đây. Có quá nhiều giả định, và tôi cần làm rõ sự thật. Giờ tôi sẽ rời khỏi đây, bằng việc cải trang thành anh trai tôi. Russell cũng sẽ rời khỏi đây hai mươi phút sau đó, cô bé sẽ cải trang thành anh, Watson. Tôi sẽ rẽ về bên phải khi ra ngoài cửa chính, vì tôi cải trang có vẻ giống hơn. Russell sẽ rẽ về bên trái. Hai mươi phút sau khi cô bé rời khỏi, hai người các anh sẽ khởi hành, cùng nhau, không được đội mũ, và đi thật chậm về bên phải ra đường lớn. Cứ mang theo súng nhé, dù tôi tin rằng chúng sẽ thích thú với việc đuổi theo chúng ta hơn là giết người ngoài đường ngay giữa ban ngày. Watson, đi với Mycroft anh sẽ được an toàn. Chúng ta sẽ gặp nhau ngay khi có thể.”

Holmes đội cái mũ của Mycroft lên đầu, kéo sụp xuống và lờ đi nụ cười của chúng tôi với vẻ mỉa mai thường thấy. Ông còn quấn cái khăn dày bịch của Mycroft quanh cổ, thêm đôi găng tay da nữa. Khuôn mặt của Mycroft, nhưng đôi mắt vẫn là của Holmes. Ông nhìn tôi nói: “Bảy giờ bốn mươi lăm phút, nhớ nhé, Russell, tại nhà hát. Cháu biết phải làm những gì rồi đấy. Và vì Chúa, hãy cẩn thận.”

“Holmes?” Là bác sĩ Watson, bác ấy có vẻ ngập ngừng. “Anh bạn của tôi, anh sẽ ổn chứ? Ý tôi là, vết thương ấy. Anh có cần gì không? Tôi có một chai morfine ở trong túi... ” Bác ấy ngượng ngập bỏ lửng câu nói. Holmes kinh ngạc, rồi bắt đầu cười rũ ra đến nỗi những lớp trang điểm trên mặt tưởng chừng như sắp rơi ra hết.

“Sau tất cả những chuyện này...” Holmes cười khùng khục, “anh muốn đưa tôi một chai morfine? Ôi anh bạn thân mến của tôi, đúng là anh có biệt tài trong việc vẽ ra những điều không cần thiết.” Ông ấy dịu giọng lại và rướn một bên lông mày với vẻ nhạo báng. “Anh biết thừa là tôi không bao giờ dễ dãi với chính bản thân mình khi phá án, đúng không Watson?” Nói rồi ông chỉnh lại lớp bột trên má và đi khỏi.

Khi Holmes đi xuống phố, thằng bé ăn xin rách rưới vội lẩn ra xa khỏi lão già mù rồi biến mất. Rồi đến lượt tôi. Tôi quay sang bắt tay Mycroft, hấp tấp ngả người về phía trước và hôn vào má ông để cảm ơn. Mặt ông ấy lập tức đỏ bừng. Bác sĩ Watson cũng ôm tôi với cái ôm của một ông bác dành cho cô cháu gái, rồi tôi đi ra cửa, túi thuốc màu đen trong tay, khẩu súng để sẵn trong túi áo.

Khi cánh cửa đóng lại sau lưng tôi, tôi cảm thấy có những ánh mắt đang dõi theo mình. Bác Watson và ông Mycroft vẫn đứng nhìn theo tôi từ cửa sổ phía trên kia, nhưng còn những con mắt khác, con mắt của kẻ thù, ít nhất là từ con đường phía sau lưng tôi. Tôi cố bắt chước dáng đi chậm chạp và khập khiễng của bác sĩ Watson, tôi không thể nào lao như tên bắn trên đường như mọi khi mà phải lê bước thật khó nhọc qua những vũng bùn, hệt như một ông bác sĩ già nua trên đường trở về nhà. Theo những chỉ dẫn tỉ mỉ của Holmes trước đó, tôi vẫy một chiếc xe, rồi lại thay đổi ý định. Tôi xuống xe, cuốc bộ về hướng Tây, như thể đi về hướng công viên Green Park, rồi vẫy tiếp một chiếc xe khác. Tôi lại xuống xe, và lại vẫy tiếp chiếc thứ ba, với vẻ cảnh giác. Tôi nói với người đánh xe địa chỉ của nhà bác Watson bằng một giọng cộc lốc, nhưng khi đi vòng qua đường Park Lane tôi lại nói ra một địa chỉ khác. Tôi xuống tòa nhà mà Holmes đã dặn trước, trả cho người đánh xe một cách hào phóng rồi đi vào bên trong, kiểm tra “túi đồ nghề bác sĩ” (thật ra là trống rỗng) của mình với một vẻ chăm chú. Rồi tôi đi lên tầng ba - không quên ngoái lại nhìn những bậc cầu thang phía sau - và đi qua phòng trà để ra ngoài hành lang, cuối cùng tôi cũng nhìn thấy một căn phòng đề hai chữ “Nhà kho”. Tôi dùng chìa khóa mà Holmes đã đưa để mở cửa vào. Bật công tắc đèn lên, tôi đóng cửa lại, khạc ra miếng bột nhồi trong miệng, dựa người vào cánh cửa, rồi thở phào nhẹ nhõm.

Cuối cùng thì mọi chuyện cũng đầu xuôi đuôi lọt. “Nhà kho” này là một trong những nơi ẩn náu của Holmes, những góc ẩn náu nhỏ bé hầu như không thể bị phát hiện rải rác khắp thành phố London này, từ Whitechapel cho đến Whitehall. Bác sĩ Watson đã từng nhắc đến chúng trong các câu chuyện của mình, và Holmes cũng từng kể cho tôi nghe về chúng, nhưng tôi chưa bao giờ thực sự được bước chân vào một nơi như thế.

Đúng như cái tên của nó, căn phòng kín như bưng, toàn mùi ẩm mốc này lại có đầy đủ mọi thứ cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày và rất nhiều những thiết bị tinh vi để chủ nhân của nó có thể thay hình đổi dạng. Ba cái giá bằng kim loại phình ra với khối lượng váy áo phụ nữ chiếm đến một phần tư không gian, và một cái bàn trang điểm khổng lồ bừa bộn ngổn ngang nào lọ, bút chì, các loại hũ, phía trên là một tấm gương tường được bao quanh bởi những bóng đèn điện, chiếm một phần tư không gian nữa. “Nhà bếp” có một chậu rửa tay ố vàng, một bình đun nước nhỏ, một cái bếp hơi hình vòng và hai cái nồi. Còn có một cái ghế ngay cạnh chiếc bàn, hình như là một thứ đồ gỗ Chippendale1 đẹp đẽ, giờ đã loang lổ những vết màu như thể nó từng dành nửa cuộc đời để phục vụ một người họa sĩ già. Cạnh đó là cái ghế sofa dài, chiếm hơn một phần tư không gian nữa và trông như thể được lôi ra từ một gầm cầu nào đó, và một bức bình phong lòe loẹt kiểu Trung Quốc đặt đằng sau “nhà bếp”. Đằng sau tấm bình phong, đúng như tôi đã đoán, là một nhà vệ sinh còn rất mới, và tôi chợt nhận ra nó yên tĩnh khác thường.

[3]

Lục sục một hồi, tôi bắt đầu lột những lớp cải trang ra. Quần áo, mũ, râu ria... tất cả được tống gọn vào một cái thùng mà tôi đoán là thùng rác được đặt sau ghế sofa, còn những lớp trang điểm thì được rửa trôi ở cái chậu rửa tay. Chiếc áo sơ mi của tôi sau khi bị dính băng dính để tạo dáng cho phần vai giờ đã trở nên rúm ró, thế là tôi đành lục lọi tất cả giá quần áo, và sau khi tìm được một bộ lễ phục, một cái quần chẽn gối thụng bằng vải tuýt nằm liền kề một cái áo lễ bằng vải lanh, một tấm áo chùng thêu kim tuyến, một cái quần kiểu hoàng tử Ấn Độ, rồi cả một bộ váy màu đỏ đẹp lộng lẫy, tôi đã chọn được cái váy dài bằng vải cotton có thêu hoa văn thay cho cái áo mà tôi đã tống vào thùng rác.

Trong bếp, tôi tìm thấy một hộp trà nhỏ, cái ấm và vài hộp sữa, thế nên tôi pha trà, rót cho mình một tách và mang đến bàn trang điểm. Tôi nhấm nháp từng ngụm và ngồi lục lọi mọi thứ trên bàn trang điểm, căn phòng kỳ lạ này đã thực sự khiến tôi chú ý. Một người thế nào mà lại tích trữ cả một ngăn kéo ngập đầy những bộ râu ria giả như thế kia? Tôi suy nghĩ. Lại còn cái giá để tóc giả nữa: một bộ tóc hoe đỏ, một bộ tóc giả đen mượt dùng để đội thêm và một bộ tóc xoăn vàng của phụ nữ, chúng được xếp cạnh nhau chẳng khác nào mấy cái đầu người cắm lên những ngọn thương. Mà, có thực sự là Holmes có thể mặc những bộ váy dài kiểu thế này không? Có bao nhiêu người đàn ông bình thường lại tích trữ những dải ruy-băng buộc tóc rủ xuống từ ngăn kéo, một bộ sưu tập quần áo lót phụ nữ loại có đệm, ba đôi mi giả, hai tá cà vạt và nơ thắt, một hộp xì gà khủng khiếp đựng đầy mấy bộ răng giả? Và, quan trọng hơn, tại sao Holmes che mắt được thiên hạ? Bằng cách nào ông ấy có thể mang cái ghế sofa lên trên này mà không ai thắc mắc, lại còn cái gương tường kia nữa? Cứ cho rằng đây là một tòa nhà lớn và nhộn nhịp, nhưng chẳng lẽ không có ai chú ý đến những tiếng ồn bất thường thỉnh thoảng lại phát ra từ căn phòng kho, tiếng nước chảy hàng đêm, và việc đi đi về về của một kẻ kỳ quặc hay sao? Holmes sẽ làm gì, nếu như trong khi đang cải trang thành một nhân vật cực gớm ghiếc, thì bị bắt gặp và buộc phải giải thích về sự xuất hiện của mình? Ai đã lắp cái chậu rửa và toilet? Và vì Chúa, ai đã trả tiền ga, tiền điện nước? Tôi cứ thế miên man suy nghĩ.

Càng nghĩ về những điều này, tôi càng thấy tò mò. Sao Holmes lại phải ẩn mình, phải cầm cự cuộc sống trong một cái "ổ" ngột ngạt như thế này? Có vô số đồ hộp đựng các loại thức ăn linh tinh, hai tấm chăn du lịch phủ bừa bãi trên ghế sofa, ba bao thuốc lá, nửa ký cà phê, những tờ báo y tế, những bộ sách nghiên cứu về triết học, những quyển tiểu thuyết bìa xanh nhạt, và những tờ báo cũ rích đến nỗi có thể được xếp vào hàng cổ vật - tất cả đều cho thấy căn phòng này chỉ giúp con người cầm cự lâu dài chứ không phải là một nơi ẩn náu an toàn hay tiện lợi. Với chiều cao của mình, Holmes không thể nào ngủ thoải mái ở cái ghế sofa kia được. Đây rõ ràng cũng không phải là một nơi thoáng đãng để nghỉ ngơi.

Không, chắc chắn phải có lý do nào đó.

Căn phòng rõ ràng mới được sử dụng: những lá chè vẫn còn khá tươi, những lớp bụi không phủ nhiều trên mặt bàn và cái ấm pha trà, không khí trong căn phòng dù có mùi ẩm mốc nhưng không đến nỗi quá ngột ngạt và còn thoảng mùi thuốc lá. Tôi lắc đầu và càng lúng túng. Holmes đang thực sự làm gì? Còn tôi nên làm gì tiếp theo đây? Tất nhiên là, tôi có thể ở lại đây chờ đợi đến giờ đi gặp ông ấy, và, so với những quả bom cùng lũ giết người xảo quyệt, thì những hộp trà nhỏ, những hộp đậu, cùng mấy quyển tiểu thuyết bìa xanh nhạt kia rõ ràng là hấp dẫn hơn nhiều.

Nhưng Holmes vẫn còn ở ngoài đường, Mycroft và bác sĩ Watson thì đang phải tìm đến nơi trú ẩn mới. Nếu tôi cứ ngồi ru rú trong cái xó này mà trùm chăn lên đầu thì thật bất nghĩa và hèn nhát. Nghe có vẻ phi lý, nhưng điều đó là sự thật. Có thể tôi sẽ không làm được việc gì cả, nhưng sự tự trọng đã thôi thúc tôi rằng mình không nên bị dọa dẫm bởi kẻ tấn công vô danh này, dù hắn có độc ác và xảo quyệt đến đâu.

Khi bốn năm chiến tranh qua đi, tiêu chuẩn ăn vận rõ ràng đã trở nên ít khắt khe hơn, ngay cả tầng lớp quý tộc cũng đôi khi bị bắt gặp đang mặc trên người những bộ quần áo mà trước năm 1914 chỉ dành cho hầu gái hoặc nằm lẫn trong đống quần áo bán hạ giá. Mặc dù vậy, tôi vẫn phải mất một lúc mới chọn được cho mình một bộ trong bộ sưu tập của Holmes. Đó là một cái váy may bằng vải tuýt và tôi sẽ phải xắn lên cho đỡ dài, cùng một cái áo choàng trông đỡ giống áo của vợ anh hàng thịt nhất. Bít tất thì có cả tá, nhưng tôi gần như từ bỏ việc tìm kiếm cho mình một đôi giày vừa vặn. Bàn chân của Holmes lớn hơn bàn chân tôi, và việc lựa chọn những đôi giày phụ nữ của ông ấy có phần hơi hạn chế. Cuối cùng, tôi cầm lên một đôi giày đen tồi tàn với một cái quai ngang mu bàn chân và thấy rằng ít nhất mình cũng có thể đi bộ khi mang chúng.

Tôi bật một loạt bóng đèn lên và ngồi xuống bàn trang điểm. Có bao nhiêu người con gái được dạy những kỹ thuật trang điểm tỉ mỉ từ một người đàn ông? Tôi ngẫm nghĩ vu vơ rồi đeo một chuỗi ngọc trai (thật) và một đôi khuyên tai (giả), sau đó quấn tóc lại bằng một mảnh vải cắt ra từ chiếc khăn choàng cổ. Xong xuôi, tôi đứng ra xa cái bàn để ngắm mình trong gương.

Chẳng có thứ gì vừa vặn với tôi cả, chẳng có thứ gì phù hợp hết, mà chân tôi lại đang rất đau. Vành kính của tôi chuyển sang màu sẫm vì tôi đã quết một loại sơn móng tay màu nâu kỳ quặc lên nó, thế là tôi đành miễn cưỡng bỏ chúng lại. Cất gọn bộ quần áo của bác sĩ Watson đi, tôi tắt đèn, hít một hơi thật sâu, một tay giấu sẵn vào trong túi, và mở cửa.

Không có quả bom nào nổ, không có viên đạn nào bay tới, không có bàn tay thô ráp nào tóm lấy gáy tôi. Tôi đóng cánh cửa lại và bắt đầu bước ra ngoài, trên tay là số tiền mà tôi đã rất xấu hổ khi phải hỏi vay từ anh em nhà Holmes.

---❊ ❖ ❊---

CHÚ THÍCH

[1] 1 Đây là một câu trích trong Kinh Thánh: “Quả thật, trọn đời tôi phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi; Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài.” (Psalms 23:6)

[2] 1 Giáo sư James Moriarty là nhân vật phản diện trong bộ truyện về Sherlock Holmes của Conan Doyle. Nổi tiếng bởi sự thông minh và là người giật dây phần lớn tội ác ở Anh quốc, ông được mệnh danh là Napoleon trong giới tội phạm nhờ vào tài năng tổ chức và thao túng tội ác của mình. Ông được xem là đối thủ đáng gờm nhất của Holmes.

[3] 1 Chippendale: Một kiểu đồ gỗ ở Anh vào thế kỷ mười tám.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của laurie r. king