Nguời Vợ Ngoại Tình

Lượt đọc: 13798 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG III

Sáng hôm sau, khi ngủ đậy Ánh thấy thầy Ký Lợi đang đứng trước công viên bên cửa chợ, Nàng bận áo ngủ. Chàng nhìn lên cửa sổ và chào nàng. Ánh gật đầu chào lại rồi vội khép cánh cửa sổ.

Cả ngày hôm ấy thầy Ký Lợi sốt ruột chờ cho đến sáu giờ tối, chàng hy vọng sẽ gặp lại vợ chồng ông Bô ở quán Sư Tử Vàng, nhưng khi đến nơi, chàng thất vọng biết là chừng nào khi chỉ thấy có mỗi một Me Sừ Xếp Phan, ngồi lầm lì trước dĩa súp.

Bữa ăn tối hôm qua đã là một sự việc trọng đại trong đời Lợi. Từ trước đến nay chưa bao giờ chàng được ngồi nói chuyện suốt hai tiếng đồng hồ liền với một bà lịch sự. Lợi vẫn có cộ tính nhút nhát, không biết phải ăn

nói làm sao trước mặt một người đẹp. Ở quận Bình Đô, dư luận chung vẫn coi Lợi là thanh niên tư cách đàng hoàng lắm, chàng chịu khó nghe lời giảng dạy của các vị có tuổi và không tỏ ra nhiệt thành về những vấn đề chính trị mấy. Sau nữa chàng lại tỏ ra là người có tài, chàng biết vẽ tranh, biết đàn hát, thỉnh thoảng lại nói chuyện văn chương. Ông Cả Bài trọng chàng vì chàng có học, bà Cả Bài mến chàng vì chàng dễ dãi với bọn nhỏ. Đôi khi vào những buổi chiều chủ nhật, chàng thường vui vẻ dẫn bọn Cả Bài con đi ra bờ sông dạo mát. Bọn này gồm năm đứa bẩn thỉu, bê bối, hỗn láo, mất dạy và xanh bủng, xanh beo, vợ chồng Cả Bài nuông chiều con ra mặt, và nuôi chúng bằng những phương pháp bất chấp cả phép vệ sinh. Ngoài con ở ra để phục dịch bọn oắt con này, nhà Cả Bài còn có thằng Chút, một đứa cháu họ xa của Cả Bài, Cả Bài đem nó về nuôi giúp việc nhà, vừa khỏi phải trả tiền công ở, mà lại được tiếng là nuôi cháu.

Với vợ chồng Bô, lão Cả Bài tỏ ra là một người bạn láng giềng tử tế nhất đời. Lão sốt sắng cho bà Bô biết những điều cần biết về bọn cung cấp thực phẩm trong quận. Lão đặc biệt cho gọi nhà bán rượu cho lão đến tận nơi, uống thử rượu, và mặc cả giá dùm bà Bô, rồi còn đốc thúc bọn phu phải đặt thùng rượu cho thật ngay ngắn dưới hầm. Cả Bài tự trao cho lão cái trọng trách là phải săn sóc phải giúp đỡ những việc vặt cho gia đình y sĩ mới đến, nhưng lão làm thế chẳng phải là vì lão có tính hay giúp người, nhưng chính là lão có một mục đích.

Trước đây, đã có lần lão vì phạm đạo luật mười chín Ventose XI, điều I/360. Điều này cấm ngặt những người không có bằng cắp y sĩ được quyền xem mạch, kê đơn, khám bệnh cho người bệnh. Bởi vậy cho nên sau những lời tố cáo của dăm ba kẻ xấu bụng, xấu dạ nào đó. Cả Bài đã bị biện lý cuộc ở tỉnh mời đến để cảnh cáo. Ông Biện lý đã tiếp lão trong phòng lấy khẩu cung với một vẻ lạnh nhạt và nghiêm khắc đáng sợ. Lúc ấy là giờ sắp xử án. Cả Bài nghe tứ phía vang vang những tiếng giày đinh cồm cộp của lính cảnh sát đi lại ngoài hành lang và hình như có cả tiếng xích sắt kéo lê sền sệt nữa. Lão sợ toát cả mồ hôi, lão đã tưởng tượng cảnh lão bị tù đầy; bị hành hạ, gia đình lão tan nát, cửa tiệm của lão về tay người khác ..v..v... Vừa ra khỏi Tòa

án lão đã phải cấp tốc vào ngay tiệm nước uống một ly nước đá chanh cho lại hồn.

Thế rồi lâu dần, những cảm giác kinh khủng phai nhạt đi, và Cả Bài lại tiếp túc chẩn những bệnh vặt cho các bệnh nhân cảm mạo vớ vẩn au quầy hàng của lão như cũ. Nhưng lão biết ông Quận Trưởng quận này thù lão, và trong quận có nhiều kẻ ghen ghét lão, vì vậy lão phải cẩn mật đề phòng. Lão cố lấy cảm tình của Bô để Bô khỏi làm điều gì có hại cho lão,  nếu chẳng may chàng biết rằng lão cũng khám bệnh như chàng tức là tranh khách, là đụng chạm tới nghề nghiệp của chàng, và để tỏ cho thiên hạ biết rằng lão cũng có vây cánh. Do đó, mỗi buổi sáng, lão đều cẩn thận bắt thằng Chút cầm tờ báo đưa qua cho ông Bô coi trước rồi đến trưa, lão mới  xin về coi sau, và buổi chiều, thỉnh thoảng lão lại bỏ tiệm thuốc, tạt qua nhà ông Bô trò chuyện mấy câu, thân mật như người nhà vậy,

Những ngày đầu tiên ở quận Bình Đô, Bô cảm thấy buồn bã vô cùng: thân chủ không thấy đến. Chàng ngồi sì sì cả ngày, không nói, không cười, buổi chiều chàng ngủ dài trong phòng khám bệnh, hoặc ngồi xem vợ khâu vá. Để cho có việc làm, chàng vẽ chuyện sửa chữa, sơn phết lại nhà cửa. Nhưng những chuyện thiếu hụt về tiền làm cho chàng rối trí. Chàng đã tiêu quá nhiều về căn nhà cũ ở quận Ông Tố, về mục y phục mới cho vợ, về chuyện dọn nhà vừa qua, thành thử cả số tiền hồi môn của vợ chàng đã tiêu tan hết, Rồi, lại thêm biết bao nhiêu là cái hư hại, hoặc mất mát trong chuyến dọn nhà từ Ông Tố đến Bình Đô, đó là chưa kể đến bức tượng ông thầy tu cụt một chân bị đứt dây buộc rớt xuống đường vỡ tan ra từng mảnh.

Nhưng một nỗi lo ngại khác sung sướng hơn đã đến với Bô. Đó là sự thai nghén của vợ chàng. Càng đến gần ngày sinh, chàng càng thương vợ hơn. Khi chàng thấy nàng chậm chạp đi lại trong phòng bụng to, chân đi dép mỏng, hoặc khi thấy nàng ngồi uể oải trên ghế, với một dáng điệu mệt nhọc, thì chàng không thể nào dằn được sự sung sướng nữa. Chàng hôn nàng, chàng nựng nịu nàng, kêu nàng là Má. Ý tưởng sắp có con làm cho chàng thấy đời chàng có một lẽ sống thần tiên. Chàng không còn thiếu thốn gì hết cả.

Về phần Ánh, trước hết nàng cảm thấy là lạ khi biết mình có thai, rồi nàng muốn cho chóng đẻ ngay để xem cảm giác làm Mẹ nó như thế nào. Nhưng, vì không có đủ tiền để mua cho đứa bé sắp chào đời một chiếc nôi bằng gỗ mun khảm xà cừ, với nệm gối bằng lụa sa tanh xanh, và chiếc mùng màu hồng, trong một phút cay đắng, Ánh đặt mua một lô quần áo cho con tại nhà một chị thợ may trong quận, nàng chẳng chọn lựa gì hết nữa. Nàng không chịu vui với những công việc may sắm sửa soạn cho đứa con sắp ra đời như những người mẹ có con, vì vậy, tình thương của nàng đối với đứa con, ngay từ phút đầu tiên, đã thiếu mất một cái gì đáng quý rồi.

Nàng muốn có một đứa con trai, nàng muốn tóc nó sẽ đen, mắt nó sẽ to và sáng, nó sẽ bạo dạn, sẽ hiên ngang, và nàng sẽ đặt tên cho nó là Hùng hoặc Dũng. Ý muốn có con trai cũng là một niềm hy vọng được trả thù tất cả những sự thua thiệt mà nàng đã phải chịu, vì nàng là con gái. Đàn ông, ít nhất cũng được tự do sống theo ý muốn của mình, được có những ham mê, được đi đây đi đó. Con người đàn bà như một chiếc mủ bị gió lộng muốn bay, nhưng còn có chiếc giải mũ giữ lại...

Nàng sinh nở vào một buổi sáng chủ nhật, vào lúc sáu giờ khi mặt trời vừa mọc.

- Con gái em à!

Nghe xong câu nói của chồng, Ánh kêu lên một tiếng rồi ngất đi. Ngay lúc đó, bà Cả tất tả chạy đến, hỏi han     tíu tít. Lão Cả Bài, tỏ ra là người giữ ý tứ, chỉ nói vài lời chúc tụng qua cánh cửa. Lão đòi xem mặt đứa bé và khen nó giống bố như đúc.

Mấy ngày sau đó, Ánh bận tâm tìm chọn một cái tên cho con. Nàng lẩn quẩn vớí những cái tên hoa : Hồng, Huệ, Mai, Lan, rồi Nhung, Vân, Tuyết, Ngọc, Bích v.v... Bô muốn đặt tên con gái cũng là Ánh, như tên mẹ, nhưng Ánh gạt đi. Nàng giở lịch ra xem các tên thánh, và sau cùng hỏi ý kiến mọi người.

Lão Cả Bài bàn :

- Bữa nọ, nhân nói chuyện với thầy Lợi, tôi thấy thầy ấy có ý muốn nói tại sao bà Đốc không chọn mấy cái tên có chữ Kiều đứng đầu, như Kiều Oanh, Kiều Vinh chẳng hạn. Kiều tên ấy hợp thời gian.

 Nhưng bà Quản Bành lại nhất định phản đối cái tên Kiều ấy, bà cho rằng con gái mà đặt tên theo cô Kiều thì sau nầy lại phong trần như cô Kiều mà thôi.

Thế rồi, chợt nhớ đến một cô bạn gái nhỏ nhắn dễ thương ngày xưa ở trong trường Nhà Trắng tên là Quỳnh; Ánh liền chọn tên Quỳnh cho con gái. Vì ông Năm Hòa ở xa không đến được, nên ông cả Bài được mời làm cha đỡ đầu. Ông ta đem đến cho đứa bé một lô quà tặng gồm toàn các món đồ băng, bông gòn, phấn, kẹo ế để mốc ra không bán cho ai được.

Nhân dịp có cháu nội, ông Quản Bành đến Bình Đô và ở lại chơi cả tháng. Ông làm cho dân quận phải lóa mắt vì cái mũ nhà binh có năm bẩy ngôi sao bạc và hai nhành dương liễu sáng chói mỗi buổi sáng ông vẫn đội ra ngồi uống cà phê trước hiên quán cà phê Sư Tử Vàng. Buổi chiều, buổi tối, ông ra ngồi đây hút thuốc ‘‘Píp’’ và uống rượu. Lẽ cố nhiên bao nhiêu tiền đều ghi vào sổ nợ của ông con. Ở nhà, ông Quản xài gần hết mấy chai nước hoa của Ánh.

Ánh thích được nghe ông Bô chồng kể chuyện. Trước kia ông Quản là người đã đi du lịch nhiều.  Ông tả cho nàng nghe về sông Đa Nuýp, về thành Bá Linh, về Ba Lê, về thời gian ông còn trẻ và làm sĩ quan, về những người đàn bà đẹp mà ông đã được yêu, về những chuyện động trời mà ông đã được dự. Rồi ông lại đùa cợt nàng, hay khen tặng nàng những câu làm cho bà Quản tái cả người. Bà lo sợ cho hạnh phúc của con trai, và sợ rằng những câu chuyện của ông chồng sẽ có ảnh hưởng xấu trên tư tưởng của cô con dâu, bà tức tốc dục ông Quản đi về cho bằng được. Có lẽ bà sợ để lơ là sẽ có nhiều việc không đẹp xảy ra chăng? Vì bà biết ông Quản Bành là người không kiêng nể gì cả.

Bữa ăn tối hôm qua đã là một sự việc trọng đại trong đời Lợi. Từ trước đến nay chưa bao giờ chàng được ngồi nói chuyện suốt hai tiếng đồng hồ liền với một bà lịch sự. Lợi vẫn có cộ tính nhút nhát, không biết phải ăn

nói làm sao trước mặt một người đẹp. Ở quận Bình Đô, dư luận chung vẫn coi Lợi là thanh niên tư cách đàng hoàng lắm, chàng chịu khó nghe lời giảng dạy của các vị có tuổi và không tỏ ra nhiệt thành về những vấn đề chính trị mấy. Sau nữa chàng lại tỏ ra là người có tài, chàng biết vẽ tranh, biết đàn hát, thỉnh thoảng lại nói chuyện văn chương. Ông Cả Bài trọng chàng vì chàng có học, bà Cả Bài mến chàng vì chàng dễ dãi với bọn nhỏ. Đôi khi vào những buổi chiều chủ nhật, chàng thường vui vẻ dẫn bọn Cả Bài con đi ra bờ sông dạo mát. Bọn này gồm năm đứa bẩn thỉu, bê bối, hỗn láo, mất dạy và xanh bủng, xanh beo, vợ chồng Cả Bài nuông chiều con ra mặt, và nuôi chúng bằng những phương pháp bất chấp cả phép vệ sinh. Ngoài con ở ra để phục dịch bọn oắt con này, nhà Cả Bài còn có thằng Chút, một đứa cháu họ xa của Cả Bài, Cả Bài đem nó về nuôi giúp việc nhà, vừa khỏi phải trả tiền công ở, mà lại được tiếng là nuôi cháu.

Với vợ chồng Bô, lão Cả Bài tỏ ra là một người bạn láng giềng tử tế nhất đời. Lão sốt sắng cho bà Bô biết những điều cần biết về bọn cung cấp thực phẩm trong quận. Lão đặc biệt cho gọi nhà bán rượu cho lão đến tận nơi, uống thử rượu, và mặc cả giá dùm bà Bô, rồi còn đốc thúc bọn phu phải đặt thùng rượu cho thật ngay ngắn dưới hầm. Cả Bài tự trao cho lão cái trọng trách là phải săn sóc phải giúp đỡ những việc vặt cho gia đình y sĩ mới đến, nhưng lão làm thế chẳng phải là vì lão có tính hay giúp người, nhưng chính là lão có một mục đích.

Trước đây, đã có lần lão vì phạm đạo luật mười chín Ventose XI, điều I/360. Điều này cấm ngặt những người không có bằng cắp y sĩ được quyền xem mạch, kê đơn, khám bệnh cho người bệnh. Bởi vậy cho nên sau những lời tố cáo của dăm ba kẻ xấu bụng, xấu dạ nào đó. Cả Bài đã bị biện lý cuộc ở tỉnh mời đến để cảnh cáo. Ông Biện lý đã tiếp lão trong phòng lấy khẩu cung với một vẻ lạnh nhạt và nghiêm khắc đáng sợ. Lúc ấy là giờ sắp xử án. Cả Bài nghe tứ phía vang vang những tiếng giày đinh cồm cộp của lính cảnh sát đi lại ngoài hành lang và hình như có cả tiếng xích sắt kéo lê sền sệt nữa. Lão sợ toát cả mồ hôi, lão đã tưởng tượng cảnh lão bị tù đầy; bị hành hạ, gia đình lão tan nát, cửa tiệm của lão về tay người khác ..v..v... Vừa ra khỏi Tòa

án lão đã phải cấp tốc vào ngay tiệm nước uống một ly nước đá chanh cho lại hồn.

Thế rồi lâu dần, những cảm giác kinh khủng phai nhạt đi, và Cả Bài lại tiếp túc chẩn những bệnh vặt cho các bệnh nhân cảm mạo vớ vẩn au quầy hàng của lão như cũ. Nhưng lão biết ông Quận Trưởng quận này thù lão, và trong quận có nhiều kẻ ghen ghét lão, vì vậy lão phải cẩn mật đề phòng. Lão cố lấy cảm tình của Bô để Bô khỏi làm điều gì có hại cho lão,  nếu chẳng may chàng biết rằng lão cũng khám bệnh như chàng tức là tranh khách, là đụng chạm tới nghề nghiệp của chàng, và để tỏ cho thiên hạ biết rằng lão cũng có vây cánh. Do đó, mỗi buổi sáng, lão đều cẩn thận bắt thằng Chút cầm tờ báo đưa qua cho ông Bô coi trước rồi đến trưa, lão mới  xin về coi sau, và buổi chiều, thỉnh thoảng lão lại bỏ tiệm thuốc, tạt qua nhà ông Bô trò chuyện mấy câu, thân mật như người nhà vậy,

Những ngày đầu tiên ở quận Bình Đô, Bô cảm thấy buồn bã vô cùng: thân chủ không thấy đến. Chàng ngồi sì sì cả ngày, không nói, không cười, buổi chiều chàng ngủ dài trong phòng khám bệnh, hoặc ngồi xem vợ khâu vá. Để cho có việc làm, chàng vẽ chuyện sửa chữa, sơn phết lại nhà cửa. Nhưng những chuyện thiếu hụt về tiền làm cho chàng rối trí. Chàng đã tiêu quá nhiều về căn nhà cũ ở quận Ông Tố, về mục y phục mới cho vợ, về chuyện dọn nhà vừa qua, thành thử cả số tiền hồi môn của vợ chàng đã tiêu tan hết, Rồi, lại thêm biết bao nhiêu là cái hư hại, hoặc mất mát trong chuyến dọn nhà từ Ông Tố đến Bình Đô, đó là chưa kể đến bức tượng ông thầy tu cụt một chân bị đứt dây buộc rớt xuống đường vỡ tan ra từng mảnh.

Nhưng một nỗi lo ngại khác sung sướng hơn đã đến với Bô. Đó là sự thai nghén của vợ chàng. Càng đến gần ngày sinh, chàng càng thương vợ hơn. Khi chàng thấy nàng chậm chạp đi lại trong phòng bụng to, chân đi dép mỏng, hoặc khi thấy nàng ngồi uể oải trên ghế, với một dáng điệu mệt nhọc, thì chàng không thể nào dằn được sự sung sướng nữa. Chàng hôn nàng, chàng nựng nịu nàng, kêu nàng là Má. Ý tưởng sắp có con làm cho chàng thấy đời chàng có một lẽ sống thần tiên. Chàng không còn thiếu thốn gì hết cả.

Về phần Ánh, trước hết nàng cảm thấy là lạ khi biết mình có thai, rồi nàng muốn cho chóng đẻ ngay để xem cảm giác làm Mẹ nó như thế nào. Nhưng, vì không có đủ tiền để mua cho đứa bé sắp chào đời một chiếc nôi bằng gỗ mun khảm xà cừ, với nệm gối bằng lụa sa tanh xanh, và chiếc mùng màu hồng, trong một phút cay đắng, Ánh đặt mua một lô quần áo cho con tại nhà một chị thợ may trong quận, nàng chẳng chọn lựa gì hết nữa. Nàng không chịu vui với những công việc may sắm sửa soạn cho đứa con sắp ra đời như những người mẹ có con, vì vậy, tình thương của nàng đối với đứa con, ngay từ phút đầu tiên, đã thiếu mất một cái gì đáng quý rồi.

Nàng muốn có một đứa con trai, nàng muốn tóc nó sẽ đen, mắt nó sẽ to và sáng, nó sẽ bạo dạn, sẽ hiên ngang, và nàng sẽ đặt tên cho nó là Hùng hoặc Dũng. Ý muốn có con trai cũng là một niềm hy vọng được trả thù tất cả những sự thua thiệt mà nàng đã phải chịu, vì nàng là con gái. Đàn ông, ít nhất cũng được tự do sống theo ý muốn của mình, được có những ham mê, được đi đây đi đó. Con người đàn bà như một chiếc mủ bị gió lộng muốn bay, nhưng còn có chiếc giải mũ giữ lại...

Nàng sinh nở vào một buổi sáng chủ nhật, vào lúc sáu giờ khi mặt trời vừa mọc.

- Con gái em à!

Nghe xong câu nói của chồng, Ánh kêu lên một tiếng rồi ngất đi. Ngay lúc đó, bà Cả tất tả chạy đến, hỏi han     tíu tít. Lão Cả Bài, tỏ ra là người giữ ý tứ, chỉ nói vài lời chúc tụng qua cánh cửa. Lão đòi xem mặt đứa bé và khen nó giống bố như đúc.

Mấy ngày sau đó, Ánh bận tâm tìm chọn một cái tên cho con. Nàng lẩn quẩn vớí những cái tên hoa : Hồng, Huệ, Mai, Lan, rồi Nhung, Vân, Tuyết, Ngọc, Bích v.v... Bô muốn đặt tên con gái cũng là Ánh, như tên mẹ, nhưng Ánh gạt đi. Nàng giở lịch ra xem các tên thánh, và sau cùng hỏi ý kiến mọi người.

Lão Cả Bài bàn :

- Bữa nọ, nhân nói chuyện với thầy Lợi, tôi thấy thầy ấy có ý muốn nói tại sao bà Đốc không chọn mấy cái tên có chữ Kiều đứng đầu, như Kiều Oanh, Kiều Vinh chẳng hạn. Kiều tên ấy hợp thời gian.

 Nhưng bà Quản Bành lại nhất định phản đối cái tên Kiều ấy, bà cho rằng con gái mà đặt tên theo cô Kiều thì sau nầy lại phong trần như cô Kiều mà thôi.

Thế rồi, chợt nhớ đến một cô bạn gái nhỏ nhắn dễ thương ngày xưa ở trong trường Nhà Trắng tên là Quỳnh; Ánh liền chọn tên Quỳnh cho con gái. Vì ông Năm Hòa ở xa không đến được, nên ông cả Bài được mời làm cha đỡ đầu. Ông ta đem đến cho đứa bé một lô quà tặng gồm toàn các món đồ băng, bông gòn, phấn, kẹo ế để mốc ra không bán cho ai được.

Nhân dịp có cháu nội, ông Quản Bành đến Bình Đô và ở lại chơi cả tháng. Ông làm cho dân quận phải lóa mắt vì cái mũ nhà binh có năm bẩy ngôi sao bạc và hai nhành dương liễu sáng chói mỗi buổi sáng ông vẫn đội ra ngồi uống cà phê trước hiên quán cà phê Sư Tử Vàng. Buổi chiều, buổi tối, ông ra ngồi đây hút thuốc ‘‘Píp’’ và uống rượu. Lẽ cố nhiên bao nhiêu tiền đều ghi vào sổ nợ của ông con. Ở nhà, ông Quản xài gần hết mấy chai nước hoa của Ánh.

Ánh thích được nghe ông Bô chồng kể chuyện. Trước kia ông Quản là người đã đi du lịch nhiều.  Ông tả cho nàng nghe về sông Đa Nuýp, về thành Bá Linh, về Ba Lê, về thời gian ông còn trẻ và làm sĩ quan, về những người đàn bà đẹp mà ông đã được yêu, về những chuyện động trời mà ông đã được dự. Rồi ông lại đùa cợt nàng, hay khen tặng nàng những câu làm cho bà Quản tái cả người. Bà lo sợ cho hạnh phúc của con trai, và sợ rằng những câu chuyện của ông chồng sẽ có ảnh hưởng xấu trên tư tưởng của cô con dâu, bà tức tốc dục ông Quản đi về cho bằng được. Có lẽ bà sợ để lơ là sẽ có nhiều việc không đẹp xảy ra chăng? Vì bà biết ông Quản Bành là người không kiêng nể gì cả.

Ánh tìm ra căn nhà nhờ một cây hạt dẻ trước cửa. Đó là một căn nhà thấp tối. Trên đà cửa ra vào, Ánh thấy vài bó hành khô treo lủng lẳng. Đầu nhà có một giếng nước, và trước sân là năm bẩy luống rau sà lách. Một giây phơi quần áo chăng dưới gốc cây hạt dẻ, trên vắt dăm ba bộ quần áo bẩn và mấy chiếc tã trẻ con. Nghe tiếng cửa hàng rào xê động, chị vú bước ra xem ai. Chị bồng một đứa nhỏ tay lại dắt một đứa trẻ nhỏ nữa đã chập chững biết đi. Hai đứa này cũng là trẻ gửi chị nuôi hộ. Chị cung kính chào Ánh :

- Thưa bà, mời bà vô nhà, em bé đang ngủ ạ !

Con nàng đang ngủ trong một chiếc nôi bằng gỗ mộc, kê gần sát đất. Nàng nhè nhẹ bế con lên, vừa đu đưa con, vừa khe khẽ hát.

Trong lúc đó, thầy Ký Lợi đi đi, lại lại trước hiên nhà, chàng có vẻ lạ lùng khi thấy một bà lịch sự bận hàng nhung lụa, đứng giữa căn nhà tồi tàn quá sức tưởng tượng. Bỗng nhiên bà Bô đỏ hồng mặt lên, thầy Ký Lợi vội nhìn đi nơi khác. Thầy cho rằng đôi mắt soi mói của mình đã làm cho nàng mắc cỡ. Ánh đặt con xuống nôi rồi bước ra sân.

Chị vú bước ra theo, chị kể lể dài giòng:

- Xin bà nói với ông hàng xén cho em lấy thêm chút xà bông.

- Được...

- Và xin bà cho em mỗi tuần một lạng cà phê. Cô bé hay khóc đêm mà em thì buồn ngủ, mệt quá, chịu không nổi…

- Ừ, thì ra hiệu mà lấy cà phê, Để tôi bảo…

Hai người đã đi ra đến cổng, chị vú còn chạy theo nằn nì:

- Bà ăn tiêu về nhiều, em xin bà thêm một hũ rượu nho cho chồng em uống. Tội nghiệp, lúc em uống cà phê, chả nhẽ để hắn ngồi không...

Sau khi hết nợ với chị vú, Ánh vịn tay vào Lợi, nàng bước vội một quãng, rồi đi chậm dần lại. Hai người đi theo đường bờ sông về quận Bình Đô. Đang giữa mùa nắng nực, hoa cỏ mộc xanh um ven dòng nước bạc. Nắng trưa gieo xuống mặt sông phẳng lặng những gợn nước lấp lánh. Hàng liễu xanh ru buồn trên những lớp cỏ bồng. Một sự tĩnh mịch vô biên bao trùm lên cảnh vật. Hai người chỉ nghe thấy tiếng giày họ xiết trên đất dắn, tiếng họ trò chuyện với nhau và tiếng vạt áo của nàng sột soạt theo bước đi.

Khi hai người về đến trước cửa nhà, Bà Bô đẩy nhẹ cánh cửa gỗ vào vườn, rồi biến mất trên những bực đá. Thầy Ký Lợi lặng lẽ đi về văn phòng. Ông chủ của chàng đi vắng, chàng nhìn qua mấy cái hồ sơ để trên bàn, ngồi buồn gọt một cái bút chì rồi lấy mũ ra đi.

Chàng đi về phía Nội Cỏ, chàng nằm dài dưới  những gốc cây thông ở đầu cánh rừng, chàng nhìn trời xanh qua mấy ngón tay che trên mặt và thở dài :

- Trời ơi, tại sao tôi buồn đến thế này? Sao tôi buồn đến thế nầy hở trời?

Chàng đột nhiên thấy chán cái cảnh sống của chàng trong cái quận lỵ nhỏ hẹp nầy, lão Cả Bài làm bè bạn, và me sừ Văn Kỉnh làm ông chủ. Me sừ này vì bận bịu công việc, nên bất chấp cả một sự hợp lý về cách phục sức, ông ta đeo mắt kính gọng vàng, để ria mép màu râu ngô, thắt cà vạt xanh có chấm đỏ và đi giày màu da cam. Trước kia khi mới đến giúp việc cho Me Sừ Văn Kỉnh, Lợi thấy ông ta có cái vẽ đạo mạo và lạnh lùng của người Ăng Lê. Nhưng bây giờ, chàng biết rõ cái vẻ đó sở dĩ có là bởi vì ông ta bẩn tính và hà tiện đến cả lời nói. Thế rồi chẳng còn nhân vật nào đáng kể ở  Bình Đô nữa, ông Xếp Phan thuộc về một hạng người riêng biệt, bà Cả Bài thì luộm thuộm bê bối, bà Ba Bủng, vài nhà buôn bán vặt, rồi sau cùng đến sau cùng đến ông Văn Thình, Quận Trưởng Bình Đô, với hai ông con trai một ông làm ủy viên Cảnh Sát, một ông làm trưởng ban cứu hỏa, cả ba bố con cùng ngu đần, tục, cục, khó mà có người trò chuyện được,

Nhưng trên tất cả những bộ mặt quen thuộc và mất cảm tình ấy, khuôn mặt kiều diễm của bà Bô vẫn phảng phẩt mơ hồ trước mắt Lợi như hình ảnh của một nàng tiên. Chàng thấy như giữa chàng và nàng có những vực thẳm mà tình yêu không thì nào vượt nổi.

 Hồi đầu, Lợi thường theo ông Cả Bài sang chơi nhà nàng luôn. Nhưng ông Bô tiếp chàng không lấy gì làm vồn vã lắm, và chàng trẻ tuổi cũng không biết làm cách nào để được gần người mà chàng mơ tưởng nhiều hơn.

Khi những cơn gió lạnh đầu mùa vừa thổi báo hiệu mùa Đông đã về gần. Ánh dọn phòng ngủ xuống dưới nhà, trong căn phòng sát với phòng ăn. Bên khung cửa sổ vuông có một đàn hoa cánh đỏ. Ánh thường ngồi bên cửa, nhìn qua khung kính, xem những hoạt động bên ngoài. 

Mỗi ngày hai lần, nàng thấy thầy Kỷ Lợi đi từ văn phòng Văn Kỉnh đến nhà hàng Sư Tử Vàng. Dáng người chàng cao gầy, lúc nào cũng mặc cùng một kiểu y phục, lặng lẽ đi dài theo dẫy phố. Nhưng trong những buổi hoàng hôn, nhiều khi đang ngồi mơ mộng một mình Ánh bỗng giật nẩy mình khi thấy bóng chàng trẻ tuổi xuất hiện một cách đột ngột trên khung cửa. Nàng đứng dậy kêu con Nhài dọn bàn ăn.

Lão Cả Bài lò mò đến vào giữa bàn ăn. Lần nào đến, lão cũng buông một câu ‘‘chào cả nhà’’. Rồi, sau khi đã ngồi vào chiếc ghế dành riêng cho lão ở bên cạnh bàn, giữa hai vợ chồng Bô, lão bắt đầu hỏi chuyện Bô về tình hình các thân chủ. Sau đó hai người xoay qua những chuyện về tình hình chính trị quốc tế và quốc nội, nói tóm lại là những chuyện đăng trong báo. Vào giờ đó, Cả Bài gần như đã thuộc lòng mấy bài bình luận và xã thuyết của tờ Ngọn Cờ Rouen. Lão kể lể dài giòng các câu chuyện, kèm theo những ý kiến của những người viết làm như đó là ý kiến riêng của lão vậy. Nhưng câu chuyện cũng cạn dần, Cả Bài xoay qua phê bình các món ăn trên bàn. Đôi khi lão hơi nhổm dậy, để chỉ cho bà Bô coi miếng thịt nào ngon, miếng nào ‘‘coi thế mà bạc nhạc không  ra gì’’ hoặc quay lại phía con Nhài, lão ba hoa dạy

nó về đủ mọi cách lóc thịt, nấu súp, phi hành tỏi ..v.v... Đầu óc Lão có khi còn nặng những danh từ gia vị hơn là những danh từ y dược. Lão biết đủ các cách nấu nướng, làm mứt, hầm, ninh.. v.v... Và đặc biệt nhất là có một phương pháp thần hiệu để giữ cho ‘‘phô mai’’ khỏi hư và cho rượu khỏi chua.

Vào khoảng 8giờ, thằng Chút xách đèn đến mời lão về để đóng cửa hàng. Nếu con Nhài có mặt ở đấy, thì lão không quên nhìn hai kẻ đó bằng một đôi mắt hóm hỉnh rồi nói bô bô lên:

- Thằng ranh con nhà tôi hồi này tỏ vẻ bất lương lắm rồi. Tôi dám quả quyết nói rằng nó phải lòng với chị ở của ông bà rồi đó.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của gustave flaubert