Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 429 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VIII
gia tộc pyncheon của hiện tại

Bước vào cửa hàng, Phoebe trông thấy gương mặt đã thành quen thuộc của tên sát nhân bé nhỏ – nếu chúng ta tính đến những chiến tích của nó - kẻ đã ăn Jim Crow, con voi, lạc đà, và đầu máy xe lửa. Sau khi tiêu hết số tiền riêng, trong hai ngày trước, để sắm những món xa xỉ chưa từng thấy kể trên, quý ông trẻ tuổi này được mẹ sai đi mua ba quả trứng và nửa pound nho khô. Phoebe cung cấp mặt hàng theo yêu cầu, và, để tri ân khách hàng quen, như một món khuyến mại sau bữa sáng, cô đặt vào tay nó một con cá voi! Con cá lớn, chẳng những không ăn được nhà tiên tri thành Nineveh[8], mà còn lập tức đi theo con đường định mệnh đẫm máu mà một đoàn lữ hành ô hợp đã đi trước nó. Quả thực thằng nhóc này rất giống với Cha Già Thời Gian[9], về phương diện háu ăn đối với người và vật, và bởi nó, cũng như Thời Gian, sau khi nhấn chìm bao nhiêu tạo tác, nom trẻ trung như thể vừa được tái sinh.

Đóng cánh cửa được một nửa rồi, đứa trẻ lại quay lại, nói lúng búng câu gì đó với Phoebe, mà, do con cá voi mắc trong miệng nó, cô không thể nghe rõ.

“Em bảo gì cơ?” Cô hỏi.

“Mẹ em muốn biết,” Ned Higgins nhắc lại rành mạch hơn, “tình hình anh trai của bà Pyncheon thế nào? Người ta bảo ông ấy đã về nhà.”

“Anh trai cô Hepzibah ư?” Phoebe thốt lên, kinh ngạc trước lời giải thích bất ngờ về mối quan hệ giữa bà Hepzibah và vị khách của bà. “Anh trai! Mà ông ấy có thể ở đâu được nhỉ?”

Thằng bé chỉ quẹt ngón tay cái lên chóp mũi, với vẻ tinh ranh mà một đứa trẻ, suốt ngày chạy rong ngoài phố, sớm biết biểu hiện qua nét mặt, dù rằng mặt mũi nó cũng chẳng lấy gì làm thông minh. Rồi khi Phoebe tiếp tục nhìn nó chằm chằm, chẳng trả lời câu hỏi của mẹ nó, nó liền đi thẳng.

Khi thằng bé bước xuống bậc tam cấp, có một người đàn ông đi lên, và tiến vào cửa hàng. Người đó béo tốt, và nếu có thêm một chút chiều cao, ắt sẽ mang vóc dáng oai vệ của một người tuổi xế chiều, mặc âu phục đen bằng chất liệu mỏng, rất giống vải poplin. Một cây gậy chống đầu bịt vàng, bằng gỗ phương Đông quý hiếm, tăng thêm phần cao sang cho diện mạo ông ta, chiếc cổ áo trắng như tuyết cũng vậy, và sự bóng lộn của đôi giày. Khuôn mặt vuông vức ngăm đen của ông ta, với đôi mày rậm, gây ấn tượng mạnh, và ắt sẽ khắc nghiệt nếu quý ông đó không làm giảm nhẹ sự dữ tợn bằng một vẻ mặt vui vẻ và nhân từ. Tuy nhiên, do lớp mỡ tích tụ dày dưới cằm, vẻ mặt ấy có lẽ xôi thịt hơn là phúc hậu, và thành thực mà nói, toát lên chất phàm tục chứ không quá mãn ý như ông ta dự định. Một người quan sát cảm tính có thể coi chút xíu bằng chứng của một tâm hồn cao thượng ấy là nội tâm được phản ánh ra ngoài. Và nếu người quan sát tình cờ là kẻ khắt khe, sắc sảo và nhạy cảm, anh ta có thể sẽ nghi ngờ nụ cười trên mặt quý ông đó na ná vẻ sáng bóng trên đôi giày của ông ta, và mỗi cái hẳn phải tốn của ông ta rất nhiều công sức để phô trương và bảo quản.

Khi người lạ mặt bước vào cửa hàng nhỏ, nơi tầng hai nhô ra và tán lá dày của cây du, cũng như các mặt hàng bày ở cửa sổ, tạo ra một không gian xam xám, nụ cười của ông ta trở nên căng thẳng như thể ông ta đã dồn hết sức kháng cự lại bầu không khí âm u (bên cạnh sự âm u tinh thần gắn liền với bà Hepzibah và những người ở chung với bà) bằng ánh sáng lạc lõng trên nét mặt. Trông thấy một cô gái trẻ trung như nụ hồng, thay vì sự hiện diện buồn thảm của một bà già, ông ta ngạc nhiên thấy rõ. Thoạt đầu ông ta nhíu mày, rồi mỉm cười với vẻ phúc hậu ngọt xớt hơn lúc nào hết.

“À, ta hiểu rồi!” Ông ta nói bằng một giọng trầm, một giọng nói mà, nếu phát ra từ cổ họng một kẻ thất phu, ắt sẽ cộc cằn, nhưng nhờ rèn luyện cẩn thận nên giờ nghe rất dễ chịu, - “ta không ngờ cô Hepzibah Pyncheon đã khởi nghiệp kinh doanh dưới sự giúp đỡ tốt đẹp như vậy. Chắc cháu là phụ tá của cô ấy?”

“Tất nhiên ạ,” Phoebe đáp, rồi bổ sung, với một vẻ hơi mang khí chất quý cô (bởi vì, một người lịch sự như ông ta hiển nhiên coi cô là kẻ làm công ăn lương), “cháu là cháu của cô Hepzibah, ra đây thăm cô ấy.”

“Cháu cô ấy? - và từ quê ra? Vậy thì xin thứ lỗi cho ta,” người đàn ông nói, cúi chào và mỉm cười, trong khi Phoebe chưa bao giờ được cúi chào và mỉm cười trước đó, “trong trường hợp này chúng ta hẳn là thân quen hơn, vì trừ phi ta nhầm lẫn đáng tiếc, cháu cũng là một người bà con của ta! Để xem nào, - Mary? - Dolly? - Phoebe? - Đúng, Phoebe là cái tên đó! Lẽ nào cháu là Phoebe Pyncheon, đứa con duy nhất của người em họ và là đồng môn của ta, Arthur? À, giờ ta thấy đường nét của cha cháu rồi, nơi miệng của cháu! Đúng đúng! Chúng ta nhất định thân thiết hơn! Ta là người bà con của cháu, cô bé ạ. Hẳn là cháu đã nghe đến thẩm phán Pyncheon?”

Khi Phoebe nhún gối chào để đáp lại, ngài thẩm phán cúi người về phía trước, với mục đích có thể tha thứ và còn đáng ca ngợi hơn - xét đến huyết thống gần gũi và sự chênh lệch tuổi tác - để tặng người họ hàng trẻ tuổi một nụ hôn chào hỏi và trìu mến. Rủi thay (ngoài ý định, hoặc chỉ với ý định bản năng nằm ngoài sự hiểu biết) Phoebe, đúng vào khoảnh khắc quan trọng, lại lùi lại, khiến cho người bà con rất mực đáng kính của cô, với thân hình vươn qua quầy và đôi môi chìa ra, rơi vào một tình thế hôn vào không khí khá lố bịch. Nó tương tự hình ảnh Ixion ôm đám mây, và kỳ cục hơn bội phần khi ngài thẩm phán kiêu hãnh tránh mọi vấn đề hư vô, và không bao giờ nhầm lẫn một cái bóng là một thực thể. Thực tế là, - và nó là lý lẽ biện minh duy nhất của Phoebe, - dù sự nhân từ chói sáng của thẩm phán Pyncheon có thể không hoàn toàn vừa mắt người nhìn là nữ giới, với chiều rộng của một con phố, hoặc thậm chí một căn phòng kích thước trung bình, ngăn ở giữa, nó vẫn trở nên quá căng thẳng, khi diện mạo đen đúa phì nộn này (lại còn râu ria xồm xoàm mà không con dao cạo nào có thể làm nó mịn màng) tìm cách tiếp xúc thực sự với đối tượng của nó. Đàn ông, giới tính, cách này hay cách khác, hai tính chất ấy quá nổi bật trong cung cách của ngài thẩm phán. Mắt Phoebe cụp xuống, và không biết vì sao, cô cảm thấy mình đỏ mặt dưới ánh nhìn của ông ta. Tuy cô đã từng được hôn, và không có cảm giác khó chịu đặc biệt nào, bởi nửa tá bà con họ hàng khác nhau, trẻ hơn cũng như già hơn ngài thẩm phán ngăm đen, râu rậm, cổ áo trắng tinh, nhân từ một cách ngọt xót này! Vậy tại sao lại khó chịu với ông ta?

Khi ngước mắt lên, Phoebe giật mình trước sự thay đổi trên mặt thẩm phán Pyncheon. Nó thật choáng váng, về mức độ khác biệt, như giữa một khung cảnh nắng vàng rực rõ và ngay trước cơn dông tố, không phải cái thứ hai có sự dữ dội, mà nó lạnh lùng, khắc nghiệt, không nguôi dịu, như một đám mây âm u suốt ngày dài.

“Trời ơi, làm sao bây giờ?” Cô gái thôn quê nghĩ. “Trông ông ấy như thể không có gì mềm yếu trong người hơn một tảng đá, hoặc ôn hòa hơn cơn gió đông! Mình không có ý xấu! Vì ông ấy thực sự là họ hàng của mình, mình ắt sẽ để ông ấy hôn mình, nếu có thể!”

Rồi, ngay lập tức, Phoebe nhận ra ngài thẩm phán Pyncheon này chính là nguyên mẫu của bức tranh mà nhà nhiếp ảnh đã cho cô xem trong vườn, và vẻ khắc nghiệt, cứng rắn, tàn nhẫn ấy, ở trên mặt ông ta lúc này, giống hệt vẻ mặt mà mặt trời đã cương quyết lôi ra. Bởi thế, phải chăng nó không phải trạng thái nhất thời, mà là tính cách vốn có, song được che giấu tài tình? Và không chỉ có thế, nó có phải là yếu tố di truyền, và chuyển giao, như một bảo vật, từ vị tổ tiên râu rậm kia, trong bức tranh cả biểu cảm lẫn những đường nét của ngài thẩm phán thời nay hiện ra như một lời tiên tri? Một triết gia sâu sắc hơn Phoebe có thể tìm thấy điều gì đó rất kinh khủng trong ý tưởng này. Nó ám chỉ rằng những yếu đuối và nhược điểm, những cơn nóng giận tồi tệ, những khuynh hướng ti tiện, và những bệnh hoạn về đạo đức dẫn tới tội ác được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, bởi một quá trình chuyển giao chắc chắn hơn nhiều so với luật pháp có thể thiết lập nhằm cố gắng kế thừa cho con cháu những sự giàu có và công danh.

Nhưng, trùng hợp thay, ánh mắt Phoebe vừa nhìn lại gương mặt ngài thẩm phán lần nữa thì tất cả sự khắc nghiệt xấu xí của nó đã biến mất, và cô thấy mình bị ngợp bởi hơi nóng ngột ngạt của lòng nhân từ mà người đàn ông ưu tú này khuếch tán từ trái tim cao cả của mình ra không khí xung quanh, - y như một con rắn, để bắt đầu thôi miên, nghe nói thường thổi vào không khí mùi hương đặc biệt của nó.

“Ta thích thế, cháu Phoebe!” Ông ta thốt lên, gật đầu tán thành. “Ta rất thích! Cháu là một đứa bé ngoan, và biết tự bảo vệ mình. Một cô gái trẻ - nhất là lại xinh đẹp nữa bao giờ cũng phải dè dặt với đôi môi của mình.”

“Quả thực, thưa ngài,” Phoebe nói, cố gắng cười khỏa lấp, “cháu không có ý thô lỗ.”

Tuy nhiên, dù hoàn toàn do sự khởi đầu đen đủi của mối quen biết giữa họ hay không, cô vẫn thận trọng trong hành xử, trái với bản tính thẳng thắn và vui vẻ thường ngày. Cô không khỏi tưởng tượng rằng nguyên mẫu người Thanh giáo, mà cô được nghe bao nhiêu truyền thuyết ảm đạm, - vị tổ tiên của cả gia tộc Pyncheon ở New England, người xây nên ngôi nhà bảy đầu hồi, người đã chết hết sức kỳ lạ trong đó, - vừa mới bước vào cửa hàng. Trong thời buổi hiện đại này, vấn đề dễ dàng được giải quyết. Đến từ thế giới bên kia, ông ta thấy cần phải bỏ ra một phần tư giờ chỗ thợ cắt tóc, người đã tỉa bộ râu rậm Thanh giáo thành hai hàng ria má hoa râm, sau đó tới một cửa hàng quần áo may sẵn, ông ta đổi chiếc áo choàng lông chồn, với cái cổ áo cầu kỳ dưới cằm, lấy một cổ áo trắng và cà vạt, áo khoác, áo vest và quần ống bó; và cuối cùng, bỏ thanh kiếm chuôi sắt để lấy chiếc gậy bịt vàng, đại tá Pyncheon của hai thế kỷ trước bước vào như ngài thẩm phán trong mấy phút vừa qua.

Tất nhiên Phoebe là một cô gái quá nhạy cảm để nuôi dưỡng ý tưởng này như một kiểu đùa vui. Cũng có thể, nếu hai người cùng đứng trước mặt cô, nhiều điểm khác biệt ắt sẽ nhận thấy, và có lẽ sự giống nhau chỉ là về tổng thể. Khoảng cách xa xôi về thời gian, trong một môi trường quá khác biệt đã nuôi dưỡng vị tổ tiên người Anh, chắc chắn tạo nên những thay đổi quan trọng trong thể chất hậu duệ của ông ta. Lượng cơ bắp của ngài thẩm phán khó có thể giống với đại tá, hẳn nhiên là kém hơn. Mặc dù xem xét một người đàn ông nặng ký giữa những người cùng thời với ông ta về phương diện thể xác, và vẻ bề ngoài với mức độ phát triển đáng kể, điều chỉnh cho hợp với vị trí quan tòa, chúng ta nhận thấy rằng ngài thẩm phán Pyncheon ngày nay, nếu đặt lên cùng một cán cân với tổ tiên của mình, ắt sẽ cần ít nhất năm mươi sáu đơn vị kiểu cũ mới ngang bằng. Gương mặt ngài thẩm phán đã mất đi nét Anh quốc khỏe mạnh thể hiện ở gò má dãi dầu sương gió của đại tá, và đã nhuốm sắc xám, màu da điển hình của những người đồng hương với ông ta. Thêm vào đó, nếu chúng ta không nhầm, có một sự nóng nảy đã trở nên ít nhiều rõ rệt, kể cả ở một mẫu người cứng rắn dòng dõi Thanh giáo như quý ông ta đang nói tới. Một trong những ảnh hưởng của nó là vẻ linh hoạt hơn trên nét mặt ông ta so với vị tổ tiên người Anh, và khí sắc nhạy bén hơn, nhưng có cái bất lợi ở chỗ những tư chất sắc sảo ấy có vẻ hoạt động như những axit hòa tan. Quá trình này, theo như chúng ta biết, có thể thuộc về một hệ thống tiến hóa của nhân loại, với mỗi bước đi lại thu hẹp sự cần thiết của sức mạnh cơ bắp và nâng cao tinh thần, bằng cách thanh lọc những thuộc tính thô tục của cơ thể. Nếu vậy, thẩm phán Pyncheon có thể chịu đựng một hay hai thế kỷ thanh lọc ấy cũng như hầu hết những người khác.

Sự tương đồng, về trí óc và đạo đức, giữa ngài thẩm phán và vị tổ tiên dường như cũng không kém cạnh sự giống nhau về diện mạo để giúp ta dự đoán. Trong bài phát biểu tại đám tang đại tá Pyncheon, đức cha đã hết lời ca ngợi người giáo dân vừa qua đời của mình, và mở ra một khung cảnh qua nóc nhà thờ, từ đó thông lên bầu trời phía trên, ở thế giới tinh thần ấy ông ta cầm đàn hạc, ngồi giữa dàn hợp xướng đội vòng hoa trên đầu. Trên bia mộ của ông ta cũng có một bài tán dương; lịch sử cũng không tấn công vào tính kiên định và chính trực của ông ta, cho đến giờ ông ta chỉ sở hữu một vùng đất trên giấy. Ngài thẩm phán Pyncheon ngày hôm nay cũng vậy, không có giáo sĩ, nhà phê bình luật pháp, người khắc bia mộ, hay sử gia xã hội hoặc chính trị nào dám thốt ra một lời chỉ trích về sự ngay thẳng của con người lỗi lạc và là một tín đồ Thiên Chúa giáo, một người đàn ông đáng kính, một thẩm phán công minh, một đại biểu dũng cảm và trung thành thường xuyên vượt qua thử thách trong đảng phái của ông ta. Nhưng, ngoài những con chữ lạnh lùng, trang trọng, sáo rỗng do con dao khắc tạo ra, có tiếng nói cất lên, có cây bút ghi lại, dành cho con mắt công chúng và thời gian, - và chắc chắn mất đi nhiều tính trung thực và tự do bởi ý thức được sự nguy hiểm của việc làm ấy, - nhiều câu chuyện về vị tổ tiên, và tin đồn hàng ngày về ngài thẩm phán, với độ tin cậy đáng kể. Nó thường cung cấp tư liệu để các bà các cô, chưa chồng hay đã có gia đình, bàn tán về một con người của công chúng. Không gì gây tò mò hơn sự khác biệt quá lớn giữa những bức tranh dành để chạm khắc và những phác họa bằng bút chì được bí mật truyền tay nhau. Chẳng hạn như: câu chuyện khẳng định rằng vị tín đồ Thanh giáo rất ham của cải, và ngài thẩm phán cũng vậy, với mọi hình thức chi tiêu rộng rãi, nghe nói là chặt chẽ như thể nắm tay ông ta làm bằng sắt vậy. Vị tổ tiên khoác lên người một vỏ bọc kiên cố của sự tốt bụng, một sự chân thành của lời ăn tiếng nói, khiến hầu hết mọi người tưởng đấy là bản chất thực sự ẩn sau tính cách đàn ông mạnh mẽ. Hậu duệ của ông ta, theo những đòi hỏi của một thời đại văn minh hơn, đã thần tiên hóa lòng tốt thô lỗ này thành một nụ cười rạng rõ được ông ta tỏa ra như mặt trời giữa trưa trên đường phố, hoặc sáng rực như lò sưởi trong phòng khách những người quen của ông ta. Vị tín đồ Thanh giáo - nếu không gây ấn tượng sai lầm bởi vài câu chuyện khác thường, thì thào, thậm chí đến bây giờ, qua miệng người kể - đã phạm một số tội mà những người nhiều thú tính như ông ta, bất kể có đức tin và phép tắc thế nào, phải tiếp tục gánh trách nhiệm cho đến khi gột hết vết nhơ, cùng với những cặn bã dính dáng theo. Chúng ta không được làm ô uế trang giấy bằng bất kỳ vụ tai tiếng đương thời nào, đối với một nội dung tương tự, có thể được xì xào chống lại ngài thẩm phán. Vị tín đồ Thanh giáo lại còn là một kẻ chuyên quyền trong gia đình, đã hành hạ ba người vợ bằng tính độc đoán và khắc nghiệt trong mối quan hệ vợ chồng, và lần lượt khiến họ đau khổ cho đến khi xuống mồ. Về phương diện này thì không giống. Ngài thẩm phán chỉ cưới một người vợ, và góa vợ vào năm thứ ba hay tư của cuộc hôn nhân. Tuy nhiên có một lời đồn, chúng ta cứ coi nó, dù không phải không có khả năng, là cách cư xử điển hình của thẩm phán Pyncheon trong gia đình, - rằng vị phu nhân đã bị một cú sốc nặng trong tuần trăng mật, và không bao giờ nở nụ cười nữa, vì chồng bà bắt bà mang cà phê đến giường cho ông ta mỗi sáng, như biểu hiện của lòng trung thành đối với lãnh chúa và chủ nhân của mình.

Nhưng những thứ giống nhau có tính di truyền này là một chủ đề quá màu mỏ, sự tái diễn liên tục của nó, theo một đường thẳng, thật không giải thích nổi, khi chúng ta xem xét bề dày thành tích của dòng họ đằng sau hai con người sống cách nhau hai thế kỷ. Chúng ta chỉ có thể bổ sung rằng vị tín đồ Thanh giáo - chí ít theo chuyện kể trong góc lò sưởi, thường lưu giữ các chi tiết với độ chính xác phi thường – là người liều lĩnh, độc đoán, nóng nảy, xảo quyệt; giấu kín những mục đích của mình, và theo đuổi chúng với một sự bền bỉ không biết đến ngơi nghỉ hay cắn rứt; giẫm đạp lên kẻ yếu đuối, và, khi cần kết liễu, thì dùng hết sức mình để hạ gục kẻ mạnh. Dù ngài thẩm phán giống ông ta ở mức độ nào đi nữa, câu chuyện của chúng ta có thể tiến xa hơn.

Những sự so sánh kể trên chẳng hề tới tại Phoebe, người sinh ra và lớn lên ở thôn quê, hoàn toàn mù tịt về những giai thoại của dòng họ, chúng vương vất như mạng nhện và khói ám trong những căn phòng và hốc lò sưởi của ngôi nhà bảy đầu hồi. Tuy nhiên có một trường hợp, rất bình thường, làm cô ấn tượng tới mức kinh hãi. Cô đã nghe về lời nguyền của Maule, phù thủy bị hành quyết, dành cho đại tá Pyncheon và con cháu của ông ta, rằng Chúa sẽ cho bọn họ uống máu, và cũng giống như quan điểm phổ biến, rằng thứ máu huyền diệu này thỉnh thoảng có thể nghe thấy tiếng kêu ùng ục trong cổ họng họ. Vụ tai tiếng đó – là một người lý trí, và hơn nữa, là một thành viên của gia tộc Pyncheon - Phoebe đã coi nó là điều vô lý không bàn cãi. Nhưng những sự mê tín cổ xưa, sau khi bị ngâm trong tim và hiển hiện trong hơi thở của con người, và truyền từ miệng tới tai trong nhiều bản sao, qua các thế hệ, trở nên thấm nhuần với một tác động chân thực. Khói lò sưởi đã tẩm đẫm chúng. Bằng sự chuyển giao kéo dài giữa những câu chuyện kể trong nhà, chúng dần trở nên rõ nét, và cũng với cách thức ấy chúng thành thân quen đến nỗi mức độ ảnh hưởng của chúng thường lớn hơn chúng ta tưởng. Nó xảy ra như thế, vào lúc Phoebe nghe thấy một âm thanh trong cổ họng thẩm phán Pyncheon, - khá thường xuyên với ông ta, không hoàn toàn tự nguyện, song chẳng mang ý nghĩa gì cả, trừ phi là một sự phàn nàn của phế quản, hoặc một triệu chứng tăng xông, như vài người ngụ ý, - khi cô gái nghe thấy tiếng nuốt kỳ quặc và khó khăn ấy (người viết chưa từng được nghe, và do đó không thể miêu tả), cô giật mình một cách ngốc nghếch, và nắm chặt hai tay vào nhau.

Tất nhiên là quá ư lố bịch nếu Phoebe mất bình tĩnh vì một chuyện cỏn con như vậy, và còn không thể tha thứ hơn khi bộc lộ sự bối rối trước mặt người liên quan trực tiếp tới chuyện đó. Nhưng sự việc ăn khớp kỳ lạ với những tưởng tượng của cô về đại tá và thẩm phán, khiến trong khoảnh khắc, nó dường như hòa vào nhân dạng của họ.

“Có chuyện gì với cháu thế, cô gái trẻ?” Thẩm phán Pyncheon hỏi, phóng vào cô một ánh nhìn gay gắt. “Cháu sợ điều gì à?”

“Ồ, không có gì, thưa ngài - không có chuyện gì cả!” Phoebe trả lời, với một tiếng cười nhỏ vì bực bản thân. “Nhưng có lẽ ngài muốn nói chuyện với cô Hepzibah cháu. Để cháu gọi cô ấy!”

“Đợi một lát, nếu cháu vui lòng,” thẩm phán nói, lại nở nụ cười rạng rõ. “Có vẻ sáng nay cháu hơi hồi hộp. Không khí thị thành không hợp với những thói quen lành mạnh nơi thôn dã của cháu. Hay xảy ra chuyện gì làm phiền cháu? - Bất cứ chuyện gì đáng chú ý trong nhà cô Hepzibah? - Một người mới đến, hả? Ta đã nghĩ vậy! Thảo nào cháu bất ổn, cháu của ta. Làm người chung nhà với một vị khách như thế có thể khiến một cô gái ngây thơ hoảng hốt!”

“Ngài khiến cháu hoang mang đấy,” Phoebe đáp, nhìn chằm chằm vào thẩm phán. “Không có vị khách kinh khủng nào trong nhà cả, mà chỉ có một người đàn ông nghèo, lịch sự, trẻ thơ, người mà cháu tin là anh trai của cô Hepzibah. Cháu e rằng (nhưng ngài hẳn biết rõ hơn cháu) ông ấy không được bình thường; nhưng có vẻ rất hòa nhã và yên lặng, đến độ một bà mẹ có thể tin tưởng giao đứa con nhỏ của mình cho ông ấy. Và cháu nghĩ ông ấy sẽ chơi với đứa bé như thế ông chỉ hơn nó vài tuổi. Ông ấy làm cháu hoảng hốt ư! - Ồ, hoàn toàn không!”

“Ta mừng khi được nghe những lời tốt đẹp và chân thật về cậu em họ Clifford của ta,” ngài thẩm phán tốt bụng nói. “Cách đây nhiều năm, khi chúng ta cùng là những cậu bé rồi thành thanh niên, ta đã rất yêu mến cậu ta, và vẫn đặc biệt quan tâm đến cậu ta. Cháu nói cậu ta có vẻ không minh mẫn. Ít nhất Chúa đã cho cậu ta đủ trí óc để hối hận về những tội lỗi trong quá khứ!”

“Cháu nghĩ không người nào có ít tội lỗi hơn để hối hận.” Phoebe nhận xét.

“Lẽ nào cháu chưa bao giờ nghe về Clifford Pyncheon?” Ngài thẩm phán hỏi với ánh mắt thương hại. “Cháu không biết gì về chuyện của cậu ta? Chà, cũng phải thôi. Mẹ cháu có cái nhìn hết sức đúng đắn đối với danh giá của gia đình mà bà làm dâu. Hãy tin vào điều tốt đẹp nhất có thể về con người bất hạnh này, và hy vọng điều tốt nhất! Đó là một quy luật mà những người Thiên Chúa giáo luôn tuân theo, khi đánh giá người khác; nó lại càng hợp lẽ và sáng suốt giữa những họ hàng gần, những người ít nhiều phải phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng Clifford ở trong sảnh phải không? Để ta vào xem thử.”

“Thưa ngài, tốt hơn cháu nên gọi cô Hepzibah,” Phoebe nói, tuy nhiên cô khó mà biết mình có nên cản đường một người họ hàng rất gần gũi bước vào khu vực riêng tư của ngôi nhà hay không. “Anh trai cô ấy hình như vừa ngủ thiếp đi sau bữa sáng, và cháu dám chắc cô không muốn ông ấy bị làm phiền. Xin ngài để cháu báo với cô ấy!”

Nhưng ngài thẩm phán tỏ ý nhất quyết đi vào; và khi Phoebe, với sự nhanh nhẹn của một người mà hành động đi liền với suy nghĩ, đã bước tới cánh cửa, ông ta liền gạt cô ra không thương tiếc.

“Không, không, Phoebe!” Thẩm phán Pyncheon nói bằng giọng ồm ồm như tiếng sấm, cùng cái cau mày hắc ám như đám mây dông đi cùng. “Cứ ở đây! Ta biết rõ ngôi nhà, và biết cô em họ Hepzibah, cũng như biết anh trai Clifford của cô ấy, - khỏi phiền một đứa cháu thôn quê đi thông báo cho ta!” – Câu sau cùng đã có sự thay đổi từ cộc cằn đột ngột thành hòa nhã như trước. “Ta đang ở nhà mình, Phoebe, cháu phải nhớ như thế, và cháu là người lạ. Vì thế ta sẽ bước vào, xem Clifford ra sao, và cam đoan với cậu ta và Hepzibah về những tình cảm thân ái và lời chúc tốt đẹp của ta. Vào thời điểm này họ nên trực tiếp nghe ta nói ta mong muốn giúp họ đến mức nào. A! Hepzibah đây rồi!”

Quả đúng vậy. Tiếng oang oang của ngài thẩm phán đã tới tai người phụ nữ già đang ngồi trong sảnh, mặt quay vào, canh giấc ngủ cho anh trai. Lúc này bà tiến ra, chặn lối vào, phải nói là trông như một con rồng trong truyện cổ tích, thường canh gác một giai nhân bị bùa mê. Vẻ cau có thường trực của bà giây phút ấy quá dữ tợn để quy cho tật cận thị; và nó chiếu vào thẩm phán Pyncheon theo một cách khiến ông ta không giật mình thì cũng phải chùn lại, nếu ông ta đánh giá không đúng mức sức mạnh tinh thần của một mối ác cảm sâu sắc. Bà giơ tay làm cử chỉ xua đuổi, và đứng ở một tư thế ngăn cản hoàn hảo, người vươn thẳng, trong khung cửa mờ tối. Nhưng chúng ta phải tiết lộ bí mật của bà Hepzibah, và thừa nhận rằng tính nhút nhát bẩm sinh của bà đến giờ vẫn lộ ra trong một cơn run rẩy thoáng qua, khiến chân tay bà vụng về lóng ngóng.

Có lẽ thẩm phán Pyncheon nhận thức được mức độ dũng cảm thực sự nằm sau dáng vẻ hùng hổ của bà Hepzibah. Dù thế nào đi nữa, là một người có thần kinh vững vàng, ông ta nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, không đến gần được cô em họ với bàn tay giơ thẳng. Ông ta chấp nhận sự đề phòng và khỏa lấp bằng một nụ cười, rạng rõ và ngột ngạt đến mức, nếu nó chỉ ấm áp bằng một nửa vẻ ngoài nó thể hiện, có thể làm chín ngay một giàn nho dưới sức nóng như mùa hè ấy. Có thể mục đích của ông ta là khiến bà Hepzibah tan chảy tại chỗ, như thể bà là một hình nhân bằng sáp.

“Hepzibah, em họ thân mến của tôi, tôi rất mừng!”

Thẩm phán nồng nhiệt thốt lên. “Cuối cùng cô đã có mục đích để sống. Đúng thế, và tất cả chúng ta, bạn bè và bà con họ hàng của cô, đều thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn hôm qua. Tôi đã vội vã đến đây nhằm ngỏ lời giúp đỡ trong khả năng của mình để Clifford được thoải mái. Cậu ấy thuộc về tất cả chúng ta. Tôi biết cậu ấy đòi hỏi cao thế nào, - cậu ấy từng đòi hỏi cao thế nào, - và gu thẩm mỹ tinh tế, và tình yêu cái đẹp của cậu ấy. Bất cứ thứ gì trong nhà tôi, - tranh vẽ, sách vở, rượu, bàn ghế sang trọng, - cậu ấy có thể yêu cầu tất cả! Tôi chỉ cần một phần thưởng chân thành là được gặp cậu ấy thôi! Bây giờ tôi vào được chứ?”

“Không,” bà Hepzibah đáp, giọng quá ư run rẩy để nói được nhiều từ. “Anh ấy không thể tiếp khách!”

“Khách, em họ thân mến! - Cô gọi tôi như thế ư?” Thẩm phán kêu lên, dường như bị tổn thương bởi sự lạnh lùng của chữ đó. “Vậy thì hãy để tôi làm một chủ nhà đối với Clifford, cả cô nữa. Mời hai người đến nhà tôi chơi. Không khí thôn quê, và tất cả những tiện nghi, - tôi có thể nói là sang trọng, - mà tôi tập hợp quanh mình, sẽ rất hữu ích cho cậu ấy. Và cô với tôi, Hepzibah thân mến, sẽ cùng bàn bạc, cùng quan sát, và cùng lao động, để làm cho Clifford thân yêu của chúng ta được vui vẻ. Đi thôi! Cần chi phải nhiều lời định nghĩa bổn phận và niềm vui đối với tôi làm gì? Hãy lập tức đến nhà tôi!”

Nghe thấy lời mời rất nồng nhiệt và hào phóng của người họ hàng, Phoebe những muốn chạy tới chỗ thẩm phán Pyncheon và tặng ông ta cái hôn mà cô mới cự tuyệt. Với bà Hepzibah thì khác, nụ cười của ngài thẩm phán dường như kích thích sự chua chát trong tim bà giống như ánh nắng tác động lên giấm, khiến nó chua gắt gấp mười lần.

“Clifford,” bà nói, vẫn quá kích động để bật ra nhiều hơn một câu cộc lốc, - “Clifford có nhà ở đây rồi!”

“Cầu Chúa tha thứ cho cô, Hepzibah,” thẩm phán Pyncheon nói, thành kính ngước mắt lên đấng tối cao mà ông ta cầu khẩn, “nếu cô mang nặng bất cứ định kiến hay thù hận xa xưa nào về chuyện này. Tôi đứng đây với trái tim rộng mở, sẵn sàng và khao khát đón chào cô với Clifford. Đừng từ chối thành ý của tôi, - những đề nghị tha thiết của tôi là vì lợi ích của hai người. Về mọi phương diện, chúng là những điều một người họ hàng gần nhất nên làm. Đó sẽ là một trách nhiệm nặng nề, nếu cô giam hãm anh trai mình trong ngôi nhà ảm đạm và không khí ngột ngạt này, trong khi sự khoáng đạt hấp dẫn nơi ngôi nhà thôn quê của tôi sẵn sàng phục vụ cậu ấy.”

“Nó sẽ không bao giờ thích hợp với Clifford,” bà Hepzibah nói, vẫn ngắn gọn như trước.

“Đồ đàn bà kia!” Thẩm phán bùng nổ, không giữ nổi bình tĩnh, “tất cả những chuyện này nghĩa là sao? Cô có phương sách khác à? Tôi nghi ngờ lắm! Hãy coi chừng, Hepzibah, coi chừng! Clifford đang cận kề một tai họa hung hiểm! Nhưng tại sao tôi phải nói với thứ đàn bà như cô chứ? Tránh ra! Tôi phải gặp Clifford!”

Bà Hepzibah dáng vóc gầy gò chắn ngang cửa, và dường như thực sự to lớn hơn, nom cũng đáng sợ hơn, bởi vì có quá nhiều kinh hoàng và kích động trong tim bà. Nhưng quyết tâm phải vào bằng được của thẩm phán Pyncheon bị chững lại bởi một giọng nói từ trong phòng; một giọng nói yếu ớt, run rẩy, buồn thảm, cho thấy nỗi hoảng sợ tuyệt vọng, vô phương tự vệ như giọng của một đứa bé khiếp đảm.

“Hepzibah, Hepzibah!” Giọng nói kêu lên, “quỳ xuống trước mặt ông ấy đi! Hồn chân ông ấy đi! Van xin ông ấy đừng vào! Ôi, hãy để ông ấy tha cho tôi! Tha cho tôi!”

Đúng vào lúc không rõ mục đích gạt bà Hepzibah ra, và bước qua ngưỡng cửa vào trong sảnh của thẩm phán có thành hay không, thì tiếng van xin nghẹn ngào và khổ sở ấy cất lên. Đáng tiếc là nó không cản được ông ta, vì, vừa nghe thấy âm thanh đầu tiên của giọng nói yếu đuối ấy, một ngọn lửa đỏ rực lên trong mắt thẩm phán, và ông ta bước nhanh tới trước, với một vẻ gì đó cực kỳ dữ tợn và tàn nhẫn tỏa ra ngùn ngụt. Chắc chắn thẩm phán Pyncheon sẽ gặp người đó. Sau một sự bộc phát như vậy, hãy để ông ta nở nụ cười phát ngốt của mình, ông ta có thể làm những chùm nho chuyển sang tím, hoặc bí ngô chuyển vàng, nhanh hơn làm tan chảy ấn tượng khắc sâu trong trí nhớ của người quan sát. Và nó làm cho diện mạo ông ta càng thêm đáng sợ, dường như nó không thể hiện sự tức giận hay căm ghét, mà là một mục đích nung nấu mãnh liệt, hủy diệt tất cả mọi thứ trừ mục đích đó ra.

Song xét cho cùng, chúng ta có đang vu khống một người đàn ông ưu tú và tử tế? Hãy nhìn ngài thẩm phán lúc này! Xem ra ông ta ý thức được mình vừa phạm lỗi, đó là quá sốt sắng dồn ép những nghĩa cử tốt đẹp vào một người không thể cảm kích chúng. Ông ta sẽ chờ cho tâm trạng họ tốt hơn, và chuẩn bị sẵn sàng để giúp họ giống như bây giờ. Khi ông ta rút lui khỏi cánh cửa, một sự khoan dung thấu hiểu bừng lên trên nét mặt, tỏ ra rằng ông ta gom bà Hepzibah, cô bé Phoebe, và người chưa thấy mặt Clifford, cả ba người họ, cùng với toàn bộ thế giới bên cạnh, vào trái tim bao la của mình, và tắm họ trong tình yêu thương nồng ấm.

“Cô đối xử với tôi thật tệ, em họ Hepzibah thân mến ạ!” Ông ta nói, trước tiên chìa tay cho bà một cách nhã nhặn, rồi đeo găng để chuẩn bị cáo biệt. “Rất tệ! Nhưng tôi tha thứ, và sẽ tìm cách để cô nghĩ tốt hơn về tôi. Tất nhiên Clifford tội nghiệp của chúng ta đang trong tâm trạng rất không vui, tôi không thể nghĩ đến việc hỏi han vào lúc này. Nhưng tôi sẽ canh chừng sức khỏe của cậu ấy như với một người em trai yêu quý của mình, tôi cũng không hề hết hy vọng vào việc khiến hai người hiểu ra sự bất công của cô. Và đến lúc đó, tôi không mong muốn hình thức trả thù nào khác ngoài việc cô chấp nhận sự giúp đỡ tốt nhất trong khả năng của tôi.”

Củi đầu chào bà Hepzibah, và gật đầu một cách thân ái với Phoebe, ngài thẩm phán rời khỏi cửa hàng, và tươi cười bước đi trên phố. Đã thành thói quen với người giàu, nhằm tôn vinh giới của mình, ông ta xin lỗi mọi người, về sự giàu có thành đạt và địa vị cao của bản thân, bằng một cung cách thoải mái và thân mật đối với những người biết ông ta, giảm bớt vẻ trịnh trọng để tương xứng với bộ dạng khúm núm của người đàn ông mà ông ta chào hỏi, và như thế chứng tỏ một ý thức ngạo mạn về những lợi thế không cần bàn cãi của mình như thể ông ta có cả một đội ngũ kẻ hầu người hạ đi trước dẹp đường. Vào buổi sáng đặc biệt ấy, phương diện nhân ái của thẩm phán Pyncheon càng ấm lên hầm hập, đến mức (chí ít theo lời đồn đại trong thị trấn) cần bổ sung một đoàn xe chở nước đi qua, để làm lắng đám bụi thỉnh thoảng bốc lên khi nắng gắt!

Ông ta biến mất không được bao lâu thì bà Hepzibah trở nên trắng bệch, và, loạng choạng tới chỗ Phoebe, gục đầu vào vai cô gái.

“Ôi, Phoebe!” Bà thều thào, “người đàn ông đó là nỗi kinh hoàng của đời ta! Phải chăng ta sẽ không bao giờ, không bao giờ có dũng khí, - giọng nói của ta sẽ không bao giờ ngừng run rẩy đủ lâu để ta nói cho ông ta biết ông ta là loại người gì?”

“Ông ấy xấu xa thế cơ ạ?” Phoebe hỏi. “Nhưng những đề nghị của ông ấy thật tử tế!”

“Đừng nhắc đến chúng, - ông ta có một trái tim sắt đá!” Bà Hepzibah phản bác. “Giờ cháu vào nói chuyện với Clifford đi! Làm cho anh ấy vui và nguôi dịu! Anh ấy sẽ phiền não lắm nếu thấy ta trong trạng thái kích động như thế này. Đi đi, cháu yêu, ta sẽ cố gắng trông cửa hàng.”

Phoebe nghe theo, nhưng trong đầu băn khoăn với bao câu hỏi về ý nghĩa của cảnh tượng cô vừa chứng kiến, và liệu những thẩm phán, mục sư, và những nhân vật được coi là đáng kính và xuất chúng khác, trong trường hợp cá biệt nào đó, có thực sự chỉ là những người ngay thẳng không. Mối nghi ngờ đó có sức ảnh hưởng rất khó chịu, và nếu hóa ra là sự thật, kéo theo hiệu ứng sợ hãi và sửng sốt lên đầu óc của một lớp người mộc mạc, chân chất như cô gái thôn quê của chúng ta. Những tâm tính nặng về suy đoán có thể tìm thấy một niềm vui lạnh lùng từ việc khám phá, vì chắc chắn có sự độc ác xấu xa trên thế gian này, mà một người danh giá có khả năng nắm vững phần đóng góp của mình như một kẻ thấp kém. Một tầm nhìn rộng hơn, và sâu hơn, có thể thấy giai cấp, phẩm giá, địa vị, đều cho thấy là hão huyền, nếu liên quan đến ham muốn được tôn vinh của bọn họ, song cũng chẳng cảm thấy vũ trụ vì thế mà đổ sụp thành một mớ hỗn loạn. Nhưng Phoebe, để giữ vũ trụ ở nguyên vị trí cũ, không dám dập tắt, ở mức độ nhất định, những cảm nhận của mình về nhân cách của thẩm phán Pyncheon. Còn về lời khẳng định tiêu cực của bà cô của cô về nó, cô kết luận rằng cách nhìn của bà Hepzibah bị đầu độc bởi một trong những mối thù hận của gia đình, khiến lòng căm ghét càng thêm sâu sắc bởi cái chết và tình yêu mục nát được họ trộn lẫn với chất độc sẵn có của nó.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne