Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 428 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VII
vị khách

Khi Phoebe thức giấc, - bởi tiếng hót ríu rít của vợ chồng nhà chim cổ đỏ trên cây lê, - cô nghe thấy tiếng động dưới nhà, vội vã chạy xuống, cô thấy bà Hepzibah đã ở trong bếp. Bà đứng bên cửa sổ, cầm một quyển sách để sát mũi, như thể hy vọng ngửi được mùi hương quen thuộc qua nội dung của nó, vì thị lực kém khiến bà không đọc được dễ dàng. Nếu có quyển sách nào có thể bộc lộ tri thức của nó bằng phương pháp ấy, ắt sẽ là quyển sách trên tay bà Hepzibah; và gian bếp, trong một sự kiện như vậy, sẽ lập tức thơm ngào ngạt mùi thịt hươu, gà tây, gà trống thiến, gà gỗ tẩm mô, bánh pudding, bánh ngọt, và bánh Giáng sinh, trong đủ cách kết hợp và chế biến công phu. Đó là một quyển sách nấu ăn, với cơ man những món ăn truyền thống của nước Anh, và minh họa bằng những hình khắc, trình bày sự sắp đặt bàn ăn ở những bữa tiệc lớn thích hợp với một nhà quý tộc để tổ chức trong đại sảnh lâu đài của mình. Và, giữa những dụng cụ phong phú và hiệu quả của nghệ thuật nấu ăn ấy (có lẽ chưa có cái nào được thử nghiệm, trong ký ức cha ông của bất cứ người nào), bà Hepzibah đang tìm một món nhỏ đa năng, mà với tài nấu nướng của bà, cùng những nguyên liệu có sẵn, bà có thể làm thử bữa sáng.

Chẳng mấy chốc bà đã đặt quyển sách thơm ngon sang một bên, cùng với tiếng thở dài, và hỏi Phoebe xem bà Speckle, tên bà đặt cho một trong hai con gà mái, có đẻ quả trứng nào hôm qua không. Phoebe chạy đi, nhưng trở vào mà không có báu vật được trông đợi trên tay. Song đúng lúc ấy, tiếng kèn của người bán cá vọng vào, thông báo sự xuất hiện của ông ta trên đường. Gỗ hối hả vào cửa sổ cửa hàng, bà Hepzibah gọi người đàn ông vào, và mua con cá thu được ông ta cam đoan là ngon nhất trên xe, và theo ngón tay ông ta nắn thì rất béo so với thời điểm đầu mùa này. Sau khi sai Phoebe đi rang ít cà phê, - mà bà bảo là cà phê Mocha đích thực, và bao lâu nay gìn giữ từng hạt như giữ vàng ròng, - bà chất củi vào trong cái khoang rộng của lò sưởi cổ lỗ với số lượng đủ để xua tan bóng tối còn vương vất trong gian bếp. Cô gái thôn quê, sẵn lòng hỗ trợ, đề nghị làm món bánh Ấn Độ, theo công thức đặc biệt của mẹ cô, dễ làm, đảm bảo có độ béo ngậy, và, nếu được xử lý đúng cách, sẽ thơm ngon hơn bất cứ loại bánh điểm tâm nào. Bà Hepzibah vui vẻ đồng ý, ít phút sau gian bếp đã thơm lừng. Có lẽ, trong làn khói tỏa ra từ ống khói xây cẩu thả, hồn ma của những bà nấu bếp đã qua đời thắc mắc nhìn, hoặc ngó xuống miệng ống, khinh thường sự đơn sơ của bữa ăn, song vẫn hau háu muốn thọc bàn tay vô hình của mình vào từng món. Dù sao đi nữa, lũ chuột đói meo vẫn nhìn trộm từ chỗ nấp của chúng, hoặc ngồi trên hai chân sau, hít hà bầu không khí đầy khói, và thèm thuồng chờ cơ hội được gặm một miếng.

Bà Hepzibah không có năng khiếu bếp núc, và, thành thực mà nói, bà hốc hác như hiện tại là do thường xuyên thà chọn không ăn tối còn hơn phải ngồi canh cái xiên quay thịt, hoặc đun sôi ấm nước. Bởi vậy sự sốt sắng của bà bên bếp lửa quả là một thử thách can trường của tính đa cảm. Thật xúc động, và hoàn toàn xứng đáng với những giọt nước mắt (nếu Phoebe, người quan sát duy nhất, trừ lũ chuột nhắt và những hồn ma kể trên, không bận bịu để có thời gian nhỏ chúng), khi thấy bà cời ra một lớp than hồng rực, và bắt đầu nướng con cá thu. Đôi má thường ngày xanh xao của bà đỏ lên vì hơi nóng và vội vã. Bà quan sát con cá với sự dịu dàng âu yếm và quan tâm vô hạn như thể, - chúng tôi không biết diễn tả bằng cách nào khác, - như thể trái tim bà đang nằm trên vỉ, và niềm hạnh phúc bất diệt của bà liên quan đến việc lật nó đúng lúc!

Cuộc sống sau những cánh cửa có ít viễn cảnh thú vị hơn một bàn ăn sáng bày biện gọn gàng và thịnh soạn. Chúng ta đến với nó một cách tinh khôi, vào ban mai long lanh như sương sớm của tuổi trẻ, khi yếu tố tinh thần và xác thịt hòa hợp với nhau hơn giai đoạn về sau, khiến những niềm vui vật chất của bữa sáng có thể được tận hưởng trọn vẹn, không có những lời trách mắng quá nặng nề, về dạ dày hay lương tâm, vì đã chịu khuất phục dù chỉ chút ít trước thú tính của chúng ta. Những ý nghĩ trong đầu các vị khách thân quen cũng có sự phấn khích và vui vẻ, và thường là chân thực sống động, mà hiếm khi len được vào cuộc giao tiếp tinh tế của bữa tối. Chiếc bàn ăn nhỏ cổ xưa của bà Hepzibah, được chống đồ bởi những cái chân thanh mảnh duyên dáng, phủ khăn lụa damask dày dặn, nom rất xứng để làm tâm điểm của một trong những bữa tiệc rộn ràng nhất. Hơi nước từ con cá nướng bốc lên giống như hương trầm từ một đền thờ linh thiêng, trong lúc mùi cà phê Mocha có thể làm hài lòng cánh mũi của vị thần Lar[7], hoặc bất cứ quyền lực nào thống trị một bàn ăn sáng thời hiện đại. Những chiếc bánh Ấn Độ của Phoebe là lễ vật ngọt ngào nhất, - trong sự hòa hợp màu sắc của chúng với những bệ thờ mộc mạc của một thời ngây thơ và vàng son, - hoặc sắc vàng rực rõ của chúng giống với chiếc bánh mì đã bị biến thành vàng khi vua Midas cố ăn chúng. Không được quên món bơ, - do chính tay Phoebe làm ở quê nhà, và đem đến cho bà cô như một món quà làm thân, - có mùi của hoa cỏ ba lá, và lan tỏa sự quyến rũ của phong cảnh đồng quê khắp gian sảnh ốp gỗ tối màu. Tất cả những cái đó, cộng với vẻ lộng lẫy xinh đẹp của những chiếc tách và đĩa sứ cổ, những chiếc thìa khắc gia huy, và một chiếc bình đựng kem bằng bạc (món đồ bạc duy nhất khác của bà Hepzibah, có hình dáng như chiếc bát thô sơ nhất), tạo nên một bàn ăn mà những vị khách trịnh trọng nhất của đại tá Pyncheon không cần tỏ ra khinh khỉnh khi ngồi xuống. Nhưng gương mặt của vị tín đồ Thanh giáo vẫn cau có nhìn xuống từ bức tranh, như thể không thứ gì trên bàn làm ông ngon miệng.

Để tăng thêm phần duyên dáng, Phoebe hái mấy bông hồng và một ít hoa khác, không hương thì cũng có sắc, và cắm chúng vào một bình thủy tinh đựng nước, đã mất quai từ đời nào, rất thích hợp để làm bình hoa. Ánh nắng sớm - tươi mát như ánh nắng đã lén nhìn vào khuê phòng của Eve khi nàng với Adam ăn sáng ở đó - lấp lánh rọi qua những cành lê, và chiếu xiên qua bàn ăn. Tất cả đã sẵn sàng. Có ghế và đĩa cho ba người. Một chiếc ghế và đĩa cho bà Hepzibah, - một cho Phoebe, - nhưng vị khách còn lại mà cô của cô chờ đợi là ai?

Trong suốt quá trình sửa soạn này bà Hepzibah không ngừng run rẩy, một sự xúc động quá mạnh mẽ khiến Phoebe có thể thấy cái bóng gầy gò của bà run run, khi ánh lửa hắt nó lên tường bếp, hoặc bởi ánh nắng trên sàn gian sảnh. Những biểu hiện của nó rất đa dạng, chẳng cái nào giống cái nào, khiến cô gái chẳng hiểu ra làm sao. Đôi lúc nó dường như là một cơn ngây ngất của sung sướng và hạnh phúc. Vào những giây phút ấy bà Hepzibah sẽ dang hai tay ôm chầm lấy Phoebe, và hôn má cô một cách dịu dàng như mẹ cô; có vẻ bà làm thế bởi một thôi thúc không tránh khỏi, và như thể lồng ngực bà căng tràn niềm âu yếm, khiến bà cần trút bớt ra, để lấy chỗ hít thở. Phút tiếp theo, không có bất cứ nguyên nhân hữu hình nào, niềm vui bất thường của bà xẹp xuống, và khoác lên tấm áo thê lương, hoặc có thể nói là nó chạy trốn vào trong nhà ngục của trái tim bà, nơi nó bị xiềng xích bao lâu nay, trong lúc đó một nỗi đau khổ lạnh lẽo vô hình thay thế niềm vui sướng bị cầm tù, lo sợ được giải phóng, - một nỗi đau khổ đen ngòm bên cạnh niềm vui rực rõ. Bà thường bật ra những tiếng cười nhỏ, hồi hộp, cuồng loạn, gây xúc động hơn bất cứ giọt nước mắt nào; và ngay tức khắc, như thể cố gắng ganh đua, nước mắt sẽ trào ra, hoặc có lẽ tiếng cười và nước mắt xuất hiện cùng lúc, và bao vây bà Hepzibah đáng thương của chúng ta, trong một ý thức đạo đức, với một dải cầu vồng nhợt nhạt, u tối. Đối với Phoebe, như chúng tôi đã nói, bà tỏ ra trìu mến, - dịu dàng hơn lúc nào hết, trong thời gian ở cùng ngắn ngủi của họ, trừ cái hôn vào tối hôm trước, - tuy nhiên vẫn không hết vẻ cau có gắt gỏng. Bà sẽ nói năng gay gắt với cô, rồi quẳng tất cả sự lạnh lùng cứng nhắc của phong thái thường ngày, xin lỗi cô, và liền sau đó tiếp tục gây ra sự tổn thương vừa được tha thứ.

Cuối cùng, khi công việc lặng lẽ của họ đã kết thúc, bà nắm tay Phoebe trong bàn tay run rẩy của mình.

“Hãy kiên nhẫn với ta, cháu yêu,” bà thổn thức, “vì trái tim ta đã quá sức chịu đựng! Hãy kiên nhẫn với ta, vì ta yêu cháu, Phoebe, dù ta nói năng quá thô lỗ. Đừng nghĩ ngợi gì cả, cháu yêu! Dần dần ta sẽ tử tế, và chỉ tử tế mà thôi!”

“Cô không thể nói cho cháu biết chuyện gì đã xảy ra sao?” Phoebe hỏi, với một niềm thương cảm rưng rưng. “Chuyện gì khiến cô xúc động đến vậy?”

“Suỵt! Suỵt! Anh ấy đang đến!” Bà Hepzibah thì thầm, vội vàng lau nước mắt. “Hãy để anh ấy nhìn thấy cháu trước, Phoebe, vì cháu trẻ trung và tươi tắn, và không thể không khiến người ta nở nụ cười. Anh ấy luôn thích những gương mặt tươi sáng! Gương mặt ta giờ đã già nua, và nước mắt còn chưa khô trên đó. Anh ấy chưa bao giờ chịu nổi những giọt nước mắt. Kìa, kéo tấm rèm xuống một chút, để bóng tối phủ xuống phía anh ấy trên bàn! Nhưng cũng để ánh nắng tràn vào thật nhiều, vì anh ấy chưa bao giờ thích tối tăm, như một số người. Cuộc đời của anh ấy có quá ít ánh nắng, - Clifford tội nghiệp, - và, ôi, một thứ bóng tối đen ngòm. Tội nghiệp, tội nghiệp Clifford!”

Lẩm bẩm bằng giọng trầm thấp, như đang nói với bản thân hơn là với Phoebe, người phụ nữ già nhón chân đi quanh phòng, sắp xếp chỗ này chỗ kia vì nghĩ chúng bừa bộn.

Trong lúc ấy có tiếng chân ở hành lang trên gác. Phoebe nhận ra chúng chính là tiếng chân đã đi lên, trong giấc mơ của cô đêm qua. Vị khách đang đến, dù là ai đi nữa, dường như dừng lại ở đầu cầu thang; ông ta dừng lại hai hoặc ba lần trong khi đi xuống; ông ta dừng lại một lần nữa dưới chân cầu thang. Mỗi lần trì hoãn ấy dường như không chủ ý, mà do quên mất mục đích khiến ông ta di chuyển, hoặc như thể bước chân của người đó vô tình chững lại vì sức lực quá yếu để đẩy ông ta tiến lên. Cuối cùng ông ta dừng lại thật lâu trước ngưỡng cửa gian sảnh. Ông ta nắm lấy nắm đấm cửa, rồi buông ra mà không mở nó. Bà Hepzibah, hai bàn tay vặn xoắn vào nhau điên cuồng, đứng nhìn đăm đăm ra cửa.

“Cô Hepzibah, xin cô đừng như thế!” Phoebe run rẩy nói; vì sự xúc động của bà, và bước chân do dự đầy bí ẩn này, khiến cô cảm thấy như một hồn ma sắp tiến vào phòng. “Cô thực sự làm cháu sợ! Có chuyện gì khủng khiếp sắp xảy ra ư?”

“Suỵt!” Bà Hepzibah thì thào. “Vui vẻ lên! Dù xảy ra chuyện gì cũng phải vui vẻ!”

Lần dừng cuối cùng ở ngưỡng cửa kéo dài mãi, khiến bà Hepzibah, không thể chịu nổi căng thẳng, lao tới mở toang cánh cửa, và dắt tay người lạ vào. Thoạt nhìn, Phoebe trông thấy một người già cả, trong chiếc áo choàng mặc nhà bằng lụa damask bạc màu, mang bộ tóc xám gần như trắng dài khác thường. Nó rủ xuống trán ông, trừ phi ông hất nó ra sau, và nhìn khắp phòng một cách ngờ ngợ. Sau một thoáng quan sát gương mặt ông, dễ dàng nhận thấy bước chân ông ắt hẳn là bước chân như vậy, chậm chạp và hoang mang như hành trình đầu tiên của một đứa trẻ qua sàn căn phòng, bước chân đó đã vừa đưa ông đến nơi này. Tuy vậy không có những dấu hiệu chứng tỏ thể chất của ông có thể không đáp ứng được một dáng đi thoải mái và quyết đoán. Chính tinh thần của người đàn ông là thứ không thể bước đi. Sắc mặt ông - cho dù có ánh sáng của lý trí – dường như chập chờn, và le lói, và gần như tắt ngấm, và quá yếu ớt để hồi phục trở lại. Nó giống như ngọn lửa chúng ta thấy ánh lên giữa đám tro sắp tàn; chúng ta nhìn nó chăm chú hơn so với một ngọn lửa bốc cao rừng rực, - chăm chú hơn, nhưng với sự nôn nóng nhất định, như thể nó hoặc phải rực lên phút huy hoàng cuối cùng, hoặc tắt ngay tức khắc.

Trong ít giây sau khi bước vào phòng, vị khách đứng im, giữ bàn tay bà Hepzibah theo bản năng, như một đứa trẻ làm thế với người dẫn dắt nó. Tuy nhiên ông trông thấy Phoebe, và bắt gặp một tia sáng từ diện mạo trẻ trung và tươi vui của cô, nó lan tỏa một niềm hân hoan khắp gian sảnh, như vòng sáng rực rỡ phản chiếu của bình hoa thủy tinh đang đứng trong nắng. Ông làm động tác cúi chào, hoặc, nói cho đúng hơn, một nỗ lực yếu ớt, không rõ ràng để nghiêng mình. Dù không hoàn hảo, nhưng nó truyền tải ý nghĩa, hoặc chí ít đưa ra một dấu hiệu, về một sự duyên dáng khó tả, mà không một nghệ thuật thực hành của những phong cách bề ngoài nào có thể đạt tới. Nó quá mỏng manh để bắt được vào giây phút đó; tuy nhiên, như sau này nhớ lại, nó như biến đổi người đàn ông hoàn toàn.

“Clifford thân yêu,” bà Hepzibah nói, bằng tông giọng người ta dùng để dỗ dành một đứa bé ương ngạnh, “đây là cháu Phoebe nhà chúng ta, cô bé Phoebe Pyncheon, - con gái duy nhất của Arthur, anh biết đấy. Con bé mới từ quê lên đây ở với chúng ta một thời gian, vì ngôi nhà cũ của chúng ta bây giờ trở nên quạnh quẽ quá.”

“Phoebe - Phoebe Pyncheon? - Phoebe?” Vị khách lặp lại, bằng một giọng chậm chạp, kỳ lạ khó xác định. “Con của Arthur! Tôi quên mất rồi! Không sao. Cô bé được chào đón!”

“Lại đây, Clifford thân yêu, ngồi xuống chiếc ghế này,” bà Hepzibah nói, dẫn ông tới chỗ của mình. “Phoebe, hãy hạ rèm xuống chút nữa. Giờ chúng ta bắt đầu bữa sáng thôi.”

Người đàn ông ngồi vào chỗ được chỉ định cho mình, lạ lẫm nhìn xung quanh. Rõ ràng ông đang cố vật lộn với khung cảnh hiện tại, và hiểu về nó với sự rành mạch vừa ý hơn. Chí ít ông khao khát được chắc chắn rằng ông đang ở đây, trong gian sảnh trần thấp, đầm ngang, ốp gỗ sồi, chứ không phải nơi nào khác, nơi đã ăn sâu vào các giác quan của ông. Nhưng nỗ lực ấy quá lớn để có thể duy trì nên chỉ đạt thành công rời rạc. Ông liên tục lạc khỏi chỗ của mình, hoặc, nói cách khác, tâm trí và ý thức của ông ra đi, bỏ lại hình dáng tàn tạ, xám xịt, sầu muộn - một sự trống rỗng mong manh, một hồn ma hữu hình - chiếm chỗ của ông ở bàn. Một lần nữa, sau giây phút thất thần, sẽ có tia sáng lóe lên trong tròng mắt ông. Nó báo hiệu phần hồn của ông đã trở lại, và đang cố hết sức nhóm lên ngọn lửa trong tim, và thắp những ngọn đèn trí óc trong tòa nhà tối tăm đổ nát, chịu số phận một nơi ở hoang phế.

Vào một trong những khoảnh khắc tỉnh táo hơn, song vẫn không hoàn hảo này, Phoebe bắt đầu tin vào ý nghĩ mà thoạt đầu cô đã bác bỏ vì quá vô lý và bàng hoàng. Cô thấy con người trước mặt mình chắc chắn là nguyên mẫu của bức tiểu họa đẹp đẽ được cô Hepzibah của cô cất giữ. Thật vậy, với con mắt của phụ nữ đối với trang phục, cô lập tức xác định được chiếc áo choàng lụa damask bao bọc ông giống hệt về hình dáng, chất liệu, và kiểu cách, với chiếc áo được thể hiện tinh tế trong tranh. Chiếc áo cũ, bạc màu này, với tất cả sự rực rỡ tinh khôi đã mất đi, dường như, theo một cách mơ hồ nào đó, đã nói lên sự bất hạnh của người mặc, và khiến mắt người quan sát cảm nhận được. Vẻ bề ngoài này càng cho thấy lớp trang phục của linh hồn đã tàn tạ và già nua đến mức nào; vóc dáng và nét mặt đó, vẻ đẹp và sự duyên dáng đã gần như vượt xa khả năng của những họa sĩ tinh tế nhất. Có thể nhận ra rằng linh hồn của người đàn ông hẳn đã chịu đựng một sai lầm thống khổ, từ trải nghiệm thực tế của nó. Dường như ông ngồi đó, với tấm màn tối của suy sụp và đổ nát ngăn giữa ông và thế giới, nhưng tháng hoặc, có thể bắt gặp nét mặt tương tự, hết sức thanh nhã, mơ màng, để Malbone – trong một phút xuất thần, nín thở - đã truyền tải lên bức tranh! Có cái gì đó rất đặc biệt trong ánh mắt ấy, mà tất cả những năm tháng tối tăm, và sức nặng của tai ương đã rơi xuống ông, cũng không đủ để phá hủy nó hoàn toàn.

Lúc này bà Hepzibah đã rót một tách cà phê thơm lừng, và đưa nó cho vị khách của mình. Khi mắt ông gặp mắt bà, ông tỏ ra hoang mang và lo lắng.

“Đây là cô sao, Hepzibah?” Ông lẩm bẩm buồn bã, rồi nói thêm, và có lẽ không hay biết mình bị nghe thấy, “Thay đổi quá! Thay đổi quá! Cô ấy đang tức giận với mình ư? Tại sao cô ấy cau mày như thế?”

Tội nghiệp bà Hepzibah! Đó là vẻ cau có khốn khổ do thời gian và tật cận thị của bà, cùng với những lo lắng tích tụ gây ra, trở nên thường xuyên đến nỗi bất cứ tâm trạng nào cũng làm nó xuất hiện. Nhưng trước lời lẩm bẩm mơ hồ của ông, gương mặt bà dịu xuống, và thậm chí đáng yêu, với sự trìu mến đau lòng, những đường nét thô ráp biến mất sau ánh sáng ấm áp và mờ hơi nước.

“Tức giận!” Bà lặp lại, “tức giận với anh, Clifford!”

Giọng bà, khi thốt ra câu đó, có một giai điệu ai oán và thấm thía rung lên bên trong, song không làm dịu bớt một cái gì đó mà một người nghe chậm hiểu vẫn có thể nhầm thành khó chịu. Cứ như một nhạc sĩ trứ danh tấu lên một khúc nhạc du dương nghẹn ngào từ một nhạc cụ rạn nứt, sự thiếu hoàn hảo của nó vút lên giữa bản hòa tấu bay bổng, - cảm giác ấy cũng tìm thấy trong giọng nói của bà Hepzibah. “Không có gì ngoài tình yêu thương ở đây, Clifford,” bà thêm vào, “không có gì ngoài tình yêu thương! Anh đã về nhà!”

Vị khách đáp lại bằng một nụ cười, chỉ làm gương mặt ông sáng lên vài phần. Song dù yếu ớt, và tắt lịm trong khoảnh khắc, nó vẫn có một vẻ đẹp quyến rũ. Theo sau là một biểu cảm thô tục hơn, hoặc một biểu cảm chịu tác động thô tục trên cái nền và đường nét đẹp đẽ của gương mặt ông, bởi vì không có cái gì lý trí để làm dịu nó. Đó là một vẻ háu ăn. Ông ăn uống theo một cách có thể gọi là ngốn ngấu; và dường như quên cả bản thân, bà Hepzibah, cô gái, và mọi thứ khác xung quanh, trong niềm sung sướng do cái bàn thịnh soạn mang lại. Trong hệ thống tự nhiên của ông, dù được rèn giũa và thanh lọc kỹ lưỡng, cảm giác đối với những vui sướng của khẩu vị có thể là cố hữu. Tuy nhiên nó ắt sẽ được kiểm soát thường xuyên, thậm chí biến đổi thành hoàn thiện, và là một trong hàng nghìn loại hình trí tuệ, nếu những đặc tính thanh cao hơn của ông giữ được sức sống mãnh liệt của chúng. Nhưng như hiện tại, hậu quả của nó thật đau lòng và khiến Phoebe phải cụp mắt xuống.

Chẳng mấy chốc vị khách ngửi thấy mùi cà phê chưa được nếm. Ông uống ừng ực. Hương vị tác động lên ông như một phép màu, và khiến bản năng động vật mờ đục ở ông trở nên trong suốt, hoặc ít nhất là trong mờ, để một tia sáng tinh thần có thể rọi qua, với ánh rực rõ hơn cho đến giờ.

“Thêm nữa, thêm nữa!” Ông kêu lên, bằng giọng hối hả, như lo lắng muốn giữ chặt thứ tìm cách thoát khỏi ông. “Đây chính là thứ tôi cần! Cho tôi thêm!”

Nguồn năng lượng thơm ngon và hiệu nghiệm này làm ông ngồi thẳng hơn, và ánh mắt ông ghi nhận mọi cái nó chạm vào. Không phải sắc mặt ông trở nên minh mẫn hẳn; dù nó có biến chuyển, nhưng không đến mức kinh ngạc. Cũng không phải cái chúng ta gọi là nhân tính thức tỉnh một cách đột ngột. Mà là một tâm tính cao đẹp lúc này chưa được giải cứu hoàn toàn, nhưng đã bộc lộ phần nào, nó biết phản ứng trước tất cả những điều đẹp đẽ và thú vị. Trong một nhân cách nơi nó tồn tại như một thuộc tính cơ bản, nó ban cho người sở hữu nó một khẩu vị tinh tế, một sự nhạy cảm đáng ghen tị với hạnh phúc. Cuộc sống của ông sẽ tươi đẹp, những khát vọng của ông sẽ hướng về điều đó; vóc dáng và thể chất của ông cũng sẽ trở nên đẹp đẽ. Một con người như vậy sẽ không dính dáng đến đau khổ, xung đột, tử vì đạo, thứ mà, trong muôn hình muôn vẻ, dành cho những ai có trái tim, ý chí, và lương tâm để chiến đấu với thế giới. Đối với những tính cách can trường ấy, sự tử vì đạo là món quà quý giá nhất trên đời. Đối với con người trước mặt chúng ta, nó chỉ có thể là sự đau khổ, tương ứng với độ khốc liệt của sự hy sinh. Ông không có quyền để làm một kẻ tử vì đạo; và, trông ông quá thích hợp để hạnh phúc và quá yếu đuối cho tất cả những mục đích khác, một tâm hồn hào phóng, mạnh mẽ, và cao quý ắt sẽ sẵn sàng hy sinh những niềm vui nhỏ nhặt dự trù cho chính mình, - nó ắt sẽ quẳng đi những hy vọng, theo nó là nhỏ nhặt, - nếu bằng cách đó mà những luồng gió lạnh lẽo trong thế giới khắc nghiệt của chúng ta có thể dịu đi đối với một con người như vậy.

Nói không phải lỗ mãng hay khinh miệt, dường như bản chất của Clifford là một kẻ hưởng lạc. Có thể thấy, ngay cả trong gian sảnh cũ tối tăm, trong sự tương phản với tia nắng lung linh rọi qua tán lá mà mắt ông hướng đến. Ta thấy vẻ tán thưởng của ông đối với bình hoa, mùi hương ông hít vào với sự say mê gần như kỳ quặc đối với một thực thể quá thanh nhã khiến những thành phần tinh thần lặn vào trong. Nó bộc lộ trong nụ cười vô thức khi ông nhìn Phoebe, mang trong vóc dáng tươi tắn và nữ tính của mình cả nắng và hoa – khiến chúng xinh đẹp và đáng yêu hơn bao giờ hết. Rõ ràng không kém là tình yêu và khao khát cái đẹp, dù còn quá sớm, nhưng đôi mắt ông đã thận trọng quay khỏi bà chủ nhà, và lang thang tới mọi hướng khác chứ không quay lại. Đó là nỗi bất hạnh của bà Hepzibah, - không phải lỗi của ông Clifford. Làm sao ông có thể, - bà vàng vọt, nhăn nheo, âu sầu như thế, với cái khăn vụng về quấn trên đầu, và những cái cau mày ngang ngạnh nhất làm méo mó vầng trán bà, - làm sao ông có thể thích nhìn bà được? Nhưng ông có nợ bà lòng yêu mến tha thiết như bà đã lặng lẽ dành cho ông không? Ông không nợ bà gì cả. Một người như Clifford không thể mang những món nợ kiểu đó. Bản tính ấy - chúng ta có thể nói mà không hề chỉ trích, cũng không giảm nhẹ lời xác nhận bất di bất dịch đối với những bản tính mang hình dạng khác - luôn ích kỷ từ trong cốt lõi; và chúng ta buộc phải để nó như thế, và dồn tình yêu lớn lao mà không vụ lợi của chúng ta cho nó nhiều hơn nữa, không đòi hỏi sự đền đáp. Bà Hepzibah tội nghiệp biết sự thật này, hoặc, chí ít, hành động theo bản năng về nó. Chàng trai Clifford trẻ đẹp từ lâu đã không còn, bà hoan hỉ – hoan hỉ, dù với tiếng thở dài, và những giọt nước mắt âm thầm rơi trong phòng riêng khi giờ đây trước mắt ông có những đối tượng rực rõ hơn bộ mặt già nua xấu xí của bà. Nó không bao giờ có sự quyến rũ; và nếu có, tác hại do nỗi đau khổ của bà vì ông ắt sẽ hủy hoại nó từ lâu.

Vị khách ngả người ra ghế. Trong niềm vui sướng mơ màng của ông có nỗi phiền muộn vì gắng sức và lo âu. Ông đang cố gắng để bản thân thích ứng hoàn toàn với khung cảnh xung quanh; hoặc, có lẽ, nỗi sợ nó chỉ là giấc mơ, hoặc một trò đùa của trí tưởng tượng, đang quấy rầy khoảnh khắc êm đềm bằng mong muốn có thêm những ảo ảnh tươi sáng và bền lâu hơn.

“Thật dễ chịu! Thật thoải mái!” Ông lẩm bẩm, nhưng dường như không hướng đến ai. “Nó sẽ kéo dài chứ? Không khí từ cửa sổ trong lành quá! Một ô cửa sổ để mở! Ánh mặt trời đẹp biết bao! Những bông hoa kia thật thơm! Gương mặt cô gái trẻ kia, thật tươi vui, thật trẻ trung! - một bông hoa đọng sương, và tia nắng trong những giọt sương! Ôi! Chắc tất cả chỉ là giấc mơ! Một giấc mơ! Một giấc mơ! Nhưng nó đã ẩn đi bốn bức tường đá!”

Rồi gương mặt ông sầm xuống, như thể bóng tối của một cái hang hoặc một hầm ngục vừa trùm lên nó; ánh sáng trên vẻ mặt đó chẳng nhiều hơn ánh sáng xuyên qua những song sắt của một cửa sổ phòng giam - vẫn đang yếu đi, như thể ông đang chìm xuống sâu hơn. Phoebe (với tính cách hoạt bát và nhanh nhẹn khiến cô hiếm khi kìm mình không can dự, và thường là tích cực, vào chuyện đang diễn ra) thấy mình tiến đến nói với người lạ.

“Đây là một loài hoa hồng mới, cháu tìm thấy sáng nay Ő trong vườn,” cô nói, chọn một bông hồng đỏ từ bình hoa.

“Khóm hoa sẽ nở năm hoặc sáu bông mùa này. Đây là bông đẹp nhất, không có một vết rệp vừng hay nấm mốc. Và nó rất thơm! – thơm khác những bông hồng khác! Ta không thể quên được mùi hương đó!”

“A! Cho tôi xem! Cho tôi cầm nó nào!” Vị khách kêu lên, háo hức chụp lấy bông hoa, mà, bằng một phép màu kỳ lạ đã liên kết với bao mùi hương thương nhớ trong hương thơm nó tỏa ra. “Cảm ơn cháu! Thứ này giúp ích cho tôi rất nhiều. Tôi nhớ mình từng yêu quý loài hoa này biết bao, chắc là từ rất lâu, lâu lắm rồi! – Hay mới chỉ là hôm qua? Nó làm tôi cảm thấy trẻ lại! Tôi có trẻ không? Ký ức này hoặc rất rõ rệt, hoặc là một ý thức lờ mờ! Nhưng cô bé thật tốt bụng! Cảm ơn cháu! Cảm ơn cháu!”

Sự phấn khích vì bông hồng đỏ đã giúp Clifford có được khoảnh khắc rạng rõ nhất ở bàn ăn. Lẽ ra nó có thể kéo dài lâu hơn, nhưng không lâu sau mắt ông tình cờ chạm phải gương mặt của người Thanh giáo già, từ cái khung đen đúa và mặt vải canvas xám xịt, đang nhìn xuống khung cảnh như một bóng ma, và là một bóng ma khó chịu và hắc ám nhất. Vị khách khoát tay đầy nôn nóng, và hỏi bà Hepzibah bằng thái độ có thể dễ dàng nhận ra là sự cáu kỉnh ngang nhiên của một thành viên được chiều chuộng trong nhà.

“Hepzibah! Hepzibah!” Ông nói gay gắt và rành rọt, “tại sao cô lại giữ bức tranh ghê tởm kia trên tường! Đúng, đúng! - Đó chính là gu của cô! Tôi đã bảo cô hàng nghìn lần, rằng đó là ác thần của ngôi nhà! - Ác thần của tôi! Hạ nó xuống ngay!”

“Clifford thân yêu,” bà Hepzibah buồn rầu nói, “anh biết là không thể được mà!”

“Vậy thì, dù thế nào đi nữa,” ông nói tiếp, vẫn hùng hổ, “làm ơn che nó lại bằng một tấm rèm đỏ, đủ rộng để tạo thành nếp, với đường viền vàng và các núm tua. Tôi không chịu nổi nó! Nó không được nhìn trừng trừng vào mặt tôi!”

“Vâng, Clifford thân yêu, bức tranh sẽ được che lại,” bà Hepzibah vỗ về. “Có một tấm rèm đỏ trong cái rương trên gác, em e là hơi bạc màu và bị nhậy cắn, - nhưng em và Phoebe sẽ tân trang cho nó.”

“Nhớ là trong hôm nay đấy,” ông bảo, rồi khê hạ giọng thêm vào, “Tại sao chúng ta cứ phải sống trong ngôi nhà ảm đạm này? Sao không tới miền Nam nước Pháp? – Tới Ý? Paris, Napoli, Venice, Rome? Hezibah sẽ bảo chúng ta không có điều kiện. Một ý kiến khôi hài!”

Ông mỉm cười một mình, rồi ném một ánh mắt chế nhạo nhẹ nhàng về phía bà Hepzibah.

Nhưng hàng loạt cảm xúc ông đã trải qua, trong một khoảng thời gian quá ngắn ngủi, rõ ràng đã làm ông mệt mỏi. Có lẽ ông quen với một nếp sống đơn điệu buồn tẻ, không chảy thành dòng, dù chậm chạp, mà đọng lại như ao tù quanh chân ông. Một tấm màn lơ mơ tự phủ lên gương mặt ông, và tác động đến những đường nét vốn dĩ thanh tú và tao nhã của nó, như một lớp sương mù, không có tia nắng chiếu qua, trùm lên các chi tiết của cảnh vật. Ông như trở nên trì độn hơn, - gần như thô kệch. Nếu có chút gì thú vị hoặc đẹp đẽ – kể cả một vẻ đẹp bị tàn phá - trước đây bộc lộ ở người đàn ông này, thì bây giờ người quan sát có thể nghi ngờ điều đó, và buộc tội trí tưởng tượng đã lừa dối anh ta bằng bất cứ vẻ duyên dáng nào đã lướt qua gương mặt đó, hoặc ánh rực rỡ nào đã lấp lánh trong đôi mắt mờ đục đó.

Tuy nhiên trước khi ông lịm đi, tiếng lanh canh sắc nhọn và cáu kỉnh của quả chuông ngoài cửa hàng vang lên. Dội thẳng vào thính giác và những dây thần kinh nhạy cảm của Clifford, nó khiến ông ngồi thẳng dậy trên ghế.

“Trời đất, Hepzibah! Thứ ầm ĩ trong nhà là gì thế?” Ông kêu lên, trút nỗi bực bội của mình - lẽ dĩ nhiên, và là một thói quen cũ – vào người duy nhất trên đời yêu thương ông. “Tôi chưa thấy tiếng ồn nào đáng ghét như vậy! Sao cô lại cho phép nó! Nhân danh mọi sự nghịch âm, nó là gì vậy?”

Một sự chấn động thật đáng kể - cứ như hình ảnh âm u trong tranh thình lình nhảy ra khỏi mặt vải vậy - Clifford choàng tỉnh bởi sự quấy rầy xem ra vặt vãnh này. Điều bí mật là, cơn nóng giận của ông luôn bị kích thích bởi sự nhạy cảm trước cái đẹp và hài hòa hơn là bởi trái tim ông. Thậm chí có khả năng - vì những trường hợp tương tự thường xuyên xảy ra - rằng nếu Clifford, trong quãng đời trước kia, đã thích bồi đắp thị hiếu của mình tới mức hoàn hảo nhất, thì tính cách tinh tế đó, trước giai đoạn này, có thể đã ăn mòn hoặc xua tan những tình cảm thương mến của ông. Bởi thế chúng ta có nên mạo muội khẳng định rằng tai ương kéo dài và đen đủi của ông có thể không có một giọt khoan dung cứu chuộc nào ở dưới đáy?

“Clifford thân yêu, ước gì em có thể ngăn âm thanh ấy khỏi tai anh,” bà Hepzibah nói một cách kiên nhẫn, nhưng đỏ bừng mặt bởi nỗi hổ thẹn dằn vặt. “Nó rất khó chịu kể cả với em. Nhưng Clifford, có điều này em phải nói với anh? Âm thanh xấu xí ấy, - Phoebe, xin hãy chạy ra xem là ai! tiếng lanh canh thô tục ấy chính là quả chuông cửa hàng nhà chúng ta!”

“Chuông cửa hàng!” Clifford lặp lại, với ánh mắt hoang mang.

“Vâng, chuông cửa hàng nhà chúng ta,” bà Hepzibah đáp, với một vẻ nghiêm trang vốn trộn lẫn với cảm xúc sâu xa. “Vì anh phải biết, Clifford thân yêu, rằng chúng ta rất nghèo. Và không có nguồn sống nào khác, hoặc là nhận sự giúp đỡ từ một bàn tay mà em sẽ gạt đi (và anh cũng vậy) nếu nó chìa ra mẩu bánh mì khi chúng ta sắp chết đói, - không có sự giúp đỡ nào, trừ người đó ra, hoặc tự kiếm sống bằng hai bàn tay mình! Một mình em có thể bằng lòng chết đói. Nhưng anh đã về với em! Anh có nghĩ rằng, Clifford thân yêu,” bà nói thêm, với một nụ cười khổ sở, “em đã khiến ngôi nhà cũ bị ô danh không cứu vãn nổi khi mở một cửa hàng nhỏ ở đầu hồi phía trước không? Ông cố của chúng ta đã làm điều tương tự, khi tình cảnh không ngặt nghèo bằng! Anh có xấu hổ về em không?”

“Xấu hổ! Nhục nhã! Cô nói những lời này với tôi ư, Hepzibah?” Clifford nói, song không tức giận, vì khi tinh thần của một người đàn ông bị nghiền nát hoàn toàn, ông ta có thể cáu kỉnh trước những sự xúc phạm nhỏ nhặt, nhưng không bao giờ phẫn uất trước sự xúc phạm lớn. Thế nên ông chỉ đáp với vẻ buồn rầu. “Nói vậy không hay đâu, Hepzibah! Bây giờ còn nỗi xấu hổ nào có thể xảy ra với tôi nữa?”

Và rồi người đàn ông yếu đuối ấy - ông sinh ra để tận hưởng niềm vui, nhưng gặp phải nỗi bất hạnh quá nghiệt ngã - òa lên khóc như một phụ nữ. Nhưng nó qua đi rất nhanh, để lại ông chìm trong im lặng, vẻ mặt ông cho thấy nó không phải một trạng thái thoải mái. Ông cũng hồi phục khỏi tâm trạng ấy được phần nào, và mỉm cười nhìn bà Hepzibah, hàm ý sâu xa, có chút chế nhạo của nụ cười ấy làm bà hoang mang.

“Chúng ta nghèo lắm sao, Hepzibah?” Ông hỏi.

Cuối cùng, nhờ chiếc ghế lót đệm dày và êm ái, Clifford ngủ thiếp đi. Nghe thấy nhịp thở đều đặn hơn của ông (kể cả khi ấy, thay vì mạnh mẽ và trầm sâu, nó lại run run yếu ớt, tương ứng với sự thiếu nghị lực trong tính cách ông), - nghe thấy những dấu hiệu của giấc ngủ say này, bà Hepzibah tranh thủ cơ hội nhìn gương mặt ông kỹ hơn bởi lẽ bình thường bà không dám. Tim bà tan ra thành nước mắt, sâu thẳm trong tâm hồn bà bật ra một tiếng rên rỉ, nhẹ và khẽ nhưng buồn khôn tả. Trong nỗi đau buồn và thương xót bà không cảm thấy bất kính khi nhìn vào gương mặt đã biến đổi, già đi, héo hắt và tàn tạ của ông. Nhưng ngay khi bà nguôi ngoai chút ít thì lương tâm đã chỉ trích bà vì nhìn ông chòng chọc, khi giờ đây ông thay đổi quá nhiều; và, vội vã quay đi, bà Hepzibah hạ rèm che ô cửa sổ đầy nắng, và để yên cho Clifford ngủ ở đó.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne