Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 427 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VI
cái giếng của maule

Sau một bữa trà sớm, cô gái thôn quê bé nhỏ lang thang vào vườn. Hàng rào bao quanh trước đây trải dài, nhưng giờ bị thu lại trong một bán kính nhỏ, và bị quây kín, một phần bởi hàng rào gỗ, một phần bởi những công trình phụ của những ngôi nhà ở dãy phố bên kia. Ở giữa vườn là một thảm cỏ, bao lấy một kết cấu nhỏ đổ nát, những gì phô ra của thiết kế ban đầu đủ để xác định nó từng là một chòi hóng mát. Một cây hoa bia, trồi lên từ cái rễ của năm ngoái, đang bắt đầu leo lên nó, nhưng còn lâu mới phủ kín cái mái bằng tấm áo xanh của mình. Ba trong số bảy đầu hồi hoặc ở đằng trước hoặc ở bên hông, trông xuống khu vườn với một sự uy nghiêm tăm tối.

Lớp đất đen màu mô đã tự nuôi mình trong một thời gian dài hoang phế, bằng những chiếc lá rụng, những cánh hoa, thân và vỏ hạt của những loài cây dại, sau khi chết còn hữu ích hơn lúc đang khoe sắc dưới ánh mặt trời. Sự độc ác của những năm tháng đã qua này sẽ trỗi dậy lần nữa, trong những luống cỏ dại (biểu tượng của những thói hư tật xấu của xã hội được chuyển tiếp) luôn có xu hướng tự bén rễ quanh nơi ở của con người. Tuy nhiên Phoebe nhận thấy sự phát triển của chúng chắc chắn được kiểm soát bởi một sự lao động khá chăm chút, thường xuyên và có hệ thống trong khu vườn. Khóm hoa hồng trắng rõ ràng đã được chống đồ dựa vào ngôi nhà từ đầu mùa; và một cây lê với ba cây mận tía, trừ một luống lý chua, là những cây ăn trái duy nhất, mang những dấu vết mới bị cắt tỉa những cành thừa hoặc khiếm khuyết. Còn có mấy loài hoa cổ và di truyền, tình trạng chẳng tươi tốt lắm, nhưng được nhổ cỏ cẩn thận, như thể một ai đó, hoặc vì tình yêu hoặc do tò mò, đã lo lắng tạo điều kiện hoàn hảo để chúng phát triển. Phần còn lại của khu vườn là những loại rau được sắp xếp phân loại đâu ra đấy, trong tình trạng phát triển rất đáng khen. Bí mùa hè vàng óng; dưa chuột hiện đang chứng tỏ sắp bò lan khắp nơi từ gốc chính. Vài ba luống đậu tây sắp kết hoa trên những cái cọc. Cà chua, chiếm một khoảnh rất yên ổn và nhiều nắng nên cây đã mọc xanh um, hứa hẹn một vụ thu hoạch sớm và được mùa.

Phoebe tự hỏi người nào đã bỏ công sức trồng trọt và chăm sóc vườn rau này, và giữ cho nền đất sạch sẽ gọn gàng. Chưa chắc là cô Hepzibah, người không có sở thích cũng như tâm hồn trồng hoa, và - với thói quen ẩn dật, cùng với khuynh hướng ưa trú trong khoảng tối của ngôi nhà - ắt sẽ khó bước ra ngoài trời để nhổ cỏ và cuốc đất giữa đám đậu và bí.

Đó là ngày đầu tiên cô đoạn tuyệt hoàn toàn với vùng nông thôn, Phoebe tìm thấy sự hấp dẫn không ngờ nơi cái góc nhỏ đầy cỏ, lá, những bông hoa quý tộc, và những loại rau dân dã này. Con mắt của thiên đường dường như nhìn xuống nó một cách thích thú, với một nụ cười khác thường, như thể vui mừng nhận thấy rằng thiên nhiên, bị vùi dập ở những nơi khác, và bị đuổi ra khỏi cái thị trấn bụi bặm, vẫn có thể giữ lại một nơi để hít thở ở đây. Nó đạt được một vẻ duyên dáng có phần hoang dã hơn, song vẫn rất thanh lịch, bởi một đôi chim cổ đỏ đã xây tổ trên cây lê, và đang vô cùng bận rộn và hạnh phúc trong lớp cành lá ken dày sẫm tối của nó. Những con ong, thật lạ lùng, cũng nghĩ rằng nó đáng để chúng tới đây, có lẽ từ một dãy tổ ong bên cạnh một nông trại xa xôi nào đó. Chúng đã trải qua bao cuộc hành trình trên không trung, đi tìm mật, hoặc mang đầy mật, giữa bình minh và hoàng hôn! Mà đã muộn thế này vẫn vắng đến tiếng vo ve dễ chịu từ một hay hai bông hoa bí, sâu bên trong nhụy hoa những chú ong này đang miệt mài lao động. Còn một chỗ khác trong vườn mà thiên nhiên có thể tuyên bố quyền sở hữu không nhân nhượng, bất kể con người có làm gì để biến nó thành của mình. Đó là một đài phun nước, viền quanh bằng những tảng đá cũ phủ rêu, trong lòng lát đá cuội nhiều màu như một hình thức khảm. Sự xao động nghịch ngợm và nhẹ nhàng của làn nước, trong lúc phun lên, tạo ra một phép màu với những viên đá cuội rực rõ này, liên tục làm xuất hiện những hình thù lạ mắt chuyển động, biến mất quá đột ngột để có thể xác định là gì. Từ đó, võ òa ra ngoài vòng đá rêu phủ, dòng nước chảy lén lút dưới hàng rào, qua cái mà chúng ta rất tiếc phải gọi là rãnh, chứ không phải mương. Chúng ta cũng không được quên nhắc đến một cái chuồng gà rất cổ kính đặt tận trong góc của khu vườn, không quá xa đài phun nước. Hiện giờ nó chỉ nhốt một ngài gà trống, hai bà vợ của ngài, và một chú gà con cô độc. Tất cả chúng đều thuộc một giống thuần chủng được chuyển giao như một đồ gia truyền trong gia đình Pyncheon, và nghe nói, trong thời hoàng kim, chúng đã đạt đến kích thước gần bằng gà tây, và về độ thơm ngon của thịt thì xứng đáng với bàn ăn của một ông hoàng. Để chứng minh tính xác thực của danh tiếng lẫy lừng này, bà Hepzibah có thể trưng ra vỏ một quả trứng lớn, khiến một con đà điểu gần như phải xấu hổ. Tuy vậy, những con gà mái bây giờ chỉ nhỉnh hơn bồ câu chút đỉnh, và có một dung nhan khó ở, quê kệch, héo hắt, cử động thì khập khiễng, và một thanh âm buồn ngủ, sầu muộn thông qua đủ thứ tiếng lục cục và cục tác của chúng. Rõ ràng nòi giống đã thoái hóa, giống như một dòng họ quý tộc nào đó, hậu quả của một sự canh chừng quá khắt khe để giữ gìn tính thuần chủng. Những kẻ có lông vũ này đã tồn tại quá lâu trong giống loài riêng biệt của chúng. Điều mà những đại diện hiện thời, dựa vào cung cách âu sầu của chúng, dường như ý thức được. Chúng sống lắt lay, rõ là thế, và thỉnh thoảng đẻ một quả trứng, và ấp một con gà con; không phải vì niềm vui của bản thân, mà để thế gian không mất đi vĩnh viễn thứ đã từng là một giống gà đáng ngưỡng mộ. Điểm nổi bật của những con gà mái là cái mào còi cọc đến thảm thương, vào thời kỳ sau này, nhưng giống cái khăn quấn đầu của bà Hepzibah một cách kỳ lạ và tai quái, đến độ Phoebe - chắc chắn là lương tâm cắn rứt - dần dần thích thú sự tương đồng giữa lũ gia cầm khốn khổ này và người bà con đáng kính của cô.

Cô gái chạy vào trong nhà để lấy ít vụn bánh mì, khoai tây lạnh và những mẩu thức ăn thừa khác phù hợp với tính ăn tạp của lũ gà. Lúc trở ra, cô cất tiếng gọi lạ tai, mà dường như chúng hiểu được. Con gà con chui qua những nan lồng và chạy đến bên chân cô, bộ dạng hớn hở; trong khi con gà trống và các quý cô của nó quan sát cô bằng những cái liếc khả nghi từ một bên mắt, rồi kêu lục cục với nhau, như đang trao đổi những ý kiến khôn ngoan về tính cách cô. Vẻ mặt chúng mới thông thái và khả kính làm sao, để phụ họa cho ý kiến của mình, không chỉ vì chúng là hậu duệ của một dòng dõi lâu đời, mà chúng đã tồn tại, với tư cách cá nhân, kể từ khi ngôi nhà bảy đầu hồi được xây nên, và theo cách nào đó đã hòa chung số phận với nó. Chúng là một dạng yêu tinh giữ nhà, hoặc nữ thần báo tử, dù rằng cánh và lông vũ của chúng khác với hầu hết các vị thần hộ mệnh khác.

“Gà nhép bé nhỏ đây rồi!” Phoebe nói “Đây là những mẩu vụn ngon lành cho mày!”

Thế là con gà con, mặc dù diện mạo cũng khả kính giống như mẹ nó - đúng là nó sở hữu toàn bộ sự cổ xưa của các bậc tiền nhân trong hình dạng thu nhỏ – tập trung sức lực để vỗ cánh bay lên đậu trên vai Phoebe.

“Con gà này tán thưởng cô lắm đấy!” Một giọng nói vang lên sau lưng Phoebe.

Quay phắt lại, cô kinh ngạc khi thấy một người thanh niên trẻ, anh ta đã vào khu vườn bằng một cánh cửa mở từ một đầu hồi khác với lối cô đi. Anh ta xách một cái cuốc trên tay, và, trong lúc Phoebe đi lấy thức ăn, đã bắt đầu xới đất quanh những gốc cà chua.

“Nó đối xử với cô như một người quen cũ,” anh ta lẳng lặng nói tiếp, cùng với một nụ cười khiến gương mặt anh ta dễ mến hơn Phoebe hình dung lúc đầu. “Những bậc khả kính trong chuồng kia dường như cũng rất niềm nở. Cô may mắn giành được thiện cảm của chúng rất sớm! Chúng nhẵn mặt tôi rồi, nhưng chưa bao giờ ban cho tôi bất cứ sự thân ái nào, dù hầu như chẳng ngày nào tôi không mang thức ăn cho chúng. Tôi cho rằng bà Hepzibah sẽ trộn lẫn sự thật với các câu chuyện khác của bà, và viết ra để lũ gà biết cô là một người họ Pyncheon!”

“Điều bí mật là tôi mới học cách nói chuyện với những con gà mái và gà con,” Phoebe mỉm cười nói.

“À, nhưng những con gà mái này,” chàng trai đáp, “những con gà mái dòng dõi quý phái này sẽ khinh bỉ khi hiểu ngôn ngữ thô tục của một con gà trong sân trang trại. Tôi nghĩ rằng - và bà Hepzibah cũng thế - chúng nhận ra chất giọng của gia tộc thì đúng hơn. Vì cô là một người Pyncheon.”

“Tôi là Phoebe Pyncheon,” cô gái nói, với thái độ có phần dè dặt; vì cô biết người mới quen này chẳng thể là ai khác ngoài người nghệ sĩ nhiếp ảnh, người có khuynh hướng coi thường luật pháp qua lời kể của bà cô khiến cho cô ác cảm. “Tôi không biết khu vườn của cô Hepzibah lại được chăm sóc bởi người khác.”

“Đúng vậy,” Holgrave nói, “tôi đào, và cuốc, và nhổ cỏ trong mảnh đất đen xưa cũ này, để bản thân được thư thái với những gì của thiên nhiên và sự giản dị có thể để lại trong nó, sau bao nhiêu người đã gieo hạt và gặt hái ở đây. Tôi xới đất như một cách giết thời gian. Công việc của tôi, nếu như tôi có một công việc nào, liên quan tới một vật liệu nhẹ hơn. Nói ngắn gọn là tôi tạo ra những bức tranh từ ánh nắng, và vì tính chất của công việc không được quá chói mắt, tôi đã thuyết phục bà Hepzibah cho tôi ở trọ trong một đầu hồi mờ tối này. Nó giống như một dải băng che mắt khi bước vào vậy. Cô có muốn xem một mẫu sản phẩm của tôi không?”

“Anh muốn nói một bức ảnh daguerreotype?” Phoebe hỏi với vẻ bớt dè dặt hơn; vì, bất chấp định kiến, con người trẻ trung của cô háo hức muốn xem. “Tôi không thích lắm những bức ảnh kiểu đó, chúng quá cứng nhắc và nghiêm nghị; hơn nữa còn lẩn tránh khỏi ánh nhìn, và cố trốn đi nữa. Tôi cho rằng chúng ý thức được mình trông rất khó ưa, vì thế ghét bị quan sát.”

“Nếu cô cho phép,” người nghệ sĩ nói, nhìn Phoebe, “tôi muốn thử xem một bức ảnh daguerreotype có thể phô ra những nét khó chịu trên một bộ mặt vô cùng hòa nhã hay không. Nhưng chắc chắn có một phần sự thật trong điều cô vừa nói. Hầu hết những bức ảnh của tôi trông khó ưa, nhưng lý do rất chính đáng là bởi nguyên mẫu trông như thế. Có một sự nhìn thấu tuyệt vời trong ánh nắng mênh mông và giản dị của bầu trời. Trong khi chúng ta chỉ biết nó miêu tả những bề mặt đơn giản nhất, nhưng nó thực sự đưa ra một nhân cách bí mật với độ chân thực mà không một họa sĩ nào dám động đến, kể cả khi anh ta phát hiện ra. Chí ít không có sự xu nịnh trong môn nghệ thuật khiêm nhường của tôi. Còn đây là bức ảnh tôi chụp đi chụp lại, mà vẫn không ra kết quả tốt hơn. Tuy nhiên nguyên mẫu mang vẻ mặt rất khác, dưới con mắt thông thường. Tôi sẽ rất vui nếu cô cho lời nhận xét về tính cách này.”

Anh ta đưa ra một bức ảnh daguerreotype nhỏ trong chiếc túi bằng da dê. Phoebe chỉ liếc nhìn qua, rồi trả lại.

“Tôi biết gương mặt đó,” cô nói, “vì đôi mắt khắc nghiệt ấy bám theo tôi suốt cả ngày. Đó là vị tổ tiên người Thanh giáo của tôi, được treo trong sảnh kia. Chắc chắn anh đã tìm ra cách nào đó sao chép bức tranh mà không có cái mũ nhung đen và bộ râu xám, và cho ông ấy mặc một chiếc áo khoác hiện đại với cà vạt satanh, thay vì áo choàng và dải cổ áo. Tôi không nghĩ ông ấy được cải thiện bởi sự chỉnh sửa của anh.”

“Cô sẽ thấy những điểm khác biệt khác nếu cô nhìn lâu hơn chút nữa,” Holgrave nói, bật cười, song hình như rất kinh ngạc. “Tôi có thể đảm bảo với cô rằng đây là một gương mặt hiện đại, và rất có thể cô sẽ gặp. Còn bây giờ, điểm đáng chú ý là nguyên mẫu, dưới mắt thường, - và theo những gì tôi biết, đối với bạn bè thân thiết nhất của ông ta, có một bộ mặt hết sức ôn hòa, biểu lộ của lòng nhân đức, trái tim rộng mở, sự hóm hỉnh ấm áp, và những đức tính đáng khen khác. Mặt trời, như cô thấy đấy, lại kể một câu chuyện khác, và sẽ không bị dỗ ngọt, sau năm sáu lần nỗ lực đầy kiên nhẫn của tôi. Ở đây chúng ta có một người đàn ông ranh mãnh, khôn ngoan, cứng rắn, độc đoán, đồng thời lạnh như băng. Nhìn con mắt kia đi! Cô có thích ở dưới quyền định đoạt của nó không? Cái miệng kia! Có khi nào nó mỉm cười không? À, nếu cô chỉ có thể nhìn thấy nụ cười thân thiện của nguyên mẫu! Càng bất hạnh hơn khi ông ta là một nhân vật nổi tiếng, và bức ảnh dự định được chạm khắc.”

“Tôi không mong muốn nhìn nó thêm nữa,” Phoebe nói, dời ánh mắt đi. “Chắc chắn nó rất giống bức chân dung cũ. Nhưng cô Hepzibah của tôi có một bức tranh khác, một bức tiểu họa. Nếu nguyên mẫu vẫn còn sống trên đời, tôi nghĩ người ấy có thể thách mặt trời làm cho mình trông khắc nghiệt và khó chịu.”

“Vậy là cô đã thấy bức tranh đó!” Người nghệ sĩ thốt lên, vẻ vô cùng hứng thú. “Tôi thì chưa từng, nhưng rất tò mò muốn được thấy. Và cô có thiện cảm với gương mặt đó?”

“Chưa từng có gương mặt nào đáng mến hơn,” Phoebe nói. “Nó gần như quá mềm mại và dịu dàng đối với gương mặt đàn ông.”

“Không có cái gì dữ dội trong đôi mắt sao?” Holgrave hỏi tiếp, quá háo hức khiến Phoebe xấu hổ, chưa gì anh ta đã lợi dụng mối quen biết quá mới mẻ của họ để tự nhiên như thế. “Không có cái gì đen tối và nham hiểm? Cô không thể cảm nhận nguyên mẫu đã phạm một tội ác lớn ư?”

“Thật vô nghĩa khi chúng ta cứ nói về một bức tranh anh chưa bao giờ thấy,” Phoebe nói, hơi mất bình tĩnh. “Anh đã nhầm nó với bức tranh nào khác. Một tội ác ư! Vì anh là bạn của cô Hepzibah, anh nên hỏi cô ấy cho anh xem bức tranh.”

“Gặp nguyên mẫu sẽ phù hợp hơn với mục đích của tôi,” nhà nhiếp ảnh trả lời nhã nhặn. “Còn về nhân cách ông ta, chúng ta không cần tranh luận. Nó đã được giải quyết bởi một tòa án có thẩm quyền, hoặc một tòa án tự cho mình thẩm quyền. Nhưng hãy ở lại đã! Xin cô đừng đi vội! Tôi có một đề nghị với cô.”

Phoebe đang định bỏ đi, nhưng quay lại, với đôi chút do dự; vì cô không hoàn toàn hiểu được cung cách của người này, mặc dù, nếu quan sát kỹ hơn, dường như nó thiếu vẻ khách sáo hơn bất cứ cách tiếp cận mang tính khiếm nhã nào. Còn có một kiểu quyền uy kỳ lạ trong điều anh ta bắt đầu nói, cứ như thể khu vườn là của anh ta hơn là một nơi anh ta được bước vào chỉ vì phép lịch sự của bà Hepzibah.

“Nếu cô không phiền,” anh ta nói, “tôi sẵn lòng để những bông hoa và những con gà đáng kính kia cho cô chăm sóc. Đến từ vùng thôn quê không khí trong lành, cô sẽ sớm cảm thấy cần một công việc ngoài trời. Thế giới của tôi không nằm giữa những bông hoa. Cô có thể cắt tỉa và chăm sóc chúng theo ý mình. Và thỉnh thoảng tôi sẽ chỉ đòi hỏi một đóa hoa thôi, để đổi lấy tất cả những rau dưa tươi lành mà tôi định làm cho bàn ăn của bà Hepzibah thêm phong phú. Như thế chúng ta sẽ là những đồng nghiệp, trong một cộng đồng.”

Lặng lẽ, và khá ngạc nhiên trước sự ưng thuận của mình, Phoebe bắt đầu chăm chú nhổ cỏ một thảm hoa, nhưng còn mải nghĩ ngợi về người thanh niên này hơn, người mà cô cảm thấy dần dần quen thuộc đến không ngờ. Cố không hoàn toàn thích anh ta. Tính cách anh ta làm cô gái thôn quê bối rối, như nó có thể gây ra cho một người quan sát thành thục hơn; vì trong khi tông giọng anh ta nhìn chung là vui đùa, ấn tượng để lại trong cô lại là nghiêm túc, và trừ phi tuổi trẻ của anh ta làm cho nó dịu xuống, gần như lạnh lùng. Trong hoàn cảnh hiện giờ, cô chống lại một sức hút trong con người anh ta, anh ta sử dụng nó với cô mà có khi không hay biết.

Không lâu sau, chạng vạng, cộng với bóng của những cây ăn trái và những ngôi nhà xung quanh, trùm một màu tối lờ mờ xuống khu vườn.

“Đến lúc nghỉ tay rồi!” Holgrave nói, “nhát cuốc vừa rồi đã cắt đứt một dây đậu. Chúc ngủ ngon, cô Phoebe Pyncheon! Vào bất cứ ngày đẹp trời nào, nếu cô cài một trong những nụ hồng kia lên tóc, và đến phòng tôi ở phố Central, tôi sẽ bắt lấy tia nắng trong trẻo nhất, và chụp một bức ảnh bông hoa và người mang nó.” Anh đi về phía đầu hồi cô tịch của mình, nhưng đến cửa thì ngoái lại, và gọi Phoebe, với tông giọng chắc chắn là cười đùa, song dường như có sự khẩn trương.

“Nhớ đừng uống nước ở giếng của Maule!” Anh nói. “Cũng đừng rửa mặt ở đó!”

“Giếng của Maule!” Phoebe nói. “Là chỗ có viền đá phủ rêu ư? Tôi không nghĩ đến chuyện uống nước ở đó, nhưng tại sao?”

“Ồ,” nghệ sĩ nhiếp ảnh đáp, “bởi vì, giống như tách trà của một quý bà, nó là thứ nước bị bỏ bùa!”

Anh ta biến mất, còn Phoebe nán lại chốc lát, nhìn thấy một tia sáng chập chờn, rồi một luồng sáng của ngọn đèn, trong một căn phòng của đầu hồi. Trên đường trở về phòng của bà Hepzibah trong nhà, cô thấy gian sảnh trần thấp tối om khiến mắt cô không thể nhìn xuyên qua. Song bằng bản năng cô nhận biết được hình dáng gầy gò của người phụ nữ già đang ngồi trên một chiếc ghế lưng thẳng, hơi khuất khỏi cửa sổ, ánh sáng yếu ớt từ đó làm hiện lên gò má nhợt nhạt của bà, quay nghiêng vào một góc phòng.

“Cháu thắp một cây đèn được không, cô Hepzibah?” Cô hỏi.

“Nếu cháu muốn, cháu yêu,” bà Hepzibah trả lời. “Nhưng đặt nó lên cái bàn trong góc hành lang ấy. Mắt ta rất yếu, ta gần như không chịu được ánh đèn chiếu thẳng vào.”

Giọng nói con người đúng là một công cụ tuyệt vời! Phản ứng nhanh nhạy trước mọi cảm xúc trong tâm hồn họ! Trong giọng bà Hepzibah lúc ấy có sự trầm sâu và ẩm ướt, như thể câu nói, thật bình thường, được ngâm trong hơi ấm của trái tim bà. Một lần nữa, lúc đang châm đèn trong bếp, Phoebe cảm tưởng bà đang nói với mình.

“Cô đợi một lát ạ!” Cô gái bảo. “Những que diêm này cứ le lói rồi lại tắt.”

Nhưng, thay vì một lời đáp từ bà Hepzibah, dường như cô nghe thấy tiếng rì rầm của một giọng nói không quen. Tuy nhiên nó nhập nhòe kỳ lạ, và kém lưu loát như một âm thanh không định hình, như ngôn ngữ của cảm xúc hơn là của trí óc. Mơ hồ đến mức ấn tượng hoặc âm vang của nó trong tâm trí Phoebe là vô thực. Cô kết luận rằng hẳn cô đã nhầm một thứ tiếng khác là tiếng người; không thì là do cô tưởng tượng ra.

Cô đặt cây đèn ở hành lang, rồi trở lại gian sảnh. Hình dáng bà Hepzibah, dù đường nét hòa lẫn vào bóng tối, giờ đã không còn hoàn toàn vô hình. Tuy nhiên, trong những chỗ khuất hơn của căn phòng, những vách tường thích ứng quá kém để phản chiếu ánh sáng, sự tối tăm vẫn gần như y nguyên.

“Cô vừa bảo gì cháu à?” Phoebe hỏi.

“Không đâu, cháu yêu!” Bà Hepzibah trả lời.

Ít từ ngữ hơn, nhưng vẫn mang nhạc điệu bí ẩn đó! Êm dịu, u sầu, song không thê lương, giọng nói như phun ra từ nơi sâu thẳm trong tim bà Hepzibah, thấm đẫm cảm xúc sâu sắc nhất của nó. Có cả sự run rẩy, - giống như dòng điện - truyền đến Phoebe. Cô gái ngồi im lặng giây lát. Nhưng chẳng mấy chốc, tri giác của cô rất nhạy bén, cô cảm nhận được một hơi thở bất thường trong một góc tối của căn phòng. Thêm vào đó, cơ thể mẫn cảm và khỏe mạnh của cô, gần như phản ứng với tác động của một trường tinh thần, giúp cô cảm nhận có ai đó đang ở rất gần.

“Cô thân yêu,” Phoebe hỏi, vượt qua sự lưỡng lự không rõ nguyên do, “không có người nào ở cùng phòng với chúng ta đấy chứ?”

“Phoebe, cô bé thân yêu của ta,” bà Hepzibah nói, sau một quãng ngừng, “cháu đã dậy sớm, lại bận rộn suốt cả ngày. Hãy đi ngủ đi, vì ta dám chắc cháu cần nghỉ ngơi. Ta sẽ ngồi trong sảnh một lát để tập trung suy nghĩ. Đó là thói quen lâu năm của ta, từ khi cháu chưa ra đời kia!” Vừa giục bà vừa bước tới, hôn Phoebe, và ôm cô vào ngực, trái tim bà đập sát ngực cô gái như cơn sóng cồn dữ dội. Làm sao lại có nhiều cảm xúc như thế trong trái tim già nua hoang phế này, để nó có thể dâng trào mãnh liệt?

“Chúc cô ngủ ngon,” Phoebe nói, cảm động kỳ lạ trước cử chỉ của bà Hepzibah. “Nếu cô bắt đầu yêu mến cháu, cháu rất mừng.”

Cô lui về phòng mình, nhưng không ngủ được ngay, sau đó ngủ cũng không yên giấc. Vào một lúc nào đó trong đêm sâu thẳm, qua màn sương mỏng của một giấc mơ, cô cảm thấy có tiếng chân bước lên cầu thang, nhưng không mạnh và dứt khoát. Giọng bà Hepzibah suỵt khẽ, đi cùng tiếng bước chân; và, một lần nữa, đáp lại tiếng bà, Phoebe lại nghe thấy tiếng thì thầm kỳ lạ ấy, có thể ví như một cái bóng phảng phất của giọng người.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne