Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 426 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương V
tháng năm và tháng mười một

Đêm hôm ấy Phoebe Pyncheon ngủ trong một căn phòng trông xuống vườn của ngôi nhà cũ. Nó quay về hướng đông, do đó đến đúng giờ đã định, một thứ ánh sáng đỏ thẫm tràn vào qua cửa sổ, nhuộm trần nhà cáu bẩn và những tua giấy trong màu sắc của nó. Giường của Phoebe có rèm, một tấm trướng đen cổ lỗ, và những dây hoa nặng nề bằng loại vải đã từng dày dặn, và thậm chí lộng lẫy vào thời của nó, nhưng hiện giờ trùm lên cô gái như một đám mây, tạo nên màn đêm ở một góc, trong khi những chỗ khác bắt đầu sang ngày mới. Tuy nhiên ánh ban mai sớm rọi vào khe hở ở chân giường, giữa những tấm rèm bạc màu. Phát hiện vị khách mới ở đó, - với sắc hồng trên má y như mình, và cơ thể khẽ cựa quậy trong giấc ngủ, đúng lúc một cơn gió nhẹ làm lay động tán lá, - bình minh liền hôn lên trán cô. Đó là cái vuốt ve của một thiếu nữ đẫm sương như Bình Minh dành cho người chị em đang ngủ của mình, một phần vì thôi thúc của tình yêu mến không cưỡng lại được, và một phần như lời nhắc đã đến lúc mở mắt ra rồi.

Cái chạm môi của ánh sáng làm Phoebe tỉnh giấc, và trong một lúc không nhận ra mình đang ở đâu, và làm sao những tấm rèm nặng nề kia lại quây lấy cô. Không có thứ gì rõ ràng với cô hết, trừ việc bây giờ là sáng sớm, và dù chuyện gì có thể xảy ra tiếp theo, trước hết phải dậy và cầu nguyện đã. Khung cảnh hà khắc của căn phòng và đồ đạc của nó làm cô thêm phần kính cẩn, đặc biệt là mấy cái ghế cao một cách cứng nhắc, một cái đặt gần thành giường, và nom như một con người thời xưa đã ngồi đó cả đêm, và vừa kịp biến mất để tránh bị phát hiện.

Sau khi mặc quần áo xong, Phoebe ló đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, và trông thấy một bụi hoa hồng trong vườn. Là một lùm cây rất cao, tươi tốt, nó dựa vào hông tòa nhà, và nở đầy những bông hoa hồng trắng quý hiếm và xinh đẹp. Một phần lớn trong số đó, như sau này cô gái phát hiện ra, bị rệp vừng hoặc nấm mốc bên trong; nhưng nhìn từ xa, cả bụi hoa trông như được mang tới từ vườn địa đàng vào mùa hè ấy, cùng với cả đất trồng. Song thực ra nó được trồng bởi Alice Pyncheon, - đó là bà cô của Phoebe, - trên khoảnh đất mà, chỉ tính đến chức năng trồng trọt như một khu vườn, thì giờ đây màu mỡ với gần hai trăm năm bỏ hoang. Tuy mọc trên hoang tàn, những bông hoa vẫn đưa mùi hương tươi mát và ngọt ngào tới người tạo ra chúng, nó cũng không thể kém tinh khiết và ít được hoan nghênh hơn vì hơi thở trẻ trung của Phoebe hòa vào trong đó, khi mùi hương bềnh bồng trôi qua cửa sổ. Vội vã chạy xuống cầu thang kẽo kẹt và không trải thảm, cô tìm đường ra khu vườn, hái vài bông hoa đẹp nhất mang về phòng mình.

Phoebe là một trong số những người sở hữu, như một di sản riêng biệt của họ, năng khiếu sắp xếp. Đó là một loại phép thuật tự nhiên giúp họ làm bộc lộ năng lực tiềm ẩn của những thứ xung quanh mình, và đặc biệt đem lại một vẻ thoải mái và dễ chịu cho bất cứ nơi nào, dù trong một thời gian ngắn, có thể là nhà của họ. Một túp lều hoang dưới tán cây, do những người đi rừng bỏ lại, sẽ đạt tiêu chuẩn nhà ở qua một đêm trọ của một người phụ nữ như thế, và sẽ tồn tại lâu sau khi hình bóng lặng lẽ của cô đã biến mất vào bóng tối xung quanh. Đúng là một phép thuật nội trợ như vậy cần phải có để cải tạo căn phòng bỏ hoang, âm u, tối tăm của Phoebe, đã quá lâu không có người ở trừ bọn nhện, chuột, và những hồn ma đến mức sự tiêu điều chiếm cứ xóa sạch mọi dấu vết về những giờ phút vui vẻ hơn của con người. Đó chính là quá trình của Phoebe mà chúng tôi cảm thấy thật khó diễn tả. Có vẻ cô chẳng có lấy một thiết kế sơ bộ, mà chỉ chạm vào chỗ này chỗ kia, đem một số món đồ ra ánh sáng và kéo những món khác vào bóng tối. Treo lên hoặc hạ xuống một tấm rèm cửa sổ; và, trong vòng nửa giờ, đã thành công đưa một nụ cười thân thiện và hiếu khách vào căn phòng. Mới đêm qua nó chẳng khác gì trái tim của một phụ nữ già, vì chẳng có ánh nắng hay ngọn lửa bếp ở bất cứ đâu, và trừ những hồn ma và những dư âm ma quái, không có người khách nào, trong bao năm qua, từng đặt chân vào căn phòng.

Còn một nét đặc biệt nữa của phép thuật bí ẩn này. Căn phòng, không nghi ngờ gì, là một nơi chứa đầy trải nghiệm, như một khung cảnh của đời người: niềm vui sướng của những đêm tân hôn đã đập rộn ràng ở đây; những sinh linh mới đã khóc chào đời ở đây; và những người già đã chết ở đây. Nhưng - bất kể có những bông hồng trắng hay không, hay những tác động mơ hồ có thể là gì đi nữa - một người có bản năng nhạy bén ắt sẽ biết ngay rằng đây là phòng ngủ của một phụ nữ, và đã được gột rửa tất cả những tội lỗi và đau khổ trước đây bằng hơi thở ngọt ngào và những ý nghĩ tươi sáng của cô. Những giấc mơ của cô đêm qua, những giấc mơ vui vẻ, đã xua đi bóng tối, và giờ vương vất trong căn phòng thế chỗ nó.

Sau khi sắp đặt mọi thứ theo đúng ý mình, Phoebe rời khỏi phòng, định vào khu vườn một lần nữa. Bên cạnh khóm hoa hồng, cô đã quan sát thấy nhiều loài hoa khác mọc hoang ở đó, và cản trở nhau phát triển (tương tự như trong xã hội loài người) bởi sự hỗn độn và vướng víu vô giáo dục của chúng. Tuy nhiên ở đầu cầu thang cô gặp bà Hepzibah, mới sáng ra đã mời cô vào một căn phòng mà cô có thể sẽ gọi là khuê phòng[6] của bà, nếu học vấn của cô có bao hàm từ tiếng Pháp ấy. Rải rác quanh phòng là mấy cuốn sách cũ, và một giỏ đồ khâu, và một chiếc bàn viết phủ bụi có đặt một món đồ gỗ lớn màu đen bên cạnh, người phụ nữ già nói với Phoebe đấy là cây đàn harpsichord. Trông nó giống một cỗ quan tài hơn bất cứ thứ gì khác; và vì không được chơi, hay mở ra trong nhiều năm, chắc hẳn có rất nhiều nốt nhạc chết lặng trong đó, ngột ngạt thiếu không khí. Được biết ngón tay con người gần như không chạm vào cây đàn sau thời của Alice Pyncheon, người đã học những giai điệu du dương ở châu Âu.

Bà Hepzibah mời người khách trẻ ngồi, và sau khi ngồi xuống chiếc ghế gần đó, bà nghiêm nghị nhìn vóc dáng bé nhỏ gọn gàng của Phoebe như thể muốn soi thấu từng động cơ và bí mật bên trong nó.

“Cháu Phoebe,” cuối cùng bà lên tiếng, “ta thật sự không thể cho cháu ở cùng ta.”

Tuy nhiên những lời này không có sự thẳng thừng kém mến khách có thể khiến người đọc bàng hoàng; vì hai người họ hàng, trong cuộc trò chuyện trước giờ ngủ, đã đạt tới một mức thấu hiểu ngầm. Bà Hepzibah biết đủ để có thể hiểu được những hoàn cảnh (bắt nguồn từ cuộc hôn nhân thứ hai của mẹ cô gái) khiến Phoebe khao khát tìm một mái nhà khác. Không phải bà hiểu sai tính cách của Phoebe, và sự thân thiện toát lên từ nó, - một trong những điểm đáng giá nhất của người phụ nữ New England đích thực, - thứ đã thôi thúc cô, có thể nói vậy, ra đi tìm vận may, nhưng với một mục đích đầy tự trọng là sống bằng sức lao động của mình. Là một trong những người bà con gần nhất, tất nhiên cô đã tìm đến bà Hepzibah, không hề có ý định bắt người cô che chở, mà chỉ là một chuyến thăm một hai tuần lễ, có thể kéo dài vô hạn định, nếu nó cho thấy cả hai đều vui vẻ.

Vì thế, trước câu nói thẳng thừng của bà Hepzibah, Phoebe đáp lại một cách thẳng thắn, và vui vẻ.

“Thưa cô, cháu không biết là như thế nào,” cô nói. “Nhưng cháu thực sự nghĩ chúng ta có thể hòa hợp tốt hơn cô tưởng.”

“Ta thấy rõ cháu là một cô gái tốt,” bà Hepzibah tiếp tục, “và tất nhiên đó không phải là điều khiến ta do dự. Nhưng, Phoebe ạ, ngôi nhà này của ta chỉ là một nơi quá u uất để một người trẻ tuổi có thể ở. Nó mặc gió mưa và tuyết hoành hành ở gác mái và các tầng trên vào mùa đông, nhưng chẳng bao giờ cho một tia nắng lọt vào. Về phần ta, cháu thấy ta đấy, - một phụ nữ già sầu muộn và cô độc (vì ta bắt đầu coi mình là già rồi, Phoebe), tính tình e rằng chẳng được tốt, tinh thần thì hết sức tồi tệ! Ta không thể làm cho cuộc sống của cháu dễ chịu, ta cũng không có khả năng nuôi cháu.”

“Cô sẽ thấy cháu là một đứa nhỏ vui vẻ,” Phoebe đáp, mỉm cười, nhưng với một vẻ tự trọng nhẹ nhàng, “và cháu định tự kiếm miếng ăn. Cô biết là cháu không được nuôi dưỡng như một người họ Pyncheon. Một cô gái học được nhiều điều ở một ngôi làng New England.”

“Phoebe à,” bà Hepzibah thở dài, “kiến thức của cháu không giúp gì nhiều cho cháu ở đây đâu! Và thật là một ý nghĩ bất hạnh khi cháu định ném ngày tháng thanh xuân của mình vào một nơi như thế này. Đôi má kia sẽ hết ửng hồng sau một hai tháng. Nhìn gương mặt ta xem!” và, sự tương phản quả là ghê gớm, “cháu thấy ta võ vàng đến mức nào đấy! Ta nghĩ rằng bụi và sự suy tàn không ngừng của những ngôi nhà cũ này không hề tốt cho phổi.”

“Còn có khu vườn ạ, những bông hoa cần chăm sóc,” Phoebe nhận xét. “Cháu sẽ giữ gìn sức khỏe với những hoạt động ngoài trời.”

“Và xét cho cùng,” bà Hepzibah thốt lên, đột ngột đứng dậy, như muốn chấm dứt chủ đề này, “ta không có quyền quyết định ai sẽ là khách hoặc người cư trú của ngôi nhà Pyncheon. Chủ nhân của nó sắp đến.”

“Ý cô là thẩm phán Pyncheon ạ?” Phoebe ngạc nhiên hỏi.

“Thẩm phán Pyncheon!” Người cô trả lời đầy tức giận. “Ông ta sẽ không bước qua ngưỡng cửa trong khi ta còn sống! Không, không! Nhưng, Phoebe ạ, cháu sẽ được thấy gương mặt của người mà ta nói tới.”

Bà đi tìm bức tiểu họa đã được miêu tả, và trở lại với nó nằm trên tay. Đưa bức tranh cho Phoebe, bà quan sát nét mặt cô một cách chăm chú, và với một nỗi ghen tị khi cô gái tỏ ra xúc động trước bức tranh.

“Cháu thấy gương mặt đó thế nào?” Bà Hepzibah hỏi.

“Thật đẹp trai! - Rất đẹp ạ!” Phoebe trầm trồ. “Đó là một gương mặt đáng yêu mà một người đàn ông có thể có, hoặc phải có. Nó có một vẻ gì đó của trẻ con, - song không hề non nớt, - người ta chỉ thấy rất có thiện cảm với anh ấy! Hẳn anh ấy chưa bao giờ phải chịu đựng bất cứ chuyện gì. Người ta sẽ sẵn sàng gánh vác cho anh ấy để anh ấy không phải khổ cực hay đau buồn. Đó là ai vậy, cô Hepzibah?”

“Cháu có từng nghe nói đến,” người cô thì thầm, củi người về phía Phoebe, “Clifford Pyncheon chưa?”

“Chưa bao giờ. Cháu tưởng không còn người họ Pyncheon nào nữa, trừ cô và bác Jaffrey,” Phoebe trả lời. “Song hình như cháu đã nghe thấy cái tên Clifford Pyncheon. Đúng rồi! - từ cha hay mẹ cháu, nhưng chẳng phải ông ấy đã mất lâu rồi sao?”

“Chà chà, có lẽ vậy!” Bà Hepzibah nói với một tiếng cười buồn, trống rỗng; “nhưng trong những ngôi nhà cũ kiểu này, người chết rất dễ trở lại! Chúng ta sẽ chờ xem. Và, cháu Phoebe ạ, sau tất cả những gì ta nói mà cháu vẫn không lay chuyển, nên chúng ta sẽ không chia tay quá sớm. Tạm thời cháu được chào đón tới ngôi nhà mà người bà con này có thể cho cháu.”

Với lời đảm bảo thận trọng, nhưng không quá lạnh lùng của một mục đích hiếu khách, bà Hepzibah hôn má cô gái.

Bây giờ họ đi xuống dưới nhà, ở đó Phoebe - không thấy cái thư phòng hấp dẫn cho lắm, do tính hoạt bát bẩm sinh - giành phần năng động nhất là chuẩn bị bữa sáng. Trong khi đó bà chủ nhà, với vẻ cứng nhắc và cố chấp thường lệ, gần như đứng ngoài, sẵn sàng phụ giúp, song ý thức được sự vụng về của mình dễ gây cản trở công việc. Phoebe và ngọn lửa đun ấm trà đều tỏa sáng, rạng rõ, và hiệu quả với phận sự của mình. Bà Hepzibah quan sát trong sự chậm chạp cố hữu, kết quả tất yếu của việc sống một mình quá lâu, như từ một thế giới khác. Tuy nhiên bà không thể không chú ý, và thậm chí thích thú, trước sự thích nghi nhanh chóng với hoàn cảnh của người mới đến, và còn khiến cho ngôi nhà cùng tất cả những thiết bị han gỉ của nó trở nên phù hợp với mục đích của mình. Dù cô làm gì cũng đầy dứt khoát, và thường xuyên ca hát nghe thật vui tai. Tiếng hát du dương tự nhiên khiến Phoebe giống như chú chim trên một cái cây mờ ảo, hoặc mang lại cảm giác rằng dòng đời chảy qua tim cô giống như một dòng suối đôi khi chảy qua một thung lũng nhỏ hiền hòa. Nó báo hiệu một tính cách vui vẻ hoạt bát, tìm thấy niềm vui trong công việc, và vì thế khiến nó trở nên đẹp đẽ. Đó là một đặc tính của New England, - chất Thanh giáo cũ nghiêm khắc với một sợi chỉ vàng lấp lánh bên trong.

Bà Hepzibah mang ra mấy chiếc thìa bạc cũ khắc gia huy của gia đình, và một bộ đồ trà bằng sứ vẽ những hình dạng kỳ cục về con người, chim, thú, trong một khung cảnh cũng kỳ cục như vậy. Những hình người này là những người buồn cười kỳ lạ, trong một thế giới của chính họ, - một thế giới sặc sỡ sắc màu, và vẫn chưa phai, dù rằng ấm trà và những cái tách nhỏ cũng cổ xưa như phong tục uống trà.

“Bà cụ tổ của cháu đã mang theo những chiếc tách này khi kết hôn,” bà Hepzibah nói với Phoebe. “Bà là một người họ Davenport, một gia tộc danh giá. Chúng gần như là những tách trà đầu tiên được nhìn thấy ở thuộc địa; và nếu một trong số chúng bị vỡ, tim ta sẽ vỡ theo. Nhưng rõ là vớ vẩn khi nói về một cái tách trà dễ võ, khi ta nhớ ra trái tim mình đã ra đi mà chẳng cần bị võ.”

Những cái tách - có lẽ đã không được sử dụng từ hồi bà Hepzibah còn trẻ - không dính một hạt bụi nào, được Phoebe rửa một cách cẩn thận và nâng niu như để làm vừa lòng người chủ của món đồ sử vô giá này.

“Cháu đúng là một cô nội trợ khéo léo!” Bà Hepzibah thốt lên, mỉm cười, và cùng lúc đó cau mày dữ đến nỗi nụ cười là ánh nắng dưới một đám mây dông. “Cháu làm những việc khác cũng tốt chứ? Cháu học hành có giỏi như rửa tách trà không?”

“E là cháu không giỏi lắm,” Phoebe nói, bật cười trước kiểu đặt câu hỏi của bà Hepzibah. “Nhưng cháu là cô giáo cho lũ trẻ trong làng mùa hè năm ngoái, và có lẽ vẫn dùng được.”

“A! Tốt lắm!” Bà già nhận xét, lấy sức đứng dậy. “Nhưng những khả năng này hẳn là truyền từ mẹ cháu. Ta chưa bao giờ biết một người Pyncheon nào có thiên hướng ấy.”

Đó là một sự thật lạ lùng, nhưng không ngạc nhiên, là con người nhìn chung khá tự phụ, hoặc còn hơn thế, về những thiếu sót hơn là những năng khiếu của họ, giống như bà Hepzibah về sự vụng về bẩm sinh của nhà Pyncheon với bất cứ mục đích hữu dụng nào. Bà coi nó như một tính di truyền, và do đó có lẽ là một tính di truyền bệnh tật, thường sinh ra trong những gia đình thuộc tầng lớp trên lâu năm trong xã hội.

Trước khi họ rời bàn ăn sáng, quả chuông ngoài cửa hàng reo lên gay gắt, bà Hepzibah đặt tách trà uống dở cuối cùng xuống, với một vẻ tuyệt vọng tái mét khiến người nhìn thực sự thấy thương cảm. Đối với những công việc đáng ghét, ngày thứ hai thường tồi tệ hơn ngày đầu. Chúng ta trở lại cuộc tra tấn với tất cả đau đớn của buổi hành hạ trước đó trên tứ chi. Dù thế nào đi nữa, bà Hepzibah đã hoàn toàn bằng lòng với việc không thể nào quen với quả chuông nhỏ ngỗ ngược một cách khó chịu này. Kêu suốt ngày, âm thanh luôn đập vào hệ thần kinh của bà đột ngột và thô lỗ. Và nhất là bây giờ, trong lúc ở bên những cái thìa khắc gia huy và bộ đồ sứ, bà đang mơ màng với những ý nghĩ cao sang quý phái, bà cảm thấy một nỗi chán ghét khôn tả khi phải tiếp một khách hàng.

“Đừng bận tâm, thưa cô!” Phoebe nói, nhanh nhẹn đứng lên. “Để cháu trông cửa hàng hôm nay cho.”

“Cháu ư!” Bà Hepzibah thốt lên. “Một cô gái nông thôn như cháu làm sao biết những việc như thế?”

“Ồ, cháu đã đảm đương mọi việc mua bán cho gia đình ở cửa hàng trong làng,” Phoebe bảo. “Cháu có một cái bàn ở hội chợ từ thiện, và bán được nhiều hơn ai hết. Những việc này không cần học, chúng phụ thuộc vào một năng khiếu, cháu cho rằng,” cô mỉm cười thêm vào, “di truyền từ mẹ cháu. Cô sẽ thấy cháu là một cô bán hàng cũng khéo như làm nội trợ.”

Bà già rón rén đi theo Phoebe, từ lối đi nhìn trộm vào cửa hàng, để xem cô gái xoay xở ra sao. Đó là một ca phức tạp. Một người phụ nữ rất già, mặc váy ngắn màu trắng và váy lót dài màu xanh lục, cổ đeo dây chuyền vàng, đầu đội một thứ trông giống mũ ngủ, khuân đến một bó sợi lớn để đổi lấy mấy món trong cửa hàng. Bà ta có lẽ là người cuối cùng trong thị trấn vẫn giữ guồng quay sợi từ thời cách mạng xa lắc. Thật bõ công để nghe tông giọng rền rĩ và giả tạo của bà lão, và giọng nói vui vẻ của Phoebe, hòa trong một cuộc trò chuyện xoắn xuýt, và hơn thế là so sánh hình ảnh của họ, - quá tươi tắn và trẻ trung, - quá già nua và tăm tối, - giữa họ chỉ có một chiếc quầy ngăn cách, nhưng đồng thời cũng là hơn sáu mươi năm tuổi tác. Còn về chuyện mặc cả, nó là sự quỷ quyệt và mánh khóe sành sỏi đấu với tính trung thực và thông minh bẩm sinh.

“Thế có ổn không ạ?” Phoebe cười hỏi, sau khi vị khách đã đi khỏi.

“Giỏi lắm, cô bé!” Bà Hepzibah đáp. “Ta không thể giải quyết chuyện đó êm xuôi như vậy. Quả như cháu nói, hẳn là năng khiếu cháu thừa hưởng từ bên ngoại.”

Đó là sự tán thưởng thành thật của những người quá nhút nhát và vụng về để dấn thân vào một thế giới xô bồ nhìn những diễn viên thực thụ trong những phân cảnh gay cấn của cuộc sống, nên họ thường buộc phải làm nó trở nên dễ nuốt đối với tính tự cao của họ, bằng cách giả bộ rằng những phẩm chất năng động và hoạt bát ấy xung khắc với những phẩm chất khác, được họ chọn để thấy mình cao hơn và quan trọng hơn. Do đó, bà Hepzibah khá bằng lòng khi biết về tài bán hàng giỏi giang của Phoebe. Bà lắng nghe, với đôi tai dễ dãi, những đề xuất cô đưa ra để doanh thu có thể tăng lên, và thu lợi, mà không phải mất vốn. Bà đồng ý rằng cô gái nên sản xuất men, cả men rượu và men làm bánh; và nên ủ một loại bia, ngọt ngào với khẩu vị, và dễ tiêu hóa cho dạ dày; và, hơn thế, nên nướng và bày bán mấy loại bánh cay nhỏ, mà bất cứ ai đã nếm sẽ thèm được nếm nữa. Tất cả những bằng chứng của một tâm trạng sẵn sàng và một đôi tay khéo léo được bà chủ cửa hàng hết sức hoan nghênh, chừng nào bà còn có thể tự lẩm bẩm một mình kèm theo một nụ cười khắc nghiệt, một tiếng thở dài nửa thật nửa giả, và một cảm xúc lẫn lộn của băn khoăn, thương hại, và trìu mến tăng dần:

“Một đứa trẻ đến là ngoan! Giá như nó có thể là một quý cô; nhưng điều đó là không thể! Phoebe không phải một người Pyncheon. Con bé giống hệt mẹ nó!”

Về việc Phoebe không phải là một quý cô, hoặc liệu cô có phải là một quý cô hay không, có lẽ là một ý kiến khó quyết định, nhưng điều đó gần như chẳng bao giờ bị đem ra phán xét ở những tâm hồn tốt đẹp và ngay thẳng. Ở bên ngoài New England sẽ không thể nào gặp được một người hội tụ rất nhiều tư chất đài các cùng với rất nhiều thuộc tính khác tạo thành một phần chẳng hề cần thiết (nếu thích hợp) của nhân cách. Cô không xúc phạm tiêu chuẩn về thị hiếu, mà kín đáo một cách đáng ngưỡng mộ, và không bao giờ xung đột với những hoàn cảnh xung quanh. Hẳn là vóc dáng cô nhỏ bé như một đứa trẻ, rất linh hoạt để thiên về vận động hơn là nghỉ ngơi, khó lòng phù hợp với ý nghĩ của người ta về một nữ bá tước. Gương mặt cô cũng vậy - với những lọn tóc nâu quăn ở hai bên thái dương, và cái mũi hơi khêu gợi, và nước da rám nắng hồng hào, lấm tấm mấy nốt tàn nhang, gợi nhớ đến nắng và gió tháng Tư - khiến chúng ta hoàn toàn có quyền nhìn cô với vẻ ngoài xinh đẹp. Nhưng có cả sự rực rõ và thâm trầm trong đôi mắt cô. Cô rất đáng yêu; duyên dáng như một chú chim; thích thú về ngôi nhà như một tia nắng rọi xuống sàn qua những bóng lá lấp lánh, hoặc như một ánh lửa nhảy nhót trên tường khi buổi tối chuyển về khuya. Thay vì thảo luận về vị trí của cô giữa những phụ nữ cao quý, tốt hơn là coi Phoebe như một hình mẫu của sự duyên dáng và đảm đang của phái nữ, trong một loại hình xã hội, nếu như có loại hình đó, nơi các quý cô không tồn tại. Nên có một nơi tôn vinh những công việc hàng ngày của người phụ nữ, và tô điểm cho chúng, những công việc giản dị nhất, - kể cả việc rửa ấm chén, - bằng một bầu không khí đẹp đẽ và hân hoan.

Thế giới của Phoebe là như vậy. Mặt khác, muốn tìm một quý cô dòng dõi và gia giáo, chúng ta không cần tìm đâu xa ngoài bà Hepzibah, người phụ nữ già cô độc của chúng ta, trong những lớp váy lụa sột soạt và bạc màu, với ý thức nung nấu và kỳ quặc của bà về sự sa sút kéo dài, những đòi hỏi mơ hồ của bà với lãnh thổ được sắc phong, và, về mặt tài năng, nó có thể là những ký ức của bà về việc gõ cây đàn harpsichord ngày trước, và nhảy điệu minuet, và làm ra một bức tranh thêu kiểu cổ trên mẫu thêu của bà. Đó là một sự so sánh khá ngang bằng giữa cái bình dân mới và cái quý tộc cũ. Thật cứ như thể bộ mặt méo mó của ngôi nhà bảy đầu hồi, đen sì nặng nề như vẫn thế, hẳn đã lóe lên một ánh tươi vui qua những ô cửa sổ tối tăm khi Phoebe đi qua đi lại bên trong. Mặt khác, chẳng thể lý giải được làm sao hàng xóm láng giềng lại biết về sự hiện diện của cô gái sớm đến vậy. Đã thành lệ, cửa hàng mở từ mười giờ sáng đến trưa, tạm nghỉ vào giờ cơm, nhưng bán tiếp vào buổi chiều, cuối cùng văn dần và đóng cửa khoảng nửa tiếng trước hoàng hôn. Một trong những khách quen trung thành nhất là thằng bé Ned Higgins, kẻ ăn thịt Jim Crow và con voi, hôm nay khoe năng lực ăn tạp của nó bằng việc chén hai con lạc đà một bướu và một đầu máy xe lửa. Phoebe cười khúc khích lúc cộng tiền bán hàng trên tấm bảng đen; trong lúc bà Hepzibah, trước tiên đeo đôi găng tay lụa vào, rồi đếm đóng tiền xu bằng đồng dấp dính, không lẫn vào đồng bạc nào, đã rơi leng keng vào ngăn kéo.

“Chúng ta phải lấy thêm hàng thôi, cô Hepzibah!” Cô bán hàng nhỏ kêu lên. “Bánh gừng đã hết sạch, những cô gái vắt sữa Hà Lan bằng gỗ cũng vậy, và hầu hết các món đồ chơi khác. Nho khô loại rẻ bán rất chạy, và mọi người có nhu cầu lớn với còi, kèn trumpet, đàn môi; và ít nhất có gần chục thằng bé hỏi mua kẹo mật đường. Và chúng ta phải xoay xở để nhập một thùng táo đỏ, đã cuối mùa rồi. Nhưng, cô thân yêu, đúng là một đống tiền lớn! Chắc chắn là một núi tiền!”

“Giỏi lắm! Giỏi lắm! Giỏi lắm!” Bác Venner nói, một ngày ông cụ tập tễnh ra vào cửa hàng phải mấy lần. “Đây là một cô gái sẽ không bao giờ kết thúc cuộc đời ở trang trại của tôi! Chúa phù hộ đôi mắt tôi, đúng là một linh hồn bé nhỏ hoạt bát!”

“Phải, Phoebe là một cô gái tháo vát!” Bà Hepzibah nói, tán thành với vẻ mặt cau có. “Nhưng, Bác Venner, bác đã quen biết gia đình nhiều năm, bác nói xem con bé có giống ai trong nhà không?”

“Tôi không nghĩ là có người nào như thế,” ông cụ đáp. “Dù sao đi nữa, tôi chưa từng có may mắn được gặp người giống cô ấy trong số họ, cũng như ở bất cứ đâu. Tôi đã thấy nhiều thứ trên đời, không chỉ trong gian bếp và sân sau nhà người ta mà còn ở các góc phố, trên những cầu tàu, và những nơi khác cần thuê người; và tôi xin được nói rằng, cô Hepzibah a, tôi chưa gặp một người nào làm công việc của cô ấy giống một trong những thiên thần của Chúa như cô bé Phoebe đây!”

Bài ca ngợi của Bác Venner, nếu như có vẻ quá lố đối với con người và sự việc, thì vẫn mang một cảm giác vừa đúng đắn vừa tinh tế. Có một khí chất trong sự nhanh nhẹn của Phoebe. Cả ngày dài bận rộn tất bật với những công việc thường dành cho một vẻ ngoài nhếch nhác và xấu xí - đã trở nên vui vẻ, thậm chí đáng yêu, nhờ có sự duyên dáng tự nhiên của cô mà những nhiệm vụ tẻ nhạt dường như thăng hoa. Lao động qua bàn tay cô có sức hấp dẫn thoải mái và linh hoạt như trò chơi. Những thiên thần không làm lụng vất vả, mà để cho những việc làm hữu ích của họ tự phát triển, với Phoebe cũng vậy.

Hai người họ hàng - một già một trẻ – tranh thủ thời gian trước khi trời tối, vào những lúc vãn khách, đã bồi đắp tình cảm quý mến và tin tưởng lẫn nhau. Một người ẩn dật như bà Hepzibah, thường thể hiện tính bộc trực, hoặc chí ít là nhã nhặn tạm thời, khi bị dồn vào thế bí, và đi thẳng vào điểm chính của cuộc trao đổi, giống như thiên thần đã vật lộn với Jacob, bà sẵn sàng cầu phúc cho người ta khi kết thúc. Người phụ nữ già dẫn Phoebe tham quan từ phòng này sang phòng kia trong một niềm mãn nguyện thê lương và tự hào, và thuật lại những câu chuyện có thể nói là đã vẽ nên những bức bích họa bi thảm trên các bức tường. Bà chỉ những vết lõm do đốc kiếm của ngài phó thống đốc tạo ra trên ván cửa của căn phòng nơi đại tá Pyncheon, vị chủ nhà đã chết, tiếp những vị khách khiếp đảm của mình với một vẻ cau có đáng sợ. Sự khủng khiếp của vẻ mặt ấy, bà Hepzibah nhận xét, được cho là còn vương vất trong hành lang từ bấy đến nay. Bà bảo Phoebe bước lên một trong những chiếc ghế cao, và nhìn kỹ tấm bản đồ cổ vẽ lãnh thổ nhà Pyncheon ở phía đông. Trên một dải đất chỗ cô đặt ngón tay lên, có một mỏ bạc, vị trí của nó được xác định rõ ràng trong những biên bản ghi nhớ của chính đại tá Pyncheon, nhưng chỉ được biết đến khi chính phủ công nhận quyền sở hữu của gia đình họ. Bởi vậy cả New England sẽ được lợi nếu nhà Pyncheon đòi được quyền đó. Bà cũng bảo rằng chắc chắn có một kho báu lớn toàn những đồng guinea Anh giấu đâu đó trong nhà, hoặc dưới tầng hầm, hoặc có thể ngoài vườn.

“Nếu cháu vô tình tìm thấy nó, Phoebe,” bà Hepzibah nói, liếc nhìn cô với một nụ cười khắc nghiệt mà thân ái, “chúng ta sẽ buộc quả chuông ở cửa hàng lại vĩnh viễn!”

“Vâng, thưa cô thân mến,” Phoebe đáp, “nhưng trong thời gian chờ đợi, cháu nghe thấy có người đang rung nó!”

Khi vị khách đi khỏi, bà Hepzibah kể khá mơ hồ, và dài dòng, về một cô Alice Pyncheon, một con người xinh đẹp và hoàn mỹ suốt cuộc đời, sống cách đây một trăm năm. Tính cách thú vị và tuyệt vời của cô ấy vẫn còn phảng phất quanh nơi cô đã sống, như một nụ hoa hồng khô tỏa hương trong ngăn kéo nơi nó đã héo úa và tàn lụi. Cô Alice đáng yêu này đã gặp một tai họa lớn và bí ẩn, và trở nên xanh xao gầy mòn, và dần dần biến mất khỏi thế gian. Nhưng, đến tận bây giờ, nghe nói cô vẫn lui tới ngôi nhà bảy đầu hồi, và rất nhiều lần, - đặc biệt là khi có một người trong gia tộc Pyncheon qua đời, - người ta nghe thấy cô chơi đàn rất hay và buồn trên cây đàn harpsichord. Một trong những giai điệu ấy, cứ như thể nó vang lên dưới những ngón tay linh hồn của cô, đã được một nhạc sĩ nghiệp dư viết lại. Nó thê lương đến nỗi không một ai, cho đến ngày hôm nay, có thể chịu nổi, trừ phi một nỗi đau buồn vô hạn khiến họ biết được sự ngọt ngào còn sâu sắc hơn của nó.

“Chính là cây đàn cô đã cho cháu xem phải không?” Phoebe hỏi.

“Chính nó đấy,” bà Hepzibah nói. “Nó là cây đàn của Alice Pyncheon. Hồi ta còn học nhạc, cha ta không bao giờ cho ta mở nó ra. Vì thế ta chỉ có thể chơi bằng nhạc cụ của giáo viên, nên ta đã quên toàn bộ kiến thức âm nhạc từ lâu.”

Rời khỏi những đề tài xa xưa này, bà bắt đầu nói về người nghệ sĩ chụp ảnh daguerreotype, vì anh ta có vẻ là một thanh niên tử tế và ngăn nắp, và ở trong hoàn cảnh ngặt nghèo, nên bà đã cho anh ta dọn đến ở trong một trong số bảy đầu hồi. Nhưng, càng tiếp xúc với anh Holgrave, bà càng thấy khó hiểu về anh ta. Anh ta có những người bạn hết sức kỳ lạ: những người đàn ông râu dài, mặc áo choàng vải linen, và những trang phục khác thường và không phù hợp khác; những nhà cải cách, những nhà diễn thuyết ôn hòa, và đủ loại những nhà bác ái đăm chiêu; những nhà hoạt động xã hội, những người vô thần, như bà Hepzibah tin rằng, không màng đến luật pháp, và không ăn thức ăn, mà chỉ sống bằng mùi đồ ăn người khác nấu, khinh khỉnh với cơm áo gạo tiền. Về phần người nghệ sĩ nhiếp ảnh, thì hôm nọ bà đã đọc một bài trên tờ báo một xu cáo buộc anh ta đã phát biểu một vấn đề điên rồ và phá hoại ở cuộc họp mặt những kẻ đồng liêu như phường trộm cướp của anh ta. Với cá nhân anh ta, bà có lý do để tin rằng anh ta luyện thuật thôi miên, và nếu môn đó thịnh hành vào thời nay, rất có khả năng anh ta đang nghiên cứu Nghệ thuật Hắc ám trên căn phòng cô độc của mình.

“Nhưng, cô thân yêu,” Phoebe nói, “nếu người đó nguy hiểm như thế, sao cô còn cho anh ta ở lại? Nếu anh ta không làm gì tệ hơn, có thể anh ta sẽ đốt nhà đó!”

“À, đôi khi ta cũng nghiêm túc tự hỏi liệu ta có phải đuổi anh ta đi không. Thế nhưng, với tất cả sự kỳ quặc của mình, anh ta là một kiểu người yên tĩnh, và có cách nắm bắt tâm trí người khác, cho nên, dù chẳng thích anh ta lắm (do ta không biết rõ người thanh niên ấy), ta vẫn cảm thấy tiếc nuối khi không còn thấy anh ta nữa. Một người phụ nữ sẽ bám lấy những mối thân quen sơ sài khi sống quá cô độc như ta.” “Nhưng nếu anh Holgrave là một người sống ngoài vòng pháp luật!” Phoebe phản đối, một phần bản chất của cô là tuân thủ luật pháp.

“Ồ!” Bà Hepzibah nói thản nhiên, - vì, tuy là người nghiêm cẩn, nhưng trong đời mình bà đã nổi điên với luật pháp của con người, – “ta cho rằng anh ta có luật của riêng mình.”

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne