Đến trưa, bà Hepzibah trông thấy một quý ông cao tuổi, to béo và bệ vệ, phong thái rất quý phái, thong thả đi qua ở bên kia con đường bụi trắng. Đến bóng râm của cây du Pyncheon, ông ta dừng lại, và (trong lúc đó bỏ mũ ra để lau mồ hôi trên trán) dường như ngắm nhìn, với vẻ chăm chú đặc biệt, ngôi nhà bảy đầu hồi đổ nát và tiêu điều. Bản thân ông ta, mang một phong cách rất khác, cũng đáng quan sát như ngôi nhà. Không thể tìm đâu ra một sự quyền quý tột bậc như vậy, mà bằng một phép màu khó diễn tả, không chỉ toát lên ở vẻ ngoài và cử chỉ, mà còn chi phối kiểu trang phục của ông ta, khiến cho chúng vô cùng phù hợp và gắn kết với người đàn ông đó. Bề ngoài không khác gì quần áo của mọi người, tuy nhiên có một sự hấp dẫn sâu rộng ở chúng ắt hẳn do khí chất của người mặc, vì không thể xác định nó liên quan đến đường cắt hay chất liệu. Cây gậy đầu bịt vàng của ông ta cũng vậy, - một cây gậy hữu ích, bằng gỗ đen bóng loáng, - mang những đặc điểm tương tự, và nếu nó được chọn để tản bộ, ắt nó sẽ được nhận ra ở bất cứ đâu như một đại diện xứng đáng của ông chủ nó. Khí chất này - toát ra mạnh mẽ ở mọi thứ trên người ông ta, tác động của nó chúng tôi cố gắng truyền tải đến bạn đọc - không sâu sắc hơn địa vị của ông ta, thói quen trong cuộc sống và những hoàn cảnh bên ngoài. Mọi người nghĩ ông ta là một nhân vật quyền cao chức trọng; và đặc biệt ta có thể cảm nhận chắc chắn rằng ông ta giàu có như thể đã trưng ra tài khoản ngân hàng của mình vậy, hoặc như thể bạn đã thấy ông ta chạm vào những cành lá của cây du Pyncheon, và, như bàn tay của vua Midas, biến chúng thành vàng.
Thời trẻ có lẽ ông ta được coi là một người đẹp trai, còn hiện tại vầng trán ông ta quá nặng nề, hai thái dương quá trơ trụi, mái tóc còn lại quá xám, đôi mắt quá lạnh lùng, cái miệng mím quá chặt, để có bất cứ mối liên quan nào tới vẻ đẹp con người. Ông ta ắt sẽ tạo nên một bức chân dung oai nghiêm và đường bệ - có lẽ hơn bất cứ giai đoạn nào trước đây trong cuộc đời mình, dù ánh mắt ông ta có thể trở nên khắc nghiệt trong quá trình được gắn lên mặt vải. Người họa sĩ ắt sẽ mong muốn được nghiên cứu gương mặt ông ta, và chứng tỏ khả năng biểu cảm đa dạng của nó, làm nó sầm lại với một cái cau mày, làm nó sáng lên với một nụ cười mỉm. Trong lúc người đàn ông đứng nhìn ngôi nhà Pyncheon, cả cái cau mày và nụ cười đều lướt qua mặt. Mắt ông ta dừng lại nơi cửa hàng, và giơ cặp kính gọng vàng cầm trong tay lên, ông ta quan sát kỹ lưỡng sự sắp đặt những món đồ chơi và vật dụng của bà Hepzibah. Thoạt đầu có vẻ khiến ông ta không hài lòng, - không, khiến ông ta bực bội, - song ngay sau đó ông ta mỉm cười. Trong lúc biểu cảm thứ hai này vẫn còn trên môi, ông ta bắt gặp bà Hepzibah, người đã vô thức vươn người về phía cửa sổ, và nụ cười chuyển từ gay gắt khó chịu sang bằng lòng và khoan dung nhất. Ông ta cúi đầu, với vẻ ân cần nhã nhặn pha lẫn nghiêm trang, và đi tiếp.
“Ra là ông ta!” Bà Hepziba tự nói với mình, nuốt xuống một cảm giác cay đắng, và, vì bà không thể dứt bỏ nó, bà cố gắng đưa nó trở lại trái tim mình. “Không biết ông ta nghĩ sao về nó? Ông ta có hài lòng không? A! Ông ta đang nhìn lại!”
Người đàn ông đã dừng lại trên đường, hơi quay người, đôi mắt vẫn chiếu vào cửa hàng. Thực ra ông ta xoay hẳn lại, và bước một hai bước, như định vào cửa hàng; nhưng, như tình cờ, mục đích của ông ta bị chặn trước bởi khách hàng đầu tiên của bà Hepzibah, kẻ tí hon ăn thịt Jim Crow, đang ngước nhìn cửa sổ, mê mẩn với con voi bằng bánh gừng. Quả là một tâm hồn ăn uống to lớn mang vóc dáng đứa trẻ! – Hai Jim Crow ngay sau bữa sáng! - và giờ là một con voi, như một món khai vị trước bữa trưa. Đến lúc vụ mua bán thứ hai xong xuôi, người đàn ông đã đi tiếp, và rẽ nơi góc đường.
“Cứ nhìn cho thỏa thích đi, anh họ Jaffrey,” bà lão lẩm bẩm, rụt về sau khi rón rén thò đầu ra nhìn ngược nhìn xuôi con đường, - “Cứ nhìn cho thỏa thích! Anh đã thấy cửa hàng nhỏ của tôi rồi đấy! Anh biết nói sao đây? Ngôi nhà Pyncheon chẳng phải thuộc về tôi khi tôi còn sống sao?”
Sau sự việc này, bà Hepzibah rút vào phòng trong, ở đó bà chụp lấy chiếc tất đang đan dở, và bắt đầu đan tiếp với nhiều lần giật mình bồn chồn, nhưng nhanh chóng nhận thấy mình bất hòa với những mũi kim, bà vứt nó sang bên, và đi tới đi lui quanh phòng. Cuối cùng bà dừng lại trước chân dung ông già Thanh giáo khắc nghiệt, tổ tiên của bà, và là người xây ngôi nhà. Từ một góc độ nào đó, bức tranh gần như lặn vào trong vải, và giấu mình sau màn tối của tuổi tác; mặt khác, bà không thể không cảm tưởng rằng nó đã trở nên nổi bật và sống động, kể từ hồi bà thân thuộc với nó nhất khi còn là đứa trẻ. Bởi vì, trong lúc đường nét và chất liệu bên ngoài đang tối dần lại trước mắt người xem, thì cùng lúc ấy tính cách dữ tợn, gai góc của người đàn ông dường như được tôn lên trong một sự thay thế về tinh thần. Tác động ấy thỉnh thoảng vẫn thấy trong những bức tranh cổ xưa. Nó đạt tới dáng vẻ mà một người nghệ sĩ (nếu anh ta có chút nào giống sự tự mãn của các nghệ sĩ thời nay) chẳng bao giờ mơ được thể hiện trước một người bảo trợ như với thủ pháp của mình, tuy nhiên chúng ta lập tức nhận ra nó phản ánh sự thật không đẹp đẽ của tâm hồn con người. Trong những trường hợp như vậy, ý tưởng sâu xa của người vẽ về những đặc tính bên trong của chủ thể được đưa vào cốt lõi bức tranh, và phát lộ sau khi màu sắc bên ngoài bị thời gian bào mòn.
Trong lúc nhìn chăm chú bức chân dung, bà Hepzibah rùng mình dưới ánh mắt của nó. Sự sùng kính di truyền khiến bà không dám đánh giá nhân cách người trong tranh quá gay gắt khi nhận thức về sự thật buộc bà làm thế. Nhưng bà vẫn nhìn, bởi vì gương mặt trong tranh giúp bà - chí ít bà nghĩ vậy - đọc chính xác hơn, và sâu hơn, gương mặt bà vừa nhìn thấy trên đường.
“Chính là người này!” Bà lẩm bẩm với mình. “Để cho Jaffrey Pyncheon mỉm cười như ông ấy, dưới ánh mắt ấy! Đội cho ông ta chiếc mũ chỏm, và một cổ áo đăng ten, chiếc áo choàng đen, cùng một quyển Kinh Thánh trên tay và thanh kiếm ở tay kia, - rồi để Jaffrey mỉm cười như ông ấy, - sẽ không ai nghi ngờ đó là ông cụ Pyncheon hiện về. Ông ta đã tự chứng tỏ mình là người xây nên một ngôi nhà mới! Có lẽ cũng kéo sập một lời nguyền mới!”
Cứ thế bà Hepzibah đắm chìm với những hình dung về thuở trước. Bà đã ở một mình quá lâu, - trong ngôi nhà Pyncheon, - cho đến khi trí óc bà lây nhiễm sự khô mục của những thớ gỗ của nó. Bà cần một chuyến đi dạo ngoài phố buổi trưa để tỉnh táo lại.
Như một câu thần chú tương phản, một bức chân dung khác hiện lên trước mặt bà, được vẽ với sự tâng bốc táo bạo hơn bất cứ họa sĩ nào dám vẽ, song vẫn rót đầy cảm xúc tinh tế khiến bức tranh giữ được sự hoàn hảo. Bức tiểu họa của Malbone, dù nhìn từ nguyên bản, vẫn kém xa bức tranh trong tưởng tượng của bà Hepzibah, ở đó hồi ức trìu mến và đau đớn quyện vào nhau. Mối suy tư dịu dàng, êm ả và vui sướng, với đôi môi đỏ đầy đặn sắp nở nụ cười mà đôi mắt như báo trước bằng nhãn cầu sáng lấp lánh! Những đường nét nữ tính hòa trộn với những đường nét nam tính! Bức tiểu họa cũng có điểm đặc biệt này, nên người ta hẳn sẽ nghĩ nguyên mẫu giống với mẹ mình, một người phụ nữ đáng yêu dễ mến, với tính cách có phần yếu đuối khả ái, khiến người khác cảm thấy vui vẻ khi quen biết và dễ dàng yêu quý bà.
“Phải,” bà Hepzibah nghĩ, với nỗi đau buồn nặng nề hơn dâng từ tim lên mi mắt, “bọn họ đã hành hạ người mẹ trong anh ấy! Anh ấy chưa bao giờ là một người Pyncheon!”
Nhưng đến đây tiếng chuông reo lên, như từ nơi xa xăm vọng về, - cho đến lúc ấy bà Hepzibah đã chìm sâu vào những hồi tưởng tang tóc. Bước vào cửa hàng, bà thấy một ông già ở đó, một công dân thấp kém của phố Pyncheon, và là người trong nhiều năm qua bà đã chịu đựng như một kiểu người quen của ngôi nhà. Đó là một người rất già, dường như luôn có mái tóc bạc trắng cùng những nếp nhăn, và chỉ còn đúng một chiếc răng, và đó là một cái răng sắp rụng, ở mặt trước hàm trên. Dù cao tuổi nhưng bà Hepzibah không thể nhớ có khi nào Bác Venner, như hàng xóm gọi ông cụ, không đi ngược đi xuôi con đường, lưng hơi còng và lê chân nặng nhọc trên lớp sỏi hoặc vỉa hè. Nhưng vẫn có cái gì đó dẻo dai và mạnh mẽ ở ông, nó không chỉ khiến ông giữ được hơi thở, mà còn giúp ông khỏa lấp một nơi ắt sẽ trống rỗng trong một thế giới tưởng chừng đông đúc. Để làm những công việc lặt vặt với dáng đi chậm chạp và lệt sệt, khiến người ta hoài nghi làm sao ông già lại đi được lắm nơi thế, từ trông coi kho củi cho một gia đình nhỏ, đập vụn một thùng rượu cũ đến chẻ một tấm ván gỗ thông làm của nhóm; đến mùa hè thì đào mấy yard đất vườn của một ngôi nhà cho thuê giá rẻ, và chia đôi thành quả lao động của mình; sang mùa đông lại xúc tuyết trên lối đi, hoặc mở đường đến kho củi, hoặc treo dây phơi quần áo. Những công việc thiết yếu như thế Bác Venner làm cho ít nhất hai chục hộ gia đình. Trong vòng tròn ấy ông chiếm một số đặc quyền, và có lẽ cảm thấy thích thú, như một tu sĩ giữa các giáo dân của mình. Ông không đòi thịt lợn[5]; nhưng, bắt chước như một tu sĩ, sáng sáng ông đảo vài vòng, gom mẩu vụn trên bàn vào những xô thức ăn thừa, mang về cho con lợn của ông.
Thời ông trẻ hơn - vì, xét cho cùng, ông cũng là một câu chuyện truyền miệng, trẻ hơn thôi chứ không trẻ – Bác Venner thường được coi là tối dạ hơn những người khác. Thực ra ông đã gần như nhận tội trước cáo buộc, đó là không có chí lập thân như những người đàn ông khác, và chỉ lấy phần khiêm tốn ít ỏi dành cho người bị coi là yếu kém trong những cuộc giao dịch. Nhưng giờ đây, ở tuổi già lụ khụ, - hoặc là sự từng trải và dày dạn đã làm ông thực sự sáng láng, hoặc sự phán xét phai nhạt khiến ông không tự đánh giá bản thân được chính xác, - ông chẳng đòi hỏi sự khôn ngoan làm gì, và thực sự lấy làm vui vẻ với chuyện đó. Thỉnh thoảng cũng có cái gì đó giống như lãng mạn ở ông, nó là đám rêu hay hoa tường vi trong một góc nhỏ tâm trí đã rệu rã, và tạo nên một sự quyến rũ cho những cái có thể là thô tục và tầm thường ở quãng đời tuổi trẻ và trung niên của ông. Bà Hepzibah có một sự kính trọng đối với ông, vì ông là một cái tên lâu đời và đáng kính trong thị trấn. Còn một lý do chính đáng hơn đó là bản thân Bác Venner là sự tồn tại cổ xưa nhất, dù là người hay vật, ở phố Pyncheon, trừ ngôi nhà bảy đầu hồi, và có lẽ cả cây du tỏa bóng lên nó.
Vị trưởng lão ấy giờ đang ở trước mặt bà Hepzibah, mặc áo khoác xanh lam cũ kỹ, kiểu dáng thời trang, chắc là dồn cho ông từ một tủ áo bỏ đi của một viên thư ký trưng diện nào đó. Quần thì bằng vải gai thô, ngắn cũn cỡn, và thùng thình một cách kỳ lạ ở đằng sau, nhưng lại hợp với vóc dáng ông hơn những bộ đồ khác. Cái mũ của ông chẳng ăn nhập gì với bộ quần áo, nhưng cũng lạc lõng với cái đầu đội nó.
Cứ như thế, Bác Venner là một quý ông pha tạp, một phần của ông và phần lớn của những người khác, vá víu lại từ các thời kỳ khác nhau, tạo nên một bản tổng hợp của thời gian và thời trang.
“Vậy là cô thực sự bắt đầu kinh doanh đấy,” ông nói, - “thực sự bắt đầu kinh doanh! Chà, tôi mừng khi thấy thế. Người trẻ không nên sống nhàn rỗi, người già cũng thế, trừ phi bệnh thấp khớp tóm lấy họ. Nó đã cảnh báo tôi rồi, trong hai ba năm nữa tôi sẽ tính gác lại việc làm ăn và về trang trại của mình. Nó ở đằng kia, - cái ngôi nhà gạch lớn, cô biết đấy, - nhà tế bần, người ta vẫn gọi thế, nhưng tôi định hoàn thành công việc của mình trước, và đến đó nghỉ ngơi hưởng thụ. Tôi lấy làm mừng khi thấy cô bắt đầu làm việc, cô Hepzibah a!”
“Cảm ơn Bác Venner!” Bà Hepzibah nói, mỉm cười. Bà luôn cảm thấy dễ chịu đối với ông già đơn giản, lắm mồm này. Nếu ông là một bà già, có thể bà đã chán ghét sự tự do, điều mà giờ đây bà bằng lòng. “Quả thực đã đến lúc tôi bắt đầu làm việc! Hoặc, thành thực mà nói, tôi vừa bắt đầu thì đã muốn từ bỏ rồi.”
“Ồ, đừng bao giờ nói vậy, cô Hepzibah!” Ông già đáp. “Cô vẫn là một phụ nữ trẻ. Tôi khó mà nghĩ bản thân trẻ hơn tôi bây giờ, dường như mới đây thôi tôi vẫn trông thấy cô chơi trước cửa ngôi nhà cũ, một đứa trẻ còn khá nhỏ! Song thường thường cô hay ngồi ở ngưỡng cửa, nghiêm trang nhìn ra đường, bởi cô luôn mang một vẻ nghiêm trang, một vẻ trưởng thành, khi cô mới chỉ cao đến đầu gối tôi. Cứ như thể tôi đã thấy cô bây giờ, và ông nội cô với chiếc áo choàng đỏ, bộ tóc giả màu trắng, cái mũ ba góc, cùng cây gậy, từ nhà đi ra, bước oai vệ trên đường phố! Những ông già lớn lên trước cách mạng ấy thường mang phong thái oai vệ. Hồi tôi còn trẻ, người đứng đầu thị trấn thường được gọi là vua, và vợ ông ấy, chắc chắn không phải hoàng hậu rồi, mà là lệnh bà. Ngày nay một anh đàn ông hẳn nào dám được gọi là vua, và nếu anh ta cảm thấy mình nhỉnh hơn dân thường một chút, anh ta chỉ cúi mình thấp hơn họ mà thôi. Tôi đã gặp anh họ cô, ngài thẩm phán, mười phút trước, và trong chiếc quần vải gai cũ này, như cô thấy, tôi nghĩ ngài thẩm phán đã ngả mũ chào tôi! Dù thế nào đi nữa, ngài thẩm phán đã cúi chào và mỉm cười!”
“Phải,” bà Hepzibah nói, với một chút chua chát vô tình len vào giọng, “anh họ Jaffrey của tôi được xem là có nụ cười rất dễ mến!”
“Đúng thế,” Bác Venner đáp. “Và điều đó khá đặc biệt ở một người Pyncheon; vì, xin cô thứ lỗi, cô Hepzibah, họ chưa bao giờ có tiếng là những người dễ chịu và chan hòa. Không có ai dám lại gần họ. Nhưng bây giờ, cô Hepzibah, xin cho ông già này được hỏi, tại sao thẩm phán Pyncheon, cao sang quyền quý, lại không bước tới bảo em họ mình đóng cửa hàng nhỏ ngay lập tức? Đó là do cô muốn làm điều gì đó, chứ không phải vì ngài thẩm phán cho phép cô!”
“Chúng ta sẽ không nói về chuyện này, cảm phiền bác, bác Venner,” bà Hepzibah nói lạnh lùng. “Nhưng tôi phải nói rằng, nếu tôi tự mình kiếm sống, đó không phải lỗi của thẩm phán Pyncheon. Cũng không nên trách móc ông ta,” bà hòa nhã nói thêm, nhớ đến những đặc quyền về tuổi tác và sự thân quen của Bác Venner, “không lâu nữa tôi sẽ thấy thoải mái khi cùng bác về trang trại của bác.”
“Và nó cũng không phải là một nơi tồi tệ, trang trại của tôi ấy!” Ông già hồ hởi kêu lên, như thể có một cái gì rất tươi sáng ở viễn cảnh ấy. “Cái trang trại lớn bằng gạch ấy không tệ chút nào, đặc biệt là ta sẽ tìm thấy nhiều bạn già chí cốt ở đó, giống như trường hợp của tôi. Lắm lúc tôi mong được ở giữa bọn họ, vào những tối mùa đông; vì chỉ còn những công việc buồn tẻ cho một người già cô đơn như tôi, vào thời điểm này, chẳng có ai bầu bạn ngoài cái bếp lò tắc khí. Dù mùa hè hay mùa đông, nghe nói có rất nhiều thú vui ở trang trại của tôi! Còn vào mùa thu, còn gì thích thú hơn được trải qua cả ngày trên một sườn nhà kho đầy nắng hoặc một đống củi, tán gẫu với ai đó cũng già như mình; hoặc giết thời gian với một người khù khờ bẩm sinh, người biết làm thế nào để nhàn rỗi, vì ngay cả những người Yankee bận rộn của chúng ta cũng không bao giờ tìm được công việc phù hợp cho anh ta. Tin tôi đi, cô Hepzibah, tôi hồ nghi liệu có bao giờ tôi được thoải mái như thế khi ở trang trại của tôi, mà hầu hết mọi người gọi là nhà tế bần. Nhưng cô, - cô vẫn là một phụ nữ trẻ, - cô không bao giờ cần đến đấy! Vẫn còn những điều tốt đẹp hơn dành cho cô. Tôi chắc chắn như thế!”
Bà Hepzibah cảm tưởng có điều gì đó khác thường trong ánh mắt và giọng nói của người bạn già, đến mức bà nhìn đăm đăm vào mặt ông với vẻ nôn nóng, mong muốn phát hiện một ý nghĩa bí mật nào, nếu có, có thể ẩn giấu trong đó. Những người gặp khủng hoảng trầm trọng hầu như luôn sống sót bằng hy vọng, hy vọng càng hão huyền bao nhiêu thì chất liệu để họ nhào nặn nên một kỳ vọng vừa phải và hợp lý càng ít bấy nhiêu. Bởi vậy, trong suốt thời gian bà Hepzibah chuẩn bị mở cửa hàng, bà đã ấp ủ một ý nghĩ không được thừa nhận rằng một vận may khôi hài nào đó sẽ rơi xuống đầu bà. Chẳng hạn như một ông chú – đã vượt biển sang Án Độ năm mươi năm trước, không có tin tức gì - bỗng nhiên trở về, và nhận bà làm con nuôi như một nguồn an ủi cho cái tuổi gần đất xa trời của ông, và tô điểm cho bà bằng bao nhiêu ngọc trai, kim cương, những chiếc khăn san và mũ của phương Đông, và để bà làm người thừa kế cuối cùng cho gia tài kếch sù của ông. Hoặc một thành viên Nghị viện, giờ đứng đầu một nhánh của gia đình bên Anh Quốc, - với tổ tiên ở bờ bên này Đại Tây Dương, giữ rất ít hoặc không có mối liên hệ nào trong hai thế kỷ qua, - quý ông xuất chúng đó có thể mời bà Hepzibah rời khỏi ngôi nhà bảy đầu hồi đổ nát, và chuyển tới ở với người họ hàng của bà tại lâu đài Pyncheon. Nhưng vì một số lý do bắt buộc mà bà không thể nhận lời. Do đó khả năng hợp lý hơn là những hậu duệ của một người họ Pyncheon đã di cư tới Virginia, trải qua vài thế hệ, và trở thành một điền chủ lớn ở đó, - hay tin về hoàn cảnh cơ cực của bà Hepzibah, và bị thôi thúc bởi tính hào phóng tuyệt vời mà dòng máu lai Virginia hẳn đã bồi đắp cho huyết thống New England của họ, - liền gửi cho bà mấy trăm nghìn dollar với một ngụ ý là quà biếu hàng năm. Hoặc là, - và chắc chắn bất cứ cái gì không thể bác bỏ nằm trong phạm vi mong đợi hợp lý, - một phán quyết đối với việc thừa kế hạt Waldo cuối cùng đã được quyết định thuộc về gia tộc Pyncheon; như thế, thay vì trông coi một cửa hàng tạp hóa, bà Hepzibah sẽ xây một cung điện, và nhìn từ ngọn tháp cao nhất của nó xuống đồi, thung lũng, rừng cây, cánh đồng, và thị trấn như lãnh thổ của tổ tiên mình.
Đó là một số những mơ mộng kỳ thú mà bà theo đuổi bấy lâu nay; cộng thêm vào đó, nỗ lực động viên vô tư của Bác Venner đã nhen lên một ánh lửa lung linh trong những căn phòng nghèo nàn, trơ trụi, sầu muộn của trí óc bà, như thể cái thế giới bên trong ấy đột ngột được thắp sáng bằng khí đốt. Nhưng hoặc ông cụ chẳng biết gì về những lâu đài trên mây của bà, - làm sao ông biết được? - hoặc vẻ cau có sốt sắng của bà làm nhiễu loạn trí nhớ của ông, với trí nhớ của một người dũng cảm hơn có thể đã khác. Thay vì chuyển sang những chủ đề nhẹ nhàng hơn, Bác Venner lại hồ hởi giúp bà Hepzibah bằng những lời khuyên khôn ngoan trong việc trông coi cửa hàng.
“Đừng cho nợ!” – đây là mấy câu châm ngôn vàng bạc của ông, - “Không bao giờ nhận tiền giấy. Nhìn kỹ tiền thối lại. Món nào trên bốn pound phải gõ đồng tiền xem thật giả. Trả lại tất cả những đồng nửa xu Anh quốc và tiền ký hiệu, những thứ nhan nhản trong thị trấn! Lúc nhàn rỗi thì đan tất và găng tay cho trẻ con! Hãy tự ủ men làm món bia gừng của riêng cô!”
Và trong lúc bà Hepzibah gắng sức tiếp thu những tinh hoa chắt lọc từ sự uyên bác của ông cụ, ông buông ra câu kết, và đó là lời khuyên quan trọng hơn cả, như sau:
“Hãy mang một bộ mặt tươi cười với khách hàng, và mỉm cười niềm nở khi đưa cho họ thứ họ hỏi! Một món đồ thiu cũ, nếu cô nhúng nó trong một nụ cười thân thiện, ấm áp, rạng rỡ, sẽ bán chạy hơn một món đồ mới mà cô cau có với nó.”
Trước câu cách ngôn cuối cùng này bà Hepzibah tội nghiệp đáp lại bằng một tiếng thở dài nặng nề suýt chút nữa là thổi Bác Venner đi như một chiếc lá khô gặp trận gió thu. Tuy nhiên sau khi đứng vững ông nghiêng người tới trước, và, với cảm xúc khó tả trên bộ mặt già nua, ngoắc bà ghé lại gần.
“Cô nghĩ bao giờ cậu ấy về nhà?” Ông thì thầm.
“Bác định nói ai?” Bà Hepzibah hỏi, mặt tái đi.
“À! Cô không thích nói về chuyện đó”, Bác Venner nói. “Thôi được! Chúng ta sẽ không nói nữa, dù tin tức bay khắp thị trấn. Tôi vẫn nhớ cậu ấy, cô Hepzibah ạ, trước khi cậu ấy biết chạy một mình!”
Trong thời gian còn lại của ngày, bà Hepzibah thực hiện bổn phận người bán hàng của mình còn kém nhiệt tình hơn lúc trước. Bà như trong cơn mộng du; hoặc chính xác hơn, tất cả những sự việc ở đời sống sôi động và hiện thực bên ngoài bị những cảm xúc của bà phủ lên một màu lãng đãng, như những ảo ảnh trêu ngươi của một giấc ngủ lơ mơ. Bà vẫn phản ứng, một cách máy móc, trước tiếng giục giã thường xuyên của quả chuông, và đối với yêu cầu của các khách hàng, ngó nghiêng với cặp mắt thờ ơ quanh cửa hàng, thì mời họ mua hết món này món kia, và gạt đi - đầy ngoan cố, theo hầu hết ý kiến của họ - món hàng họ yêu cầu. Có một sự hoang mang buồn bã, khi tinh thần hăng hái cứ thế bay vào quá khứ, hoặc vào một tương lai kinh khủng hơn, hoặc vượt qua ranh giới mênh mông giữa vùng đất của chúng ta và thế giới thực, nơi cơ thể vẫn cố gắng tự điều khiển với một cơ chế không khác đời sống động vật là mấy. Nó giống như cái chết, mà không có đặc quyền im lặng của cái chết, nó thoát khỏi phần xác. Tệ hơn cả là công việc bị chen vào những chi tiết vụn vặt hiện làm nhiễu loạn tâm hồn u sầu của người phụ nữ già. Như sự thù oán của số phận, khách hàng nườm nượp kéo đến suốt buổi chiều. Bà Hepzibah luống cuống trong không gian nhỏ hẹp, mắc những lỗi ngớ ngẩn nhất. Lúc thì treo mười hai, lúc thì bảy cây nến mỡ động vật, thay vì mười cây một pound; bán gừng nhầm thành thuốc lá hít, ghim kẹp thành kim khâu, và kim khâu thành ghim kẹp; tính sai tiền thối, đôi lúc gây thiệt cho khách hàng, thường xuyên gây thiệt cho chính mình; và bà cứ tiếp tục như thế, dùng hết sức đưa tình trạng hỗn loạn trở lại, cho đến khi, kết thúc ngày làm việc, trong nỗi bàng hoàng không thể giải thích nổi, bà phát hiện ngăn kéo đựng tiền hầu như không có đồng nào. Cả ngày trời buôn bán vất vả chỉ thu về chừng năm sáu đồng xu bằng đồng, và một đồng chín xu đáng ngờ mà cuối cùng hóa ra cũng bằng đồng nốt.
Với cái giá này, hoặc bất cứ cái giá nào, bà lấy làm mừng vì ngày hôm nay đã kết thúc. Chưa bao giờ bà cảm thấy thời gian giữa bình minh và hoàng hôn lại dài lê thê không chịu đựng nổi như thế, và nỗi khó chịu khổ sở khi phải làm việc, sự sáng suốt đúng đắn khi được nằm xuống ngay lúc này, cam chịu buông xuôi, mặc cuộc sống và những vất vả cùng phiền toái của nó tha hồ chà đạp lên thân xác mệt nhoài! Giao dịch cuối cùng của bà Hepzibah là với kẻ ăn thịt Jim Crow và con voi, giờ nó muốn ăn một con lạc đà. Trong lúc bối rối, bà đưa cho thằng bé ban đầu là một con rồng gỗ, rồi đến một vốc bi, chẳng cái nào thích hợp với thú ăn tạp của nó, bà vội vã đưa cho nó toàn bộ lịch sử tự nhiên bằng bánh gừng mà mình có, và tiễn vị khách nhỏ ra khỏi cửa hàng. Rồi bà bọc quả chuông vào một chiếc tất đang đan dở, và gác thanh chặn bằng gỗ sồi lên cánh cửa.
Trong lúc bà làm công việc sau cùng, một chiếc xe khách đỗ lại dưới tán cây du. Tim bà Hepzibah thót lên. Vắng lặng và mờ tối, không một tia nắng xen vào, là không gian của quá khứ mà vị khách duy nhất bà mong chờ có thể đến! Bà sắp gặp người đó ư?
Dù sao đi nữa cũng có một người đang di chuyển từ cuối xe ra cửa. Một quý ông bước xuống, nhưng chỉ để đưa tay cho một cô gái vóc người thanh mảnh, hầu như không cần giúp đỡ, lúc này nhẹ nhàng bước xuống các bậc thang, và khẽ nhảy từ bậc cuối cùng xuống vỉa hè. Cô đáp lễ anh chàng hiệp sĩ đó bằng một nụ cười, nó làm sáng cả gương mặt anh ta khi anh ta trở lại xe. Sau đó cô gái quay về phía ngôi nhà bảy đầu hồi, đi tới cửa, không phải của cửa hàng, mà là cánh cổng xưa cũ, trong lúc ấy người lái xe khách đã xách một cái rương nhẹ và một hộp bìa cứng. Trước tiên gõ mạnh lên cái vòng sắt cũ, xong anh ta đặt hành lý của hành khách của mình lên bậc cửa, rồi rời đi.
“Là ai được nhỉ?” Bà Hepzibah nghĩ, dồn hết thị lực tập trung vào một tiêu điểm. “Cô gái chắc hẳn là nhầm nhà.”
Bà khẽ khàng rút vào trong sảnh, và từ chỗ khuất nhìn qua những ánh đèn bụi bặm ngoài cửa vào gương mặt trẻ trung, mơn mởn và vui tươi xuất hiện trước lối vào ngôi nhà cũ u ám. Đó là một gương mặt mà hầu như cánh cửa nào cũng sẽ tự nguyện mở ra.
Người con gái trẻ, rất tươi tắn, rất khác biệt, song rất lễ phép và ngoan ngoãn, như người ta lập tức nhận ra ở cô, tương phản rõ rệt với mọi thứ xung quanh cô vào thời điểm ấy. Sự xám xịt và xấu xí của cỏ dại mọc um tùm bên góc ngôi nhà, và tầng trên nhô ra nặng nề trùm bóng lên cô, và cái khung gỗ đã mòn vì thời gian của cánh cửa, - không cái nào trong số đó thuộc về thế giới của cô. Nhưng ngay cả khi một tia nắng, rơi vào một nơi có thể tối tăm, tức thì tự tạo ra sự thích nghi, dường như nó cũng đúng với cô gái đang đứng trước cửa. Thật đáng ngạc nhiên nếu cánh cửa lại mở ra đón cô. Bản thân người phụ nữ già, thâm tâm ban đầu cực kỳ kém mến khách, nhanh chóng cảm thấy cánh cửa phải được đẩy ra, và cái chìa han gỉ cần được xoay trong cái ổ khóa trơ lỳ.
“Lẽ nào lại là Phoebe?” Bà tự hỏi trong lòng. “Hẳn là con bé Phoebe rồi, vì không thể là ai khác, - và đường nét của cha nó cũng xuất hiện ở nó nữa! Nhưng con bé muốn gì ở đây? Và làm sao một người họ hàng ở quê lại đến hành hạ cái thân già như thế này, chẳng báo trước lấy một ngày, hoặc hỏi xem nó có được đón chào không! Chắc là con bé đã có chỗ trọ qua đêm, và ngày mai nó sẽ về với mẹ nó.”
Phoebe, hẳn vậy rồi, cái nhánh nhỏ của dòng họ Pyncheon mà chúng ta đã đề cập, là một cư dân của vùng nông thôn New England, nơi những tập quán và quan hệ xưa cũ vẫn được duy trì phần nào. Trong giới của cô, việc họ hàng đến thăm nhau mà không có lời mời, hoặc thông báo lịch sự, là hoàn toàn trái lễ nghi. Tuy nhiên, xét đến lối sống ẩn dật của bà Hepzibah, quả thực có một lá thư được viết và gửi đi, mang theo thông tin về chuyến viếng thăm sắp tới của Phoebe. Lá thư này, qua ba bốn ngày, vẫn nằm trong túi của người đưa thư, ông ta tình cờ lại không có việc gì khác ở phố Pyncheon, nên chẳng tiện đường ghé qua ngôi nhà bảy đầu hồi.
“Không - con bé có thể ở lại nhưng chỉ một đêm” bà Hepzibah nói, mở chốt cửa. “Nếu Clifford thấy con bé ở đây, anh ấy có thể sẽ khó chịu!”