Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 424 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương III
người khách đầu tiên

Bà Hepzibah ngồi trên chiếc ghế tựa gỗ sồi, hai tay, chìm sau trong đâu khổ, điều mà hầu hết mọi người đều trải qua, trong khi hy vọng như được đúc bằng chì, trước một công việc trọng yếu nhưng không chắc chắn. Bỗng bà giật mình vì tiếng leng keng - to, gắt và không đều – của một quả chuông nhỏ. Người phụ nữ đứng dậy, tái nhợt như một hồn ma lúc tảng sáng, vì bà là một linh hồn nô lệ, và lá bùa này bà phải nghe theo. Quả chuông nhỏ ấy, - nói một cách đơn giản, - được treo trên cánh cửa, rung lên nhờ một lò xo thép, và truyền âm thanh vào trong nhà khi có bất cứ khách hàng nào bước qua ngưỡng cửa. Tiếng ầm ĩ xấu xí và hằn học ấy (có lẽ là lần đầu tiên vang lên kể từ khi người tiền nhân đội tóc giả của bà Hepzibah rút lui khỏi công việc kinh doanh) lập tức khiến mọi dây thần kinh trong người bà rung lên phản ứng. Cơn khủng hoảng ập xuống bà! Khách hàng đầu tiên của bà đã đến!

Không cho bản thân đắn đo, bà lao vào trong cửa hàng, tái mét, hấp tấp, tuyệt vọng trong cử chỉ và nét mặt, cau có quá đáng, và nom thừa sức để chiến đấu quyết liệt với một tên trộm đột nhập hơn là đứng tươi cười sau quầy, đổi những món hàng nhỏ lấy vài đồng bạc. Bất cứ người khách bình thường nào ắt sẽ quay lưng bỏ chạy. Vậy nhưng không có gì là hung dữ ở trái tim già nua tội nghiệp của bà Hepzibah. Bản thân bà lúc ấy cũng không có ý nghĩ gay gắt nào với thế giới, hoặc một con người cụ thể. Bà mong tất cả bọn họ gặp điều tốt lành, nhưng cũng mong bản thân xong chuyện với họ, trong nấm mồ yên tĩnh của bà.

Người ứng viên lúc này đứng trong khung cửa. Vừa mới ra khỏi ánh nắng ban mai, anh ta như mang theo một phần sự tươi mát của nó vào trong cửa hàng. Đó là một thanh niên thư sinh, không quá hai mươi hoặc hai mốt tuổi, với thần sắc nghiêm nghị và suy tư so với tuổi, nhưng cũng rất hoạt bát và trẻ trung. Những đặc điểm này không chỉ thấy bằng mắt thường, trong hình dáng và cử chỉ của anh ta, gần như lập tức cảm thấy đó là tính cách của người thanh niên ấy. Một chòm râu màu nâu, không quá óng mượt, viền quanh cằm; anh ta có cả hàng ria mép ngắn, sắc mặt thâm trầm cao ngạo của anh ta nom vượt trội những sự làm đỏm tự nhiên này. Trang phục của người thanh niên thuộc loại giản dị nhất: một chiếc áo thụng mùa hè bằng chất liệu bình thường và rẻ tiền, quần chẽn mỏng kẻ ô, và một chiếc mũ rơm, không có lấy một dải viền. Cửa hàng Oak Hall có lẽ đã cung cấp toàn bộ số trang phục này. Anh ta toát lên một vẻ lịch thiệp – nếu anh ta có muốn như thế – bởi vẻ sạch sẽ và sáng sủa của quần áo.

Người thanh niên đón nhận vẻ cau có của bà Hepzibah mà chẳng tỏ ra giật mình, vì đã quen với nó và thấy nó vô hại.

“Bà Pyncheon thân mến,” nhà nhiếp ảnh lên tiếng, đó chính là người khách trọ độc nhất của ngôi nhà bảy đầu hồi, “tôi rất mừng khi thấy bà đã không lùi bước trước mục đích đúng đắn của mình. Tôi chỉ ghé vào để gửi lời chúc tốt đẹp, và hỏi xem tôi có thể giúp được gì trong công việc chuẩn bị không.”

Những người ở trong cảnh khó khăn và cùng quẫn, hoặc bất mãn với thế gian, có thể chịu đựng vô vàn sự đối xử ác nghiệt, và có lẽ càng trở nên mạnh mẽ hơn, nhưng họ lập tức đầu hàng trước một cử chỉ giản dị mà họ cảm nhận là sự sẻ chia chân thành. Bà Hepzibah là người như vậy; vì khi bà trông thấy nụ cười của chàng trai, - nom thật rạng rõ trên một gương mặt ưu tư, - và nghe thấy giọng nói ân cần của anh, bà bật ra một tiếng cười kích động rồi bắt đầu thổn thức.

“Ôi, cậu Holgrave,” bà thốt lên, ngay khi cất được lời, “tôi không bao giờ có thể vượt qua được chuyện này! Không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ! Ước gì tôi đã chết, và nằm trong ngôi mộ của gia đình cùng với ông bà tổ tiên! Với cha mẹ, và chị gái tôi! Vâng, với cả anh trai tôi nữa, người thà thấy tôi ở đó còn hơn ở đây! Thế giới quá lạnh lẽo và khắc nghiệt, - còn tôi quá già, và quá kém cỏi, và quá vô vọng!”

“Hãy tin tôi, bà Hepzibah,” người thanh niên ôn tồn bảo, “những cảm xúc này sẽ không quấy rầy bà lâu đâu, sau khi công việc của bà đã vào guồng. Vào lúc này chúng không thể tránh khỏi, chúng đứng ngoài rìa đời sống ẩn dật lâu nay của bà, và trú ngụ khắp thế giới với những hình dạng xấu xí, bà sẽ sớm phát hiện chúng hư ảo như những người khổng lồ và yêu tinh trong cuốn sách của trẻ con. Tôi thấy chẳng có gì quá dị thường trong cuộc sống hết, mọi thứ có vẻ đều hiện nguyên hình ngay khi có người thực sự túm được nó. Với cái mà bà cho rằng rất kinh khủng cũng vậy.”

“Nhưng tôi là một người phụ nữ!” Bà Hepzibah nói một cách thảm thương. “Đáng ra tôi sẽ nói là một phụ nữ quý phái, nhưng tôi coi đó là quá khứ rồi.”

“Chà, nếu là quá khứ cũng chẳng hề gì!” Người nghệ sĩ trả lời, một ánh châm biếm kỳ lạ thoáng lướt qua trong thái độ ân cần của anh. “Kệ nó đi! Không có nó còn tốt cho bà hơn. Tôi nói thật đấy, bà Pyncheon thân mến! Chẳng phải chúng ta là bạn bè sao? Tôi thấy đây là một trong những ngày may mắn của cuộc đời bà. Nó chấm dứt một thời đại và mở ra một thời đại khác. Trước nay, sức sống đang dần nguội lạnh trong mạch máu bà khi bà ngồi tách biệt trong cái vòng tròn trâm anh thế phiệt của mình, trong khi phần còn lại của thế giới chiến đấu không vì nhu cầu thiết yếu này thì vì nhu cầu thiết yếu khác. Từ giờ trở đi, chí ít bà sẽ có cảm giác khỏe khoắn và nỗ lực vì một mục tiêu, và cống hiến sức lực dù ít hay nhiều - cho cuộc đấu tranh chung của nhân loại. Đây là sự thành công, - sự thành công mà bất cứ ai cũng nên nếm trải!”

“Cậu có những tư tưởng như vậy là điều tự nhiên thôi, cậu Holgrave,” bà Hepzibah đáp, rướn thẳng thân hình gầy gò với vẻ hơi bị xúc phạm. “Cậu là đàn ông, một người đàn ông trẻ, và được nuôi dưỡng, tôi cho rằng giống như phần lớn mọi người ngày nay, với một quan điểm là theo đuổi tiền tài. Nhưng tôi sinh ra là một quý cô, và luôn sống như một quý cô, bất kể điều kiện có eo hẹp đến đâu.”

“Nhưng tôi sinh ra không phải là một quý ông, tôi cũng chẳng bao giờ sống như thế,” Holgrave nói, khẽ mỉm cười, “cho nên, quý bà thân mến của tôi, bà sẽ khó lòng mong tôi chia sẻ những sự nhạy cảm kiểu này, trừ phi tôi lừa dối bản thân, nhưng tôi có vài cảm nhận không được hoàn hảo về chúng. Những cái mác quý ông quý bà này từng có một ý nghĩa, trong lịch sử của thế giới, và ban đặc quyền đáng khao khát cho những ai mang chúng. Ở hiện tại – và trong tình hình tương lai của xã hội - chúng không mang hàm ý đặc quyền nữa, mà là gò bó!”

“Đó là những ý niệm mới mẻ,” người phụ nữ già lắc đầu đáp. “Tôi sẽ không bao giờ hiểu được chúng, mà cũng không muốn hiểu.”

“Vậy thì chúng ta sẽ ngừng nói về chúng,” người nghệ sĩ nói, với một nụ cười ấm áp hơn nụ cười vừa rồi, “và tôi sẽ để cho bà tự cảm nhận làm một người phụ nữ đích thực có tốt hơn làm một mệnh phụ hay không. Bà nghĩ xem, bà Hepzibah, có bậc mệnh phụ nào trong gia đình bà từng làm một việc dũng cảm hơn việc bà làm hôm nay, kể từ khi có ngôi nhà này chưa? Chưa bao giờ, và nếu dòng tộc Pyncheon luôn hành động vô cùng cao quý, tôi không biết liệu lời nguyền rủa của ông lão phù thủy Maule, trong câu chuyện bà từng kể cho tôi, có đè nặng lên họ với sự thấp thỏm không.”

“Ôi! Không, không!” Bà Hepzibah nói, không hề bực mình trước sự ám chỉ đối với một lời nguyền lâu đời đầy tăm tối này. “Nếu hồn ma của ông Maule, hoặc một hậu duệ của ông ấy, có thể thấy tôi đứng sau quầy hôm nay, ông ấy sẽ bảo những mong ước tồi tệ nhất của ông ấy đã thành hiện thực. Nhưng tôi xin cảm ơn lòng tốt của cậu, cậu Holgrave, và sẽ cố hết sức để làm một người bán hàng giỏi.”

“Mong là như thế,” Holgrave nói, “và xin cho tôi được vinh hạnh là người khách đầu tiên của bà. Tôi đang định đi dạo ra bờ biển, trước khi về phòng mình, nơi tôi lạm dụng ánh nắng ân phước của Chúa để phác ra những đường nét của con người. Mấy cái bánh quy kia, nhúng trong nước biển, chính là thứ tôi cần cho bữa sáng. Nửa tá bánh giá bao nhiêu vậy?”

“Hãy cho tôi là một quý cô thêm ít phút nữa,” bà Hepzibah đáp, với một bộ dạng trịnh trọng xưa cũ khiến cho nụ cười u sầu trở nên duyên dáng. Bà đặt những chiếc bánh vào tay anh, nhưng từ chối lấy tiền. “Một người Pyncheon, trong bất cứ hoàn cảnh nào dưới mái nhà của tổ tiên, cũng không được nhận tiền cho một mẩu bánh mì từ người bạn duy nhất của mình!”

Holgrave đi khỏi, để lại bà với tinh thần không quá mức tuyệt vọng, trong giây lát. Tuy nhiên nó nhanh chóng rũ xuống gần bằng mức độ tê liệt cũ. Tim đập mạnh, bà lắng nghe tiếng chân của những khách bộ hành dậy sớm, giờ bắt đầu nhộn nhịp trên đường. Một đôi lần chúng dường như nán lại, những người có thể là lạ mặt, hoặc hàng xóm này đang nhìn những thứ đồ chơi và vật dụng nhỏ nhặt trên cửa sổ bày hàng của bà Hepzibah. Bà bị tra tấn gấp đôi, phần vì cảm giác xấu hổ tràn ngập khi những con mắt xa lạ và lạnh lùng đó lại có quyền nhìn chòng chọc, và phần vì một ý nghĩ chợt đến quấy nhiễu bà, rằng cái cửa sổ không được sắp đặt khéo léo xứng với lợi thế như đáng lẽ có thể. Dường như toàn bộ thành công hay thất bại của cửa hàng phụ thuộc vào cách trưng bày các món đồ, hoặc thay một quả táo đẹp hơn cho quả táo có vẻ đã bị đốm đen, nên bà thay nó, và lập tức tưởng tượng rằng mọi thứ bị phá hỏng bởi hành động ấy, không nhận ra nó là sự căng thẳng của tình thế, và sự khó tính của một phụ nữ già đã gây ra tất cả phiền lụy.

Không lâu sau có một cuộc gặp tình cờ giữa hai người làm công, ở ngay trước cửa, căn cứ vào giọng nói ồm ồm của họ. Sau vài câu chuyện gẫu về công việc với nhau, một người bất chợt chú ý đến cửa hàng, và chỉ cho người kia.

“Nhìn này!” Anh ta thốt lên, “Anh nghĩ sao? Buôn bán hình như đang phát triển ở phố Pyncheon!”

“Chà, chắc chắn đây là một dấu hiệu!” Người kia cảm thán. “Ở ngôi nhà Pyncheon cũ, và dưới cây du Pyncheon! Ai mà ngờ được chứ? Bà già Pyncheon mở cửa hàng tạp hóa!”

“Anh nghĩ bà ấy có thành công không, Dixey?” Bạn anh ta hỏi. “Tôi không cho đây là một vị trí đẹp. Có một cửa hàng khác ở ngay góc phố.”

“Thành công!” Dixey nói to, với một vẻ khinh thường tột độ, như thể ý nghĩ ấy không thể chấp nhận được. “Làm gì có chuyện! Gương mặt bà ta tôi đã thấy nó, tôi đã đào vườn cho bà ta một năm mà – gương mặt bà ta đủ hù dọa ông già Nick, nếu ông ta có cao cả đến mức mua bán với bà ta. Tôi cam đoan là mọi người không thể chịu được nó! Bà ta cau có phát khiếp, dù chính đáng hay không, chứng tỏ tính cách rất khó chịu.”

“Chuyện đó không quá quan trọng,” người kia nhận xét. “Những người khó tính hầu hết đều khéo kinh doanh, và biết rõ điều họ muốn làm. Nhưng như anh nói, tôi không nghĩ bà ấy sẽ làm được lâu. Việc duy trì cửa hàng tạp hóa này là quá sức, như tất cả các hình thức kinh doanh khác, làm nghề thủ công, và lao động nặng nhọc. Chính tôi đây đã nếm mùi! Vợ tôi mở hiệu tạp hóa được ba tháng, và lỗ mất năm dollar.”

“Làm ăn khó lắm!” Dixey đáp lại, bằng tông giọng như thể đang lắc đầu, “làm ăn khó lắm!”

Vì lý do nào đó, không dễ phân tích, nỗi khổ sở của bà Hepzibah về vấn đề trên không nhức nhối như thứ làm trái tim bà chấn động khi nghe lỏm đoạn đối thoại. Sự xác nhận vẻ cau có của bà mới cực kỳ quan trọng; nó như đưa hình ảnh bà ra khỏi luồng ánh sáng mà bà tự huyễn hoặc, và gớm guốc đến mức bà không dám nhìn. Hơn nữa, bà bị tổn thương một cách vô lý bởi tác động yếu ớt và sơ sài của việc bà mở cửa hàng - một sự kiện lớn lao đến ngạt thở đối với bà – lên công chúng, mà hai người đàn ông kia là đại diện gần nhất. Một cái liếc mắt, một hai câu nói bâng quơ, một tiếng cười thô lỗ, và chắc chắn chưa đến góc phố bọn họ đã quên bà rồi. Họ chẳng quan tâm đến lòng tự trọng của bà, cũng không màng đến sự mất mặt của bà. Và lời tiên đoán sự thất bại, thốt ra từ miệng một người từng trải, giáng xuống niềm hy vọng đang hấp hối của bà như một hòn đất ném xuống mộ. Vợ của người đàn ông đã cố gắng làm điều tương tự, và thất bại! Làm sao một phụ nữ dòng dõi – sống khép kín nửa cuộc đời, hoàn toàn ngây ngô trước thế giới, ở tuổi sáu mươi tư, - có thể mơ đến thành công, khi một người đàn bà New England bình dân, cứng rắn, sắc sảo, chăm chỉ đã lỗ năm dollar! Sự thành công trưng mình ra như một điều không tưởng, và hy vọng vào nó là một ảo giác hoang đường.

Kẻ ác tâm đang làm bà Hepzibah phẫn nộ ấy mở ra trước trí tưởng tượng của bà một bức tranh toàn cảnh con đường lớn của một thành phố với nhộn nhịp khách hàng. Vô vàn những cửa hàng cửa hiệu tráng lệ ở đó! Cửa hàng thực phẩm, đồ chơi, đồ khô, với những tấm kính lớn, bài trí lộng lẫy, hàng hóa đa dạng và đầy đủ, bao nhiêu tiền đầu tư đổ vào; và những tấm gương sang trọng ở cuối mỗi cửa hàng nhân đôi sự giàu có ấy lên bằng khung cảnh phản chiếu được đánh bóng sáng loáng. Bên này đường của khu chợ sầm uất là đội ngũ bán hàng đông đảo, xức nước hoa và chải chuốt, cười điệu, cười mỉm, cúi chào, sắp xếp các món hàng. Bên kia đường là ngôi nhà bảy đầu hồi tối tăm cũ kỹ, với một cửa hàng lỗi thời nằm dưới tầng gác nhô ra, và bà Hepzibah, trong chiếc váy lụa đen bạc màu, đứng sau quầy, cau có nhìn thế giới đi qua! Sự tương phản ghê gớm này sừng sững như một biểu hiện chính xác cái thua kém của kế sinh nhai mà bà vừa mới chập chững bước vào. Thành công? Ngớ ngẩn! Bà sẽ không bao giờ nghĩ đến nó nữa! Ngôi nhà rất có thể bị chôn vùi trong màn sương vĩnh cửu khi mà những ngôi nhà khác được ánh dương chiếu rọi, vì sẽ không có một bàn chân nào bước qua ngưỡng cửa, hay một bàn tay định mở cửa!

Nhưng đúng lúc ấy chuông cửa reo, ngay trên đầu bà, leng keng như bị bỏ bùa. Trái tim người phụ nữ già như gắn vào cái lò xo thép ấy, vì nó rung liên tục theo âm thanh. Cánh cửa bị đẩy ra, dù không thấy bóng người bên ngoài cửa sổ. Tuy nhiên bà Hepzibah vẫn đứng nhìn trân trân, hai bàn tay nắm chặt, nom như thể bà đã triệu hồi một linh hồn quỷ dữ, và đầy sợ hãi, song vẫn quyết tâm đương đầu.

“Xin Chúa giúp con!” Bà rền rĩ trong đầu. “Giờ là lúc con cần Người nhất!”

Cánh cửa, di chuyển khó khăn trên những bản lề cốt két han gỉ, miễn cưỡng mở ra, một thằng bé khỏe khoắn cứng cáp hiện ra, hai má đỏ như trái táo. Nó ăn mặc khá luộm thuộm (nhưng có vẻ do sự cẩu thả của bà mẹ hơn là do cái nghèo của ông bố), chiếc tạp dề xanh, quần ngắn và rộng lùng thùng, giày hở cả ngón chân, chiếc mũ bằng lá cọ, với những lọn tóc quăn thò ra qua những lỗ hở. Một quyển sách và chiếc bảng đá kẹp dưới nách, chứng tỏ nó đang trên đường tới trường. Nó nhìn chằm chằm bà Hepzibah một lúc, như một khách hàng lớn tuổi hơn có thể sẽ làm thế, không biết phải làm sao trước thái độ âu sầu và vẻ cau có mà bà nhìn nó. “Ồ, cháu bé,” bà nói, trái tim dịu xuống trước một con người không mấy đáng sợ, - “cháu bé, cháu thích gì nào?”

“Jim Crow trên cửa sổ kia ạ,” thằng bé trả lời, giơ ra một đồng xu, và chỉ vào anh chàng bánh gừng đã thu hút nó, khi nó tha thẩn trên đường đi học, “cái không bị gãy chân ấy.”

Bà Hepzibah liền vươn cánh tay gầy gò lấy cái hình người trên cửa sổ, đưa nó cho vị khách đầu tiên của mình.

“Đừng để ý đến tiền,” bà nói, đẩy nhẹ thằng bé về phía cửa, vì sự quý phái cố hữu của bà khó chịu một cách ngoan cố trước hình ảnh đồng tiền. Bên cạnh đó, dường như thật bần tiện khi lấy tiền tiêu vặt của một đứa trẻ cho một cái bánh gừng đã hơi ôi. “Đừng để ý đến đồng xu. Cháu được chào đón với Jim Crow.”

Đứa trẻ, tròn xoe mắt trước sự hào phóng, chưa từng có trong trải nghiệm dày dặn của nó ở các hàng tạp hóa, cầm lấy người bánh gừng, và rời khỏi ngôi nhà. Chưa ra đến hè đường thì đầu của Jim Crow đã ở trong miệng nó (đúng là một kẻ ăn thịt người bé nhỏ!). Vì nó không cẩn thận đóng cửa, bà Hepzibah phải khó nhọc đóng lại cho nó, bực dọc lầm bầm về sự phiền nhiễu của lớp trẻ, đặc biệt là những thằng nhóc. Bà vừa đặt một Jim Crow mới lên bệ cửa sổ thì quả chuông lại reo ầm ĩ, cánh cửa lại bị đẩy ra, với sự rung lắc điển hình, vẫn là thằng bé chắc nịch ấy, đã đi được đúng hai phút. Những mẩu vụn và dấu vết của bữa tiệc, tuy được xử lý một cách chật vật, vẫn dính đầy quanh miệng nó.

“Giờ thì có chuyện gì, hả cháu?” Người phụ nữ hỏi vẻ nôn nóng, “cháu quay lại để đóng cửa sao?”

“Không,” thằng bé đáp, chỉ tay vào hình người vừa được bày lên, “cháu muốn Jim Crow kia.”

“Của cháu đây,” bà Hepzibah nói, lấy nó xuống, nhưng nhận thấy vị khách hàng ngoan cố này sẽ không rời bỏ bà, chừng nào bà còn có người bánh gừng trong cửa hàng, bà liền rụt lại bàn tay đã chìa ra, “đồng xu đâu?”

Thằng bé đã cầm tiền trên tay, nhưng, như một người Yankee đích thực, nó ắt sẽ thích một vụ trao đổi hời hơn. Trông có phần thất vọng, nó đặt đồng tiền vào tay bà Hepzibah, và rời đi, tiễn Jim Crow theo con đường giống Jim Crow trước. Người chủ cửa hàng mới thả thành quả kinh doanh đầu tiên vào ngăn kéo. Thế là xong! Vết bẩn của đồng tiền đó không bao giờ có thể gột sạch khỏi bàn tay bà. Thằng bé học trò ấy, được giúp đỡ bởi hình nhân tinh quái của một vũ công da đen, đã gây ra một sự hủy hoại không thể sửa chữa. Kết cấu của một dòng họ quý tộc lâu đời đã bị nó xô đổ, lời kêu ca con nít của nó như thể đã kéo sập ngôi nhà bảy đầu hồi. Giờ hãy để bà Hepzibah lật những bức chân dung của tổ tiên Pyncheon úp mặt vào tường, và đem tấm bản đồ lãnh thổ phía Đông của bà đi nhóm bếp, và thổi lửa bằng hơi thở trống rỗng truyền thống ông cha! Bà phải ăn nói làm sao với tổ tiên? Không gì cả, với con cháu đời sau cũng thế! Giờ đây không còn quý bà, mà chỉ là Hepzibah Pyncheon, một phụ nữ già tuyệt vọng, trông coi một cửa hàng tạp hóa.

Tuy nhiên, ngay cả khi những ý nghĩ ấy rầm rộ diễu qua tâm trí, đáng ngạc nhiên là bà lại thấy bình tĩnh. Nỗi lo lắng và những e sợ đã dằn vặt bà, dù là lúc ngủ hay trong những lúc lơ mơ sầu muộn, kể từ khi dự án của bà bắt đầu hình thành, giờ đây đã biến mất. Bà cảm nhận vị trí mới lạ của mình, nhưng không còn thấp thỏm hay lo sợ nữa. Thỉnh thoảng lại có một cơn rùng mình gần như vui sướng. Đó là hơi thở mang sức sống của không khí trong lành bên ngoài, sau quãng thời gian ẩn dật buồn tẻ và lờ đờ của bà. Một động lực thật bổ ích! Một sức mạnh kỳ diệu mà chúng ta không hay biết! Thứ ánh sáng lành mạnh nhất mà bà Hepzibah đã biết từ bao năm qua giờ chiếu rọi vào cơn khủng hoảng đáng sợ, khi lần đầu tiên bà lao động để cứu bản thân. Cái vòng tròn nhỏ hình đồng xu của thằng bé học trò - dù xỉn màu, chẳng đáng giá là bao ở đây hay thế giới ngoài kia – chứng tỏ đó là một lá bùa may mắn, thơm mùi phúc lành, đáng được bọc vàng và đeo gần trái tim bà. Nó hữu hiệu, và có lẽ mang cùng một nguồn uy lực, như một chiếc nhẫn tích điện! Bà Hepzibah, dù sao mặc lòng, cũng mang ơn hiệu quả tinh tế của nó cả về thể xác và tâm hồn. Và còn hơn thế, nó thúc đẩy bà đi ăn chút điểm tâm, và để duy trì dũng khí, bà cho phép mình thêm một thìa trà vào ấm trà đen.

Thế nhưng ngày mở hàng đầu tiên của bà trôi qua mà không có nhiều sự gián đoạn phấn khởi như vậy. Như một quy luật chung, Thượng đế hiếm khi ban cho con người nhiều hơn một sự khích lệ vừa phải đủ để họ nỗ lực đúng mức. Trong trường hợp quý bà già cả của chúng ta, sau khi sự phấn khích đã lắng xuống, nỗi chán nản suốt cuộc đời bà có nguy cơ quay lại. Nó giống như một đám mây nặng nề chúng ta thường thấy che mờ bầu trời, và tạo ra một ánh xam xám ở khắp nơi, cho đến khi màn đêm buông xuống, thỉnh thoảng nó nhường chỗ cho một tia nắng. Nhưng đám mây đố kỵ luôn tụ lại chặn đứng mảng xanh thiên đường ấy.

Trong buổi sáng có khách hàng nhưng khá thưa thớt; một vài trường hợp, phải thừa nhận rằng, cả họ và bà Hepzibah đều không mấy hài lòng; cái ngăn kéo cũng không được ních đầy. Một cô bé, được mẹ sai đi mua một cuộn chỉ có màu đặc biệt, đã lấy cuộn chỉ mà bà lão cận thị khẳng định là rất hợp, nhưng chẳng mấy chốc đã chạy trở lại, với một thông điệp cộc lốc và bực bội là nó không được, thêm nữa còn rất mủn! Rồi đến một phụ nữ xanh xao tiều tụy, chưa già nhưng hốc hác, mái tóc đã điểm vệt xám như những dải ruy băng bạc; thuộc kiểu phụ nữ vốn dĩ thanh tú, mà người ta lập tức nhận ra là bị lao lực cho đến chết bởi một người chồng vũ phu - có thể vừa vũ phu vừa say xỉn, và ít nhất có chín đứa con. Chị ta muốn mua mấy cân bột mì, và đưa tiền, bà lão quý phái sa sút từ chối, và đong quá lên cho con người tội nghiệp ấy. Sau đó không lâu một người đàn ông mặc áo thủy thủ xanh rách tả tơi bước vào mua một tẩu thuốc, trong lúc ấy hun cửa hàng bằng mùi rượu nồng nặc, không chỉ tỏa ra từ hơi thở nóng sực, mà bốc lên từ toàn bộ con người anh ta, như một thứ hơi đốt. Bà Hepzibah có cảm tưởng đây chính là chồng của người phụ nữ tiều tụy kia. Anh ta hỏi mua một gói thuốc lá, và khi bà lơ đễnh không chú ý, người khách thô lỗ vứt cái tẩu vừa mua xuống đất và rời cửa hàng, lẩm bẩm những lời khó hiểu, với ngữ điệu và sự hằn học của một câu chửi thề. Đến đây bà Hepzibah ngước mắt lên, cau có một cách vô thức với ông trời.

Tính đến trưa có ít nhất năm người hỏi bia gừng, hoặc bia nhẹ[4], hoặc bất cứ loại đồ uống nào tương tự, và khi không mua được loại nào thì đi ra với vẻ mặt hầm hầm. Ba người trong số họ để cửa mở, hai người còn lại đóng cửa hung hăng đến nỗi quả chuông nhỏ như tra tấn các dây thần kinh của bà Hepzibah. Một bà nội trợ béo tốt, hối hả, mặt đỏ phừng phừng nhà hàng xóm lao vào cửa hàng, lớn tiếng hỏi men làm bánh; và khi bà lão tội nghiệp, với kiểu nhút nhát lạnh lùng, giải thích cho vị khách nóng tính hiểu rằng bà không có mặt hàng đó, bà nội trợ táo tợn này chỉ trích thẳng thừng.

“Cửa hàng tạp hóa mà lại không có men!” Bà ta nhại lại; “Vậy coi sao được! Chưa bao giờ thấy chuyện thế này? Bánh mì của bà sẽ không bao giờ nở, y như cái bánh của tôi hôm nay. Tốt nhất bà đóng cửa hàng luôn đi.”

“À,” bà Hepzibah buông một tiếng thở dài, “có lẽ tôi nên làm thế!”

Ngoài trường hợp trên, sự nhạy cảm gia giáo của bà nhiều lần bị xúc phạm nặng nề bởi tông giọng quen thuộc, nếu không muốn nói là thô lỗ mà người ta nói với bà. Hiển nhiên họ coi mình không cùng đẳng cấp với bà, mà là khách hàng và bề trên của bà. Cho đến giờ, bà Hepzibah vẫn vô thức tôn vinh bản thân với ý nghĩ rằng sẽ có một luồng ánh sáng hoặc hào quang, hoặc cái gì đó đại loại, bao quanh bà, đảm bảo một sự tôn trọng đối với dòng dõi cao quý của bà, hoặc chí ít là một nhận thức ngầm về nó. Mặt khác, không gì hành hạ bà ghê gớm hơn khi nhận thức này được thể hiện quá công khai. Một hai người lắm chuyện bày tỏ niềm thông cảm, phản ứng của bà có phần gay gắt; và, chúng tôi rất tiếc phải nói rằng, bà Hepzibah đã rơi vào một tình trạng rất không hợp lẽ bởi mối nghi ngờ rằng một trong các khách hàng của bà đến cửa hàng không phải vì thực sự cần một thứ gì đó như họ tỏ ra, mà bởi mong muốn ác ý là săm soi bà. Kẻ khiếm nhã ấy quyết tâm xem thử một nhân vật quý tộc mốc meo trông ra làm sao, sau khi lãng phí tuổi xuân và gần hết tuổi xế chiều xa lánh thế giới, cuối cùng lại đứng sau một quầy hàng. Dù vào những lúc khác có thể máy móc và vô hại, nhưng trong trường hợp này vầng trán cau có của bà Hepzibah lại giúp ích cho bà.

“Đời tôi chưa bao giờ sợ hãi đến thế!” Người khách hàng tọc mạch nói, lúc kể lại vụ việc cho một người quen. “Bà ta đích thị là một mụ phù thủy già, tin tôi đi! Đúng là bà ta ít nói thật đấy, nhưng chỉ cần nhìn vào mắt bà ta là thấy ngay sự độc ác!”

Vì lẽ đó, trải nghiệm mới đã đưa người phụ nữ quý tộc sa sút của chúng ta tới một kết luận rất bất bình đối với tâm tính và cung cách của những người mà bà coi là tầng lớp dưới, từ trước đến nay vẫn bị bà nhìn xuống bằng sự ân cần lịch sự và thương hại, trong khi bà bận rộn với một thế giới chắc chắn là thượng đẳng hơn. Nhưng rủi thay, bà cũng phải đấu tranh với một thứ cảm giác cay đắng trái ngược: chúng tôi muốn nói tới sự đa cảm độc hại đối với tầng lớp quý tộc ăn không ngồi rồi mà mới đây bà còn lấy làm kiêu hãnh được thuộc về nó. Khi một người phụ nữ quý phái, trong bộ đồ mùa hè tao nhã và đắt tiền, với tấm mạng che phơ phất và chiếc váy đung đưa duyên dáng, cùng với dáng điệu thanh thoát khiến người ta phải nhìn xuống đôi chân mang giày xinh đẹp của cô để xem cô bước trên mặt đất hay lơ lửng trong không khí, - khi một hình bóng như thế tình cờ đi qua con phố hẻo lánh này, khiến cho nó thoảng hương thơm nhẹ nhàng và huyễn hoặc theo bước chân cô, như thể cô mang một bó hoa hồng trà, e rằng vẻ cau có của bà Hepzibah không thể đổ hết cho tật cận thị được nữa.

“Tại sao chứ,” bà nghĩ, trút ra cảm xúc thù địch của mặc cảm nghèo khó trước sự hiện diện của một người giàu, “tại sao ông trời sáng suốt lại để cho người phụ nữ đó sống trên đời? Cả thế giới ắt phải lao động cực nhọc để đôi bàn tay cô ta được giữ gìn trắng trẻo và thanh tú?”

Rồi, xấu hổ và ăn năn, bà che mặt lại.

“Xin Chúa tha thứ cho con!” Bà nói.

Chắc chắn là Chúa tha thứ cho bà. Nhưng, ngẫm đi ngẫm lại về nửa ngày đầu tiên này, bà Hepzibah bắt đầu sợ rằng cửa hàng sẽ chứng tỏ sự sụp đổ ý thức đạo đức và tôn giáo của bà, mà chẳng cải thiện được chút nào hoàn cảnh hiện thời của bà.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne