Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 423 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương II
cánh cửa sổ nhỏ trong cửa hàng

Còn nửa giờ nữa mặt trời mới mọc, khi bà Hepzibah Pyncheon - chúng ta sẽ không nói tỉnh giấc, vì chẳng biết người phụ nữ tội nghiệp có nhắm mắt trong cái đêm ngắn ngủi giữa mùa hè hay không - nhưng, dù sao cũng nhỏm dậy khỏi chiếc gối đơn, và bắt đầu cái mà sẽ bị nhạo báng nếu gọi là trang điểm. Sẽ thật khiếm nhã nếu chúng ta, kể cả trong tưởng tượng, hiện diện ở chốn riêng tư của phụ nữ! Vì vậy câu chuyện của chúng ta phải chờ bà Hepzibah ở ngưỡng cửa phòng bà, trong thời gian ấy chỉ mạo muội chú ý tới vài tiếng thở dài nặng nề phát ra từ lồng ngực bà, với rất ít kìm nén độ sâu bi thảm và âm thanh của nó, bởi chẳng một ai nghe thấy chúng trừ kẻ vô hình là chúng ta đây. Người phụ nữ già ở một mình trong ngôi nhà cũ. Một mình, trừ một chàng thanh niên đứng đắn và chỉn chu, một nghệ sĩ chụp ảnh daguerreotype, người ba tháng trở lại đây đã làm khách trọ trong một đầu hồi hẻo lánh, - giống như bản thân ngôi nhà - với những khóa, then, và thanh chặn bằng gỗ sồi trên tất cả các cửa ngăn. Bởi vậy không thể nghe thấy những tiếng thở ồn ào của bà Hepzibah. Không thể nghe thấy tiếng khớp xương kêu lục cục ở đầu gối cứng đơ của bà, khi bà quỳ xuống bên thành giường. Và cũng không thể nghe bằng đôi tai trần tục, mà phải bằng tình yêu và thương cảm bao la trên thiên đường xa tắp, bài cầu nguyện gần như đau khổ lúc thì thầm, lúc rên rỉ, lúc im lặng nhọc nhằn - để bà van xin thánh thần giúp bà qua được ngày hôm nay! Rõ ràng đây sẽ là một ngày đầy gian nan như thường lệ đối với bà Hepzibah, trong hơn một phần tư thế kỷ qua, đã sống âm thầm, không tham gia vào đời sống, ít giao thiệp và vui chơi. Những lời cầu nguyện tha thiết của con người ẩn dật mệt mỏi chỉ là mong chờ sự êm đềm lạnh lẽo, âm u, uể oải của một ngày sẽ giống vô số ngày đã qua.

Bài kinh cầu của người phụ nữ kết thúc. Bây giờ bà sẽ đi qua ngưỡng cửa câu chuyện của chúng ta chứ? Chưa đâu, từ từ. Trước hết, mọi ngăn kéo trong cái tủ com mốt lỗi thời cần được mở, bằng một cách khó khăn, và sau vài lần kéo giật thành công, tất cả lại phải đóng vào, với sự miễn cưỡng giằng co tương tự. Có tiếng sột soạt của những lớp lụa cứng, tiếng bước chân đi tới đi lui trong căn phòng. Chúng tôi phỏng đoán bà Hepzibah sắp bước lên một chiếc ghế, để quan sát vẻ bề ngoài của mình ở mọi phía, toàn thân, trước một tấm gương hình bầu dục, đóng khung xỉn màu, treo phía trên chiếc bàn. Quả đúng như vậy! Người ta ắt sẽ nghĩ thế! Chẳng phải toàn bộ thời gian quý giá này nên đổ vào việc tu sửa và trang điểm buổi sáng của một người có tuổi, chưa bao giờ ra nước ngoài, chưa từng có ai tới thăm, và khi nỗ lực của bà hoàn thành, cách nhân từ nhất là chuyển ánh mắt ta đi nơi khác sao?

Lúc này bà sắp xong rồi. Chúng ta hãy cho bà thêm chút thời gian, nó dành cho phút đa cảm duy nhất, nói thế thì đúng hơn, - nỗi xúc động dâng cao và bộc phát bởi đau khổ và cô độc, - đối với niềm đam mê mãnh liệt của cuộc đời bà. Chúng ta nghe thấy tiếng chìa khóa xoay trong một chiếc ổ nhỏ, bà vừa mở một ngăn kéo bí mật của một chiếc bàn giấy, và có lẽ đang nhìn vào một bức tiểu họa, được thực hiện theo phong cách hoàn hảo nhất của Malbone, thể hiện một khuôn mặt vô cùng thanh tú bằng bút chì. Chúng ta thật may mắn khi được chiêm ngưỡng bức họa này. Đó là chân dung một chàng trai trẻ, khoác chiếc áo choàng lụa mặc nhà kiểu xưa, màu sắc mềm mại của nó rất phù hợp với vẻ mặt mơ màng, với đôi môi đầy đặn dịu dàng, và đôi mắt đẹp dường như chẳng chất chứa nhiều điều suy tư, mà vui tươi nhàn nhã. Chủ nhân của nét mặt ấy chúng ta không được quyền hỏi đến, trừ phi anh ta chấp nhận thế giới nghiệt ngã một cách ung dung, và khiến bản thân hạnh phúc đắm chìm trong nó. Có thể đó là một người tình khi xưa của bà Hepzibah chăng? Không, bà chưa bao giờ có một người tình thật tội nghiệp, làm sao bà có được? - cũng chưa bao giờ biết, bằng kinh nghiệm bản thân, rằng tình yêu là gì. Tuy nhiên niềm tin vĩnh viễn của bà, hồi ức tinh khôi của bà, và sự tận tâm bền bỉ của bà đối với nguyên mẫu của bức họa đó, là dưỡng chất duy nhất cho trái tim của bà.

Hình như bà đã đặt bức tranh sang bên, và lại một lần nữa đứng trước gương. Có những giọt nước mắt được lau đi. Thêm mấy bước chân tới lui, và đây, cuối cùng cũng tới, - với một tiếng thở dài đáng thương nữa, như một cơn gió lạnh lẽo ẩm ướt phả ra từ một hầm mộ đóng kín bao năm, cánh cửa lắp ngẫu nhiên của nó hé mở - bà Hepzibah Pyncheon xuất hiện! Bà bước ra hành lang vẫn lờ mờ tối; một bóng người cao gầy, trong bộ trang phục lụa đen, với phần eo dài và rúm ró, dò dẫm đi tới cầu thang như một người cận thị, và đúng là như thế.

Trong lúc đó, mặt trời, nếu chưa mọc thì cũng sắp sửa nhô lên rồi. Vài áng mây bồng bềnh trên cao, bắt được tia sáng sớm nhất, liền dội ánh vàng của nó vào cửa sổ của mọi ngôi nhà trên phố, không quên ngôi nhà bảy đầu hồi, nơi đã chứng kiến bao buổi bình minh, lúc này nom thật vui tươi. Ánh sáng phản chiếu soi rõ vẻ ngoài vào cách bố trí của căn phòng bà Hepzibah bước vào, sau khi xuống cầu thang. Đó là một căn phòng thấp, với một thanh dầm chạy ngang trần, ốp gỗ tối màu, và có một bệ lò sưởi lớn, khảm gạch men xung quanh, nhưng giờ bị chặn bằng một tấm sắt, thông với ống khói của một cái bếp hiện đại. Có một tấm thảm trải dưới sàn, ban đầu dày dặn lắm, nhưng những năm sau này mòn xơ và bạc phếch khiến hoa văn một thời rực rõ biến thành một màu không xác định nổi. Về đồ đạc, có hai cái bàn: cái thứ nhất được đóng hết sức phức tạp và phô ra lắm chân như một con rết; cái thứ hai được chế tác hết sức thanh nhã, với bốn chân dài và thanh mảnh, mỏng manh đến nỗi gần như không thể tin nổi một mặt bàn trà kiểu cổ đã ngự trên chúng bao nhiều năm. Một nửa tá ghế rải rác quanh phòng, thẳng đơ và cứng nhắc, chúng được thiết kế thật tài tình cho sự khó chịu của con người đến mức chỉ nhìn thôi đã ngứa mắt, và truyền tải tư tưởng xấu xí nhất có thể của tình trạng xã hội mà chúng được lắp đặt. Tuy nhiên có một ngoại lệ, ở một chiếc ghế tựa rất cổ, lưng cao, chạm trổ tinh xảo bằng gỗ sồi, với hai tay ghế khoét sâu, để lấy không gian phóng khoáng của nó bù lại cho việc thiếu nghiêm trọng những đường cong nghệ thuật ở một cái ghế tân thời.

Về những món đồ trang trí, chúng tôi nhớ có hai cái, nếu có thể gọi chúng là đồ trang trí. Một là tấm bản đồ lãnh thổ của gia tộc Pyncheon ở phía đông, không phải bản khắc gỗ, mà là sản phẩm của một ông thợ vẽ khéo tay, và được minh họa một cách kệch cơm bằng hình ảnh những người da đỏ và thú dữ, trong đó thấy được một con sư tử cùng lịch sử tự nhiên của vùng đất được hiểu biết rất sơ sài về mặt địa lý, được vẽ ra theo trí tưởng tượng lệch lạc nhất. Món đồ còn lại là bức chân dung đại tá Pyncheon, lấy hai phần ba khổ người, thể hiện những đường nét khắc nghiệt của một tín đồ Thanh giáo, đội chiếc mũ chỏm, cổ áo viền đăng ten và bộ râu lốm đốm bạc; một tay cầm quyển Kinh Thánh còn tay kia giơ một thanh kiếm sắt. Món thứ hai, được miêu tả thành công hơn bởi một nghệ sĩ, nổi bật nhờ vị trí hơn là mức độ thiêng liêng của nó. Đối diện với bức tranh, trên đường đi vào phòng, bà Hepzibah chợt dừng bước, nhìn nó với một vẻ cau có đặc biệt, vầng trán nhăn lại kỳ lạ mà những ai không biết rõ bà ắt sẽ hiểu thành vẻ giận dữ cay đắng và thù nghịch. Nhưng không phải vậy. Thực ra bà cảm thấy một niềm tôn kính đối với bộ mặt trong tranh, mà chỉ một hậu duệ nhiều đời và là một trinh nữ già mới có thể xúc động như thế. Vẻ cau có khó chịu này là kết quả tự nhiên từ tật cận thị của bà, và một nỗ lực để tập trung hết thị lực nhìn rõ đường nét của bức tranh thay vì một hình ảnh mờ ảo.

Chúng ta phải nán lại ít phút ở biểu cảm không thích hợp của vầng trán bà Hepzibah. Vẻ cau có của bà, - vì thế gian, hoặc một phần của nó đôi khi thoáng bắt gặp bà bên khung cửa sổ, liền khăng khăng một cách ác ý gọi như thế, - vẻ cau có của bà phù hợp với vị trí hiu hắt của bà, trong việc thiết lập tính cách một bà cô già khó tính cũng có vẻ như thế, bằng việc thường xuyên nhìn mình trong tấm gương mờ, và liên tục trông thấy vẻ nhăn nhó của mình qua cái hình cầu ma quái của nó, bà đâm diễn giải biểu cảm ấy một cách bất công giống như người ngoài. “Trông mình khốn khổ làm sao!” Hẳn bà thường xuyên thì thầm với chính mình và cuối cùng nghĩ rằng bản thân đúng là như vậy, bằng một cảm giác bất hạnh không thể tránh được. Nhưng trái tim bà chưa bao giờ cau có. Bản chất của nó là mong manh, nhạy cảm, chứa đầy rung động và hồi hộp, tất cả những yếu đuối nó giữ lại, trong khi vẻ mặt bà ngày càng trở nên khắc nghiệt, thậm chí dữ tợn. Bà Hepzibah cũng không có bất cứ sự táo bạo nào, trừ cái đến từ một góc ấm áp nhất trong tình cảm của bà.

Tuy nhiên lúc này chúng ta đang lảng vảng một cách nhút nhát trên ngưỡng cửa của câu chuyện. Thực tế là chúng ta đang cực kỳ lưỡng lự không dám phơi bày việc bà Hapzibah sắp làm.

Ta đã thấy ở tầng trệt của đầu hồi trông ra đường, một vị tổ tiên đáng khinh, gần một thế kỷ trước, đã mở một cửa hàng. Kể từ khi ông già đó ngừng kinh doanh, và ngủ yên dưới nắp quan tài, không chỉ cánh cửa của cửa hàng, mà vật dụng bên trong, được giữ nguyên không thay đổi. Bụi thời gian bám dày cả tấc trên các giá và kệ, lấp gần kín cái cân cũ, như thể nó đáng giá để được cân xứng. Nó cũng nghênh ngang như thế trong cái ngăn kéo để mở, nơi vẫn còn một đồng sáu xu, cũng chẳng đáng giá hơn lòng kiêu hãnh di truyền bị nhấn chìm ở đây. Tình trạng này của cửa hàng là ký ức tuổi thơ của bà Hepzibah, nơi bà và anh trai chơi trò trốn tìm trong không gian bị bỏ rơi của nó. Nó đã giữ nguyên như thế, cho đến mấy ngày vừa qua.

Nhưng hiện giờ, mặc dù cửa sổ cửa hàng vẫn che rèm kín mít khỏi ánh mắt bên ngoài, một sự thay đổi lớn đã diễn ra bên trong. Những dải mạng nhện chăng kín, do công sức lao động của biết bao đời nhện nhả tơ và dệt nên, đã được quét sạch sẽ khỏi trần nhà. Quầy, kệ, sàn đều được cọ rửa, riêng sàn nhà còn được rắc cát xanh sạch. Cái cần màu nâu hiển nhiên cũng đã trải qua một sự hành hạ nghiêm khắc, trong một nỗ lực vô ích nhằm chà sạch bụi, thứ, hơi ôi! đã ăn mòn nó. Cửa hàng nhỏ cũ kỹ cũng không còn trống không hàng hóa. Một con mắt tò mò, được quyền ghé vào và dò la đằng sau quầy, ắt sẽ phát hiện một cái thùng, à, hai hoặc ba cái thùng và một cái na ná như vậy, - một cái đựng bột mì, một cái đựng táo, cái thứ ba có lẽ là bột thô của Ấn Độ. Còn có một hộp vuông bằng gỗ thông, chứa đầy xà phòng bánh; còn một hộp nữa kích thước tương đương, bên trong là nến bằng mỡ động vật, mười cái nặng một pound. Một cái kho nhỏ cất đường nâu, ít đậu trắng và đậu Hà Lan tách đôi, vài món hàng giá rẻ khác, đều là loại thiết yếu, chiếm vị trí cồng kềnh hơn. Có khi tưởng nhầm đó là hình ảnh ma quái hay ảo ảnh của những kệ hàng xơ xác của ông chủ hiệu Pyncheon, nếu không có một số món hàng trông bên ngoài khó mà tin nó có ở thời đại của ông ta. Ví dụ một lọ dưa chuột muối bằng thủy tinh, đựng những mảnh đá của núi Gibraltar, không phải những mẩu vụn của cái nền đá thực sự của pháo đài nổi tiếng, mà là những viên kẹo ngon lành, gói kín trong giấy trắng. Ngoài ra còn thấy Jim Crow đang thực hiện điệu nhảy lừng danh của mình trên chiếc bánh gừng. Một toán kỵ binh đang phi ngựa dọc theo một kệ hàng, trang bị và quân phục hiện đại; có một số nhân vật bằng đường, trong không giống con người ở bất cứ kỷ nguyên nào, mà mang phong cách thời trang của chúng ta hơn là những người của một trăm năm trước. Một hiện tượng khác, còn hiện đại hơn, là một bao diêm, nếu ở thời xưa ắt nó sẽ bị coi là lấy lửa ở ngôi đền Tophet.

Nói tóm lại, rõ ràng có ai đó đã tiếp quản cửa hàng và các vật dụng của ông Pyncheon đã nghỉ hưu và bị quên lãng từ lâu, và sắp khôi phục công việc buôn bán của vị tiền nhân quá cố ấy, với một tệp khách hàng khác. Kẻ phiêu lưu dùng cảm này có thể là ai? Và, trong tất cả mọi nơi trên thế giới, tại sao anh ta lại chọn ngôi nhà bảy đầu hồi làm mặt bằng kinh doanh?

Chúng ta quay lại với người phụ nữ già. Sau cùng bà đã rời mắt khỏi vẻ mặt u ám trên bức chân dung của đại tá, trút một tiếng thở dài, - quả là vậy, sáng hôm ấy lồng ngực bà như một cái hang của thần gió Aolus, - và nhón chân đi qua căn phòng, dáng đi quen thuộc của người phụ nữ già. Băng qua một lối đi ở giữa, bà mở một cánh cửa thông với cửa hàng, vừa được miêu tả kỹ lưỡng. Nhờ có chỗ nhô ra của tầng hai – cùng với bóng rợp dày đặc của cây du Pyncheon, mọc gần như trực diện với đầu hồi phía trước - tầm chạng vạng ở đây còn giống ban đêm hơn là sáng sớm. Một tiếng thở dài nữa phát ra từ bà Hepzibah! Sau khi dừng lại một lát nơi ngưỡng cửa, nhìn ra cửa sổ bằng vẻ cau có cận thị, như đang nhíu mày với một kẻ thù nào đó, bà bỗng đi thẳng vào cửa hàng. Dáng vội vã, như có một thôi thúc kích động, thật đáng ngạc nhiên.

Một cách hấp tấp - chúng ta gần như có thể nói là một dạng điên cuồng - bà bắt đầu bận rộn sắp xếp mấy món đồ chơi trẻ con, và những món hàng lặt vặt khác, trên kệ và ở cửa sổ cửa hàng. Trên khuôn mặt già nua quý phái, xanh xao chìm trong bóng tối này có một nét bi thảm tương phản gay gắt với cái vụn vặt lố bịch trong công việc của bà. Có vẻ bất thường lạ lùng khi một người quá héo hắt và u sầu lại cầm một món đồ chơi trên tay, điều kỳ diệu là nó không biến mất trong bàn tay nắm chặt của bà, làm sao bà phải hành hạ bộ não cứng nhắc và trì trệ của mình với câu hỏi làm thế nào để lôi kéo những cậu bé vào cửa hàng của mình chứ! Song chắc chắn đó là mục tiêu của bà. Lúc này bà đặt một chiếc bánh gừng hình con voi lên cửa sổ, nhưng động tác quá lóng ngóng khiến nó rơi xuống sàn, rời ba cái chân và thân mình ra, nó không còn là một con voi nữa, mà trở thành mấy mẩu bánh gừng lấm bẩn. Rồi bà lại đánh đổ một cốc bi, chúng lăn theo đủ mọi hướng, mỗi viên bị, như có quỷ dẫn đường, lăn vào những góc khó tìm nhất. Xin Chúa giúp bà Hepzibah đáng thương, và tha thứ cho chúng ta đã chứng kiến tư thế buồn cười của bà! Khi khung người cứng đơ han gỉ của bà phải gập xuống bò trên hai bàn tay và đầu gối, truy tìm những viên bị lẩn trốn, hẳn là chúng ta cảm thấy muốn rơi nước mắt vì thương cảm, trừ một sự thật là chúng ta phải quay mặt đi để cười. Vì đây, - và nếu chúng ta không thể đem lại một ấn tượng phù hợp cho người đọc, đó là lỗi của chúng ta, không phải của chủ đề, đây là một trong những điểm chân thực nhất của niềm thích thú u sầu xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Nó là cơn giãy giụa cuối cùng của cái tự xưng là trâm anh thế phiệt lâu đời. Một phụ nữ quý phái - người từ bé đã nuôi dưỡng bản thân bằng món ăn ảo ảnh của những hồi ức vàng son, và mang niềm tin rằng bàn tay của một quý cô sẽ bị vấy bẩn vĩnh viễn nếu làm việc gì đó để kiếm miếng ăn, - quý cô đích thực này, sau sáu mươi năm thu hẹp tài sản, đành phải bước xuống khỏi cái bệ địa vị tưởng tượng. Sự bần cùng, bám đuổi bà suốt cuộc đời, cuối cùng đã bắt được bà. Bà phải kiếm ăn, không thì chết đói! Và chúng ta vừa nhìn trộm bà Hepzibah Pyncheon, một cách hết sức bất kính, vào đúng khoảnh khắc người phụ nữ tôn quý bị biến thành một phụ nữ bình dân.

Ở đất nước cộng hòa này, giữa những làn sóng biến động trong đời sống xã hội, luôn có người nào đó sắp chết đuối. Bi kịch được diễn đi diễn lại không khác gì một vở kịch được yêu thích vào kỳ nghỉ, song có lẽ càng thấm thía khi một nhà quý tộc dòng dõi chìm xuống dưới cấp bậc của mình. Còn thấm thía hơn vì với chúng ta, địa vị là dương chất béo ngậy của giàu sang và cơ ngơi tráng lệ, và không có sự tồn tại về tinh thần sau cái chết của những thứ ấy, mà tiêu tan theo chúng. Vì lẽ đó, khi chúng ta đã không may giới thiệu nhân vật nữ chính vào thời điểm hết sức đen đủi,

chúng ta sẽ nài xin một tâm trạng long trọng xứng đáng ở những người quan sát số phận của bà. Hãy cho chúng ta thấy, ở bà Hepzibah tội nghiệp, thuở xa xưa, một quý cô - hai trăm năm tuổi, ở bờ bên này, và gấp ba lần ở bờ bên kia, – với những bức chân dung cổ, những phả hệ, huy hiệu, những giấy tờ và truyền thuyết, và đòi hỏi của bà, với tư cách là người thừa kế chung, đối với vùng lãnh thổ ở phía đông, không còn hoang vu, mà màu mỡ trù phú, - cũng sinh ra ở phố Pyncheon, dưới cây du Pyncheon, trong ngôi nhà Pyncheon, nơi bà sống cả cuộc đời ở đó, - đang sa sút dần. Bây giờ trong ngôi nhà ấy sẽ là bà chủ một hiệu tạp hóa.

Việc gây dựng cửa hàng tạp hóa này gần như là nguồn sống duy nhất của phụ nữ, trong những hoàn cảnh chẳng hề giống với nhân vật ẩn dật của chúng ta. Với tật cận thị, và những ngón tay run rẩy, đồng thời lại cứng nhắc và mảnh khảnh, bà không thể làm một thợ may, mặc dù mẫu thêu của bà, trong năm mươi năm qua, là một trong những mẫu thêu bí hiểm nhất của ngành thêu trang trí. Một trường học cho trẻ nhỏ đã thường trực trong suy nghĩ của bà, và có một dạo bà đã bắt đầu ôn lại những kiến thức đã học trong sách New England Primer, để chuẩn bị mở lớp học. Nhưng tình yêu với trẻ nhỏ chưa bao giờ khiến tim bà đập rộn ràng, và bây giờ còn uể oải, nếu không muốn nói là tắt hẳn. Bà quan sát lũ trẻ nhà hàng xóm qua cửa sổ phòng mình, và nghi ngờ liệu bà có thể chịu đựng một mối quan hệ thân thiết hơn với chúng không. Bên cạnh đó, vào thời chúng ta, kiến thức võ lòng đã trở thành một môn khoa học quá thâm thúy để mà dạy bằng cách chỉ một cái thước vào từng chữ cái. Một đứa trẻ thời nay có thể dạy bà Hepzibah nhiều hơn những gì bà có thể dạy nó. Cho nên – với bao nhiêu e sợ trước ý nghĩ phải tiếp xúc với thế giới trần tục, mà bà đã xa lánh quá lâu, trong khi mỗi một ngày ẩn dật lại vần thêm một tảng đá chặn cánh cửa trú thân của bà - con người tội nghiệp nhỏ ra cái cửa hàng cũ kỹ, cái cân han gỉ, và ngăn kéo phủ bụi. Lẽ ra bà có thể trì hoãn ít lâu nữa, nhưng một hoàn cảnh khác, tuy chưa hiện rõ, đã phần nào thúc đẩy bà đưa ra quyết định. Những sửa soạn xoàng xĩnh của bà vì thế được thực hiện, việc kinh doanh lúc này đã bắt đầu. Bà cũng không có quyền phàn nàn về bất cứ sự dị thường nào của số phận mình, bởi ở thị trấn nơi bà sinh ra, chúng ta có thể chỉ ra hàng loạt cửa hàng nhỏ tương tự, một số nằm trong những ngôi nhà cũng cổ kính như ngôi nhà bảy đầu hồi, có khi một hai cái, nơi một phụ nữ quý phái sa sút đứng sau quầy, còn mang niềm kiêu hãnh gia tộc bất diệt giống như bản thân bà Hepzibah Pyncheon.

Thật quá ư kỳ cục, - chúng ta phải thừa nhận như thế, cái bộ dạng của người phụ nữ trong lúc sắp xếp cửa hàng cho hợp mắt công chúng. Bà nhón chân đi tới cửa sổ, rón rén như thể có một tên côn đồ máu lạnh đang theo dõi mình từ sau cây du, với ý định lấy mạng bà. Vươn cánh tay dài gầy gò ra, bà đặt một gói giấy đựng nút áo ngọc trai, một chiếc đàn môi, hoặc có thể là bất cứ món đồ lặt vặt nào đấy, vào chỗ dành cho nó, và ngay lập tức lần trở vào bóng tối, cứ như thế giới không bao giờ mong thấy bà lần nữa. Có thể cho rằng bà muốn lặng lẽ chăm sóc cho cộng đồng, như một nữ thần hoặc một phù thủy kỳ quái, đưa ra các món hàng cho một người mua kính cẩn và khiếp sợ bằng bàn tay vô hình. Nhưng bà Hepzibah không mơ mộng hão huyền như thế. Bà biết rõ cuối cùng bà phải tiến về phía trước, và đứng phơi mình ra; nhưng, giống như những người nhạy cảm khác, bà không thể chịu nổi việc bị quan sát từng tí một, thà bà lập tức xông tới trước ánh mắt kinh ngạc của thiên hạ còn hơn. Giây phút không thể tránh được ấy không bị trì hoãn thêm quá lâu. Lúc này có thể thấy ánh nắng đang chiếu xuống trước nhà, một tia nắng phản chiếu từ các ô cửa sổ chật vật len qua các cành lá của cây du, và làm rạng rõ khung cảnh bên trong cửa hàng so với lúc trước. Thị trấn có vẻ đang thức giấc. Một chiếc xe chở bánh mì đã lắc lư chạy qua, xua đi vết tích cuối cùng của màn đêm huyền bí bằng tiếng chuông lanh canh hỗn loạn của nó. Một người giao sữa đang đặt những chai sữa lên bậc cửa từng ngôi nhà, và cả âm thanh chói tai từ vỏ ốc xà cừ của một thuyền chài văng vẳng vọng đến qua góc phố. Không một tín hiệu nào thoát khỏi sự chú ý của bà Hepzibah. Thời khắc đã tới. Trì hoãn lâu hơn sẽ chỉ kéo dài nỗi khổ của bà mà thôi. Hãy hạ thanh chặn cửa xuống, mở rộng lối vào, chào đón - như thể tất cả đều là bạn bè thân quen - mọi khách qua đường, những người có thể bị thu hút bởi những món hàng trên cửa sổ. Bà Hepzibah cuối cùng cũng làm việc này, thanh chặn cửa rơi xuống với một tiếng loảng xoảng đột ngột đập vào những dây thần kinh căng thẳng của bà. Rồi - như thể chướng ngại duy nhất giữa bà và thế giới đã sập, và một cơn lũ những hậu quả ghê gớm sẽ tràn vào qua lỗ hổng - bà chạy vào phòng trong, gieo mình xuống chiếc ghế tựa gia truyền, và khóc nức nở.

Bà Hepzibah đáng thương của chúng ta! Đó là một nỗi phiền muộn nặng nề đối với một nhà văn, người cố gắng lột tả cuộc sống, những thái độ và hoàn cảnh đa dạng của nó, trong một phác thảo tương đối chính xác và màu sắc chân thực, vì thế cảm xúc thương tâm và lố bịch buộc phải trộn lẫn với những cảm xúc tinh khiết nhất mà muốn mặt đời sống cung cấp cho anh ta. Chẳng hạn như lòng tự trọng bi thương có thể tạo ra một cảnh tượng như thế này! Làm sao chúng ta có thể háo hức với câu chuyện báo thù cho tội ác từ xa xưa, khi một trong những nhân vật nổi bật nhất, chúng ta buộc phải giới thiệu - không phải là một người phụ nữ trẻ trung đáng yêu, thậm chí không phải là một nhan sắc phai tàn vì đau khổ giằng xé - mà là một bà cô héo hắt, võ vàng, xương khớp rệu rã, trong chiếc váy lụa chít eo thấp, với một chiếc khăn đáng sợ quấn trên đầu! Nét mặt bà không quá xấu. Chỉ có điều đôi lông mày nhíu lại do cận thị thành một vẻ cau có. Và, cuối cùng, thử thách lớn của đời bà, sau sáu mươi năm ăn không ngồi rồi, bà phải kiếm miếng ăn bằng cách mở một cửa hàng tạp hóa. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào tất cả những sự giàu có thịnh vượng của con người, chúng ta sẽ thấy sự đan cài tương tự như vậy giữa khốn cùng và tầm thường với những cái cao quý nhất trong vui sướng và đau khổ. Cuộc sống được xây nên từ đá cẩm thạch và bùn lầy. Và, nếu không có niềm tin sâu sắc hơn vào một mối đồng cảm toàn diện vượt lên trên bản thân, chúng ta có thể đâm ra nghi ngờ sự sỉ nhục của một nụ cười nửa miệng, cũng như của một cái cau mày cố hữu, trên vẻ mặt sắt đá của số phận. Cái gọi là thấu hiểu chính là món quà của nhận thức, trong xã hội hỗn tạp này, vẻ đẹp và sự cao quý buộc phải khoác một bộ quần áo quá ư nhem nhuốc.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne