Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 421 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương I
nhà pyncheon ngày trước

Ở quãng giữa con đường nhỏ thuộc một trong các thị trấn của New England chỗ chúng tôi có một ngôi nhà gỗ bạc màu, với bảy đầu hồi nhọn hoắt, trông ra các hướng của con phố lượn vòng, và một ống khói lớn ở giữa. Con phố đó là phố Pyncheon, ngôi nhà là nhà Pyncheon cũ với một cây du, tỏa bóng rộng, mọc trước cửa, mà mọi đứa trẻ sinh ra trong thị trấn đều quen gọi là cây du Pyncheon. Trong những lần ít ỏi đến thị trấn, tôi khó lòng không rẽ vào phố Pyncheon, để được đi qua dưới bóng của hai di tích cổ, cây du lớn và tòa nhà dãi dầu mưa nắng.

Vẻ ngoài của tòa dinh thự cổ kính luôn gây cho tôi cảm giác như vẻ mặt của một con người, mang những vết tích không chỉ là gió bão bên ngoài, mà còn chất chứa một cuộc đời đằng đẳng, cùng với sự thăng trầm đã đi qua bên trong. Nếu những điều này đáng để kể lại, chúng sẽ là một bài tường thuật có tính hấp dẫn và bổ ích không nhỏ, và còn có sự thống nhất đáng chú ý, gần như là kết quả của sự sắp đặt nghệ thuật. Nhưng câu chuyện sẽ gồm một chuỗi các sự kiện trải dài qua hơn hai thế kỷ, và, nếu được viết ra với một biên độ hợp lý, sẽ lấp kín số lượng trang giấy lớn hơn, hoặc một tập sách khổ mười hai dài hơn những gì được thận trọng ghi trong sử sách của cả New England trong cùng giai đoạn. Do vậy nhất thiết phải tỉa cắt ngắn gọn hầu hết nội dung mà ngôi nhà Pyncheon cũ, còn được gọi là ngôi nhà có bảy đầu hồi, là chủ đề. Thế nên với một phác thảo sơ lược về hoàn cảnh ngôi nhà được đặt nền móng, và một cái nhìn lướt qua mặt ngoài kỳ lạ của nó, khi nó đen sạm đi trong cơn gió đông thường trực, thỉnh thoảng nhắm cả vào mấy mảng rêu xanh tươi hơn trên mái và tường, chúng ta sẽ bắt đầu câu chuyện này vào một thời kỳ không quá cách biệt với hiện tại hôm nay. Song sẽ có một sự liên hệ với quá khứ xa xưa móc nối với các sự kiện và nhân vật đã chìm vào quên lãng, với những cung cách, cảm xúc và quan điểm, hầu như hoặc hoàn toàn lỗi thời, những cái mà nếu được truyền đạt đầy đủ tới độc giả, sẽ chứng tỏ những chất liệu cũ có thể tạo nên một tác phẩm mới mẻ nhất về đời người. Do đó cũng có thể đưa ra một bài học ý nghĩa từ một sự thật ít được lưu tâm, rằng hành động của thế hệ trước là hạt mầm có thể và ắt hẳn sẽ kết thành trái ngọt hoặc đắng về lâu dài sau này; cùng với hạt giống của vụ thu hoạch đương thời, mà người ta cho là thiết thực, chắc chắn sẽ gieo nên một vụ mùa nặng hạt hơn, có thể phủ bóng đen lên con cháu đời sau.

Ngôi nhà có bảy đầu hồi, hiện giờ trông thật cổ xưa, không phải là ngôi nhà đầu tiên do con người văn minh dựng nên ở chính vị trí đó. Phố Pyncheon trước kia mang một danh xưng khiêm tốn hơn là ngõ Maule – tên của người cư ngụ ban đầu trên mảnh đất, trước cửa căn nhà tranh là một con đường cho bò đi. Một dòng suối tự nhiên có nước trong mát, kho báu hiếm hoi trên bán đảo mà người Thanh giáo định cư, đã xui khiến Matthew Maule dựng một ngôi nhà tranh, với mái lợp xù xì, song cũng có phần biệt lập với trung tâm ngôi làng hồi đó. Nhưng theo đà phát triển của thị trấn, sau ba mươi bốn mươi năm, mảnh đất có ngôi nhà đơn sơ này trở nên đáng khao khát trong mắt một nhân vật có tiếng tăm và quyền lực, người đòi quyền sở hữu hợp lệ mảnh đất và một khu đất liền kề, dựa trên một khế ước chuyển nhượng từ chính quyền. Đại tá Pyncheon, người đòi đất, theo mọi thông tin còn lại về ông ta mà chúng tôi thu thập được, là người có quyết tâm sắt đá. Mặt khác thì Matthew Maule, dù chẳng tiếng tăm gì, song rất cứng cỏi bảo vệ cái mình cho là đúng; và suốt mấy năm ròng, ông bảo vệ thành công mấy mẫu đất, cùng với sự lao động cần cù của bản thân, ông đã đốn hạ một khu rừng nguyên sinh, lấy đất canh tác và làm nhà ở. Giấy tờ về vụ tranh chấp không còn tồn tại. Hiểu biết của chúng tôi về toàn bộ vụ việc chủ yếu thu được từ truyền miệng. Vì thế thật liều lĩnh và có khi bất công khi đưa ra một ý kiến quả quyết tương xứng với giá trị của nó, dù rằng có vẻ như đó chỉ là nghi vấn. Liệu có phải sự đòi hỏi của đại tá Pyncheon đã bị thổi phồng quá đáng, nhằm xóa đi ranh giới đất đai của Matthew Maule. Thứ củng cố một mối nghi ngờ như thế là việc vụ tranh cãi giữa hai đối thủ không ưa gì nhau, hơn nữa lại ở một thời kỳ mà ảnh hưởng của một cá nhân lớn hơn nhiều so với bây giờ - dai dẳng bao năm không ngã ngũ, và chỉ kết thúc với cái chết của bên đang sống trên mảnh đất tranh chấp. Cách ông ta chết cũng có tác động khác hẳn đến con người ngày nay so với cách đây một thế kỷ rưỡi. Đó là cái chết làm hoen ố cái tên nghèo hèn của người ở trong ngôi nhà tranh kèm theo nỗi kinh hoàng kỳ lạ, và khiến nó gần như là một hành động sùng kính khi cày bừa qua nơi ở nhỏ hẹp của ông ta, xóa sạch sự hiện hữu và ký ức về ông trong dân chúng.

Ông già Matthew Maule, nói ngắn gọn, bị hành hình vì tội làm phép thuật phù thủy. Ông là một trong những người hi sinh vì sự lừa dối khủng khiếp đó. Điều đó dạy chúng ta, giữa những bài học khác, rằng tầng lớp có thế lực, và những kẻ tự cho mình là lãnh đạo, hoàn toàn có khả năng sa vào sai lầm cảm tính, là đặc điểm của đám đông điên loạn. Giáo sĩ, thẩm phán, quan chức, những nhân vật sáng suốt nhất, bình tĩnh nhất, thanh cao nhất vào thời của họ đứng trong vòng người vây quanh giá treo cổ, vỗ tay cổ vũ cái công việc đẫm máu, về sau thú nhận họ đã bị lừa gạt. Nếu có một phần nào trong những hành động của họ có thể được coi là ít tội hơn những phần khác, thì đó là sự khủng bố bừa bãi mà họ thực hiện, không chỉ với người nghèo và người già, như trong cuộc tàn sát nhân danh pháp luật trước kia, mà với con người thuộc đủ mọi tầng lớp; bạn bè họ, đồng đạo của họ, vợ con họ. Giữa sự hỗn loạn của cuộc hủy diệt, không có gì lạ khi một người đàn ông không đáng chú ý như Maule, ắt phải bước trên con đường tuần đạo dẫn lên đồi hành quyết mà đám đông những kẻ cùng khổ như ông hầu như không nhận thấy. Nhưng về sau, khi sự điên cuồng của giai đoạn ghê gớm ấy đã lắng xuống, người ta mới nhớ ra đại tá Pyncheon đã tham gia hô hào lớn tiếng làm sao, để làm thanh sạch mảnh đất khỏi tên phù thủy, cũng không khỏi có lời xì xào rằng có một sự gay gắt hằn học trong cách ông ta hăng hái tìm cách kết tội Matthew Maule. Rõ ràng nạn nhân đã nhận ra vị cay đắng của thù hằn cá nhân trong lối hành xử của kẻ hãm hại mình, và ông tuyên bố có chết cũng phải đòi lại món nợ. Vào giây phút hành hình, với thòng lọng tròng quanh cổ, và trong lúc đại tá Pyncheon ngồi trên lưng ngựa, chằm chằm quan sát cảnh tượng, thì Maule đã đưa mắt nhìn ông ta từ đoạn đầu đài, và thốt ra một lời tiên đoán, mà lịch sử cũng như lời truyền miệng trong nhà với nhau, đã lưu giữ từng từ. “Chúa,” người sắp chết nói, chỉ ngón tay, với một ánh mắt rùng rợn, vào vẻ mặt không nao núng của kẻ thù, “Chúa sẽ cho hắn máu để uống!”

Sau cái chết của người bị coi là phù thủy, cơ ngơi xoàng xĩnh của ông ta rơi gọn vào tay đại tá Pyncheon. Tuy nhiên khi hiểu ra đại tá định dựng lên một dinh thự riêng, rộng rãi, kết cấu chắc chắn bằng gỗ sồi, và tính toán để con cháu mấy đời sau vẫn ở được trên miếng đất có ngôi nhà gỗ cũ của Matthew Maule, nhiều người dân trong làng xì xầm lắc đầu. Không thể hiện rõ rệt mối nghi ngờ liệu người Thanh giáo vạm võ ấy có hành xử như một kẻ có lương tâm và chính trực trong vụ việc xảy ra hay không, song họ ngụ ý rằng ông ta sắp xây nhà trên một ngôi mộ không ngủ yên. Nhà ông ta sẽ bao gồm ngôi nhà của tên phù thủy đã chết và được chôn, do đó sẽ cho hồn ma của kẻ này đặc quyền lui tới những căn phòng mới, tới dãy buồng mà các chú rể tương lai sẽ dẫn cô dâu của họ vào, và là nơi trẻ con của nhà Pyncheon được sinh ra. Cái khủng khiếp và đáng sợ của tội ác của Maule, sự thương tâm của hình phạt dành cho ông ta, sẽ làm ố đen những bức tường vừa trát, ám vào chúng thứ mùi của một ngôi nhà cũ kỹ và u uất. Vậy thì tại sao giữa bao nhiều đất đai rải rác xung quanh với cây rừng nguyên sơ mà đại tá Pyncheon lại thích một mảnh đất đã bị nguyền rủa?

Nhưng người lính Thanh giáo và là một quan tòa không để cho âm mưu được cân nhắc kỹ lương của mình bị lung lay, bởi sự đe dọa của hồn ma phù thủy, hay mọi sự đa cảm hời hợt song chỉ là bề ngoài. Nếu bảo ông ta rằng nó có khí độc, có khi ông ta sẽ dao động đôi chút, nhưng ông ta sẵn sàng nghênh tiếp một linh hồn ma quỷ trên đất của mình. Được phú cho một lý trí vững chắc như những khối đá granite, kết dính bằng một quyết tâm cứng rắn như được móc bằng những chiếc móc sắt, ông ta theo đuổi kế hoạch ban đầu của mình, có lẽ chẳng nghĩ nhiều đến chuyện bị phản đối. Với sự sắc sảo và cẩn trọng có thể được tôi luyện bởi một tính cách nhạy bén, viên đại tá, giống như phần lớn dòng tộc của mình, cực kỳ bảo thủ. Thế nên ông ta đào hầm xây móng thật sâu, trên mảnh đất nơi Matthew Maule, cách đây bốn mươi năm, bắt đầu quét những chiếc lá rụng. Có một sự việc kỳ lạ, và theo nhiều người nghĩ đó là điềm gở, con suối đã kể ở trên mất hết vị ngọt mát ban đầu. Có phải nguồn nước của nó bị ô nhiễm bởi độ sâu của cái hầm mới đào, hay bất cứ nguyên nhân nào khó thấy hơn ẩn nấp dưới đáy, chắc chắn là nước của giếng Maule, như nó tiếp tục được gọi như vậy, ngày càng cứng và mặn. Ngay cả bây giờ chúng ta vẫn thấy thế; và những bà già láng giềng sẽ chứng nhận rằng nó gây ra bệnh đường ruột cho những ai làm dịu cơn khát của họ ở đó.

Độc giả có thể nghĩ thật lạ lùng khi thợ cả của dinh thự mới không ai khác lại là con trai của người mà cái chết của ông ta vẫn đeo bám theo mảnh đất bị cướp đoạt. Không loại trừ khả năng tay thợ giỏi nhất hồi đó, hoặc giả như đại tá nghĩ chuyện đó thiết thực, hoặc bị thúc đẩy bởi một tình cảm tốt đẹp hơn, nên khảng khái gạt bỏ mọi hận thù đối với hậu duệ của đối thủ đã ngã xuống, cũng không phải không có lý với tính cách thô lỗ và thực dụng của tuổi thanh niên, người con trai sẵn sàng kiếm một đồng tiền trung thực, hoặc đúng hơn là một món tiền kha khá từ ví kẻ thù của cha mình. Dù sao thì Thomas Maule đã trở thành kiến trúc sư của ngôi nhà có bảy đầu hồi, và thực hiện nhiệm vụ hết sức cần mẫn đến nỗi cái khung gỗ được bàn tay anh ghép lại vẫn còn chắc chắn.

Thế là ngôi nhà lớn mọc lên. Quen thuộc trong trí nhớ của người viết, vì nó là một đối tượng khiến anh ta tò mò từ thời thơ ấu, vừa là một mẫu vật tốt nhất vừa là một công trình kiến trúc hoành tráng nhất của một thời đại đã qua, và có lẽ vì quang cảnh các sự kiện khiến người ta hứng thú hơn quang cảnh một lâu đài phong kiến xám xịt, sừng sững thân thuộc trong lớp bụi thời gian, vì thế càng thêm khó hình dung sự tráng lệ khi nó lần đầu tiên đón ánh mặt trời. Ấn tượng về sự uy nghi thực sự của nó, ở khoảng cách một trăm sáu mươi năm này, chắc hẳn phải u ám qua hình ảnh nó vào buổi sáng khi người Thanh giáo giàu có ấy mời cả thị trấn đến làm khách. Một buổi lễ cúng tế, vừa hân hoan vừa mộ đạo, giờ đây được tổ chức. Một bài cầu nguyện và giảng đạo từ đức cha Higginson, và lời thánh ca dào dạt tuôn ra từ cổ họng của cộng đồng, được hoan nghênh bởi sự cảm thụ đã mụ mẫm vì bia, rượu táo, rượu nho và rượu mạnh chảy tràn như suối, và theo vài nhà chức trách xác nhận, bởi một con bò đực, nướng nguyên con, hoặc chí ít bởi trọng lượng và thực thể của một con bò đực, cơ xương vẫn dẻo dai. Thịt của một con hươu, bị bắn hạ trong bán kính hai mươi dặm, đã cung cấp nguyên liệu để làm một cái bánh thịt nướng khổng lồ. Một con cá tuyết nặng ngót nghét sáu mươi pound, được đánh bắt trong vịnh, tan ra trong thứ nước đậm đà của món hầm. Ống khói của ngôi nhà mới, tỏa mù mịt khói bếp, thấm đẫm không khí với mùi thịt gia súc, gia cầm, và cá, ướp các loại thảo mộc thơm và dồi dào hành. Chỉ riêng mùi của buổi lễ, len lỏi vào cánh mũi quan khách, đã đầy mời gọi và lôi cuốn.

Ngõ Maule, hay phố Pyncheon, như cách gọi trang trọng hơn ngày nay, đông nghịt người vào giờ giáo đoàn đi lễ nhà thờ. Khi tới gần, ai nấy đều ngước nhìn tòa dinh thự nổi bật, từ nay về sau nó có địa vị riêng trong hàng ngũ nhà ở của loài người. Nó vươn lên ở đó, hơi lùi khỏi lề con phố, nhưng trong vẻ kiêu hãnh chứ không khiêm nhường. Toàn bộ mặt ngoài của nó trang trí bằng những chi tiết độc đáo, thể hiện sự kỳ cục của thị hiếu Gothic, vẽ hoặc đắp nổi bằng lớp vữa lấp lánh, bao gồm vôi, đá cuội, và những mảnh thủy tinh, phủ lên phần gỗ của các bức tường. Bảy mặt đầu hồi vút lên trời nhọn hoắt, hít thở chung bằng một ống khói lớn, chứng tỏ tính gắn kết của ngôi nhà. Những lưới mắt cáo, với các ô nhỏ hình kim cương, đón ánh nắng vào sảnh và buồng phòng, song tầng hai, nằm cách xa mặt đất và thu mình bên dưới tầng ba, phủ ánh âm u và trầm mặc vào những căn phòng thấp hơn. Những quả cầu gỗ chạm trổ được gắn vào bên dưới các tầng nhô ra. Những thanh sắt nhỏ hình xoắn ốc tô điểm cho bảy chóp nhọn. Trên phần tam giác của đầu hồi đối diện con phố liền kề là một đồng hồ mặt trời, được lắp chính vào sáng hôm ấy, và mặt trời vẫn đánh dấu đường đi của tia sáng đầu tiên trong một lịch sử mang số phận không mấy sáng sủa. Xung quanh vương vãi vỏ bào, mạt gỗ, đá cuội, và gạch vỡ; những thứ này, cùng với đất mới đào xới, ở trên đó cỏ còn chưa kịp mọc, góp phần vào cái ấn tượng kỳ lạ và khác biệt thích hợp với một ngôi nhà chiếm được một vị trí trong các mối quan tâm của người ngoài.

Cửa chính, có bề rộng gần bằng cánh cửa nhà thờ, nằm ở góc giữa hai đầu hồi mặt trước, che bằng một mái hiên rộng, ngoài hiện kê các băng ghế dài. Lúc này dưới vòm cửa, lê giày qua ngưỡng cửa mới tinh là các giáo sĩ, trưởng lão, quan tòa địa phương, những người trợ tế, và mọi chức sắc quý tộc có trong thị trấn hoặc trong hạt. Những tầng lớp bình dân cũng xúm xít theo sau một cách thoải mái như tầng lớp trên họ, với số lượng đông đảo. Tuy nhiên ngay sau cửa có hai người hầu đứng sẵn, chỉ cho một số khách sang gian bếp và hướng dẫn những người khác vào các căn phòng bề thế hơn, mặc dù niềm nở với tất cả, nhưng vẫn có sự để ý chăm chú tới địa vị cao thấp của từng người. Những cổ áo xếp nếp cứng đo bằng vải nhung thẫm màu lộng lẫy, những đôi găng tay thêu, những bộ râu đáng kính, diện mạo và dáng vẻ của người có quyền thế, khiến người ta dễ dàng phân biệt một chức sắc tôn giáo, ở thời kỳ ấy, với người bán hàng, bộ dạng nặng nhọc, hay thợ hồ, trong chiếc áo chẽn bằng da thuộc, khép nép bước vào ngôi nhà mà có lẽ anh ta đã góp công xây nên.

Có một điềm chẳng lành làm dấy lên cảm giác bứt rứt khó che giấu trong ngực một số vị khách kỹ tính. Chủ nhân tòa dinh thự bề thế này - một quý ông đáng chú ý với phong thái nghiêm trang và bệ vệ, hẳn phải đứng trong đại sảnh, chào đón rất nhiều nhân vật lỗi lạc có mặt ở đây để ban vinh dự cho buổi lễ trọng thể của ông ta. Thế nhưng các vị khách quý chẳng thấy ông ta đâu. Sự chậm chạp này của đại tá Pyncheon càng trở nên khó hiểu, khi vị quan chức lớn thứ hai trong vùng xuất hiện, và không nhận được sự tiếp đón nào trịnh trọng hơn. Mặc dù chuyến viếng thăm của viên phó thống đốc là một trong những vinh hạnh đã được biết trước trong ngày, nhưng ông ta đã tự xuống ngựa, rồi đỡ vợ mình từ trên yên ngựa xuống, và bước qua ngưỡng cửa nhà đại tá, cũng chỉ có độc sự chào mừng của người nhà gia chủ. Người này - một người đàn ông tóc xám, lặng lẽ và kính cẩn - thấy cần phải giải thích rằng ông chủ của mình vẫn ở trong thư phòng, hoặc buồng riêng; trước khi vào đó một giờ trước ông đã dặn không muốn bị quấy rầy.

“Ngươi không thấy đây chính là ngài phó thống đốc sao?” Viên quận trưởng của hạt nói, gạt tên người hầu sang một bên, “Gọi đại tá Pyncheon ra ngay! Ta biết ông ta đã nhận được thư từ nước Anh vào sáng nay, có thể ông ta không để ý một giờ đã trôi qua. Nhưng ông ta hẳn sẽ không vui nếu ngươi khiến ông ta bỏ qua phép lịch sự với một trong những người trị vì của chúng ta, người có thể nói là đại diện cho vua William, vì ngài thống đốc vắng mặt. Đi gọi ông chủ của ngươi ngay lập tức.”

“Thưa ngài,” người đàn ông trả lời, hết sức lúng túng, nhưng với dáng vẻ chần chừ cho thấy tính cứng rắn và nghiêm khắc trong nội quy của đại tá Pyncheon, “mệnh lệnh của ông chủ tôi nghiêm ngặt lắm, ngài ấy không cho phép người hầu kẻ hạ làm trái lời mình. Ai muốn mở cánh cửa kia thì mở, chứ tôi không dám, dù chính ngài thống đốc bắt tôi làm đi nữa!”

“Chà chà, ngài quận trưởng!” Phó thống đốc kêu lên, nãy giờ đứng nghe cuộc tranh luận, và cảm thấy địa vị của bản thân đủ cao để can thiệp. “Tôi sẽ tự giải quyết vấn đề. Đã đến lúc ngài đại tá ra ngoài đón tiếp bạn bè rồi, bằng không chúng ta có thể đặt nghi vấn rằng ông ấy đã uống quá nhiều rượu Canary, trong sự thận trọng hết mực nhằm chọn được thùng rượu ngon nhất để khui trong ngày hôm nay! Nhưng ông ấy chậm chạp quá, tôi sẽ đích thân nhắc nhở ông ấy vậy!”

Nói đoạn, với tiếng nện nặng nề của đôi ủng cưỡi ngựa âm vang trong nơi biệt lập nhất của ngôi nhà bảy đầu hồi, ông ta tiến tới cánh cửa mà tên hầu chỉ, gõ mạnh vào ván cửa mới tinh. Rồi, nhìn xung quanh, nở nụ cười với các khán giả, ông ta chờ một lời đáp. Tuy nhiên chẳng có gì, ông ta gõ lần nữa, nhưng kết quả vẫn không tốt đẹp y như lần đầu. Và giờ, đã hơi bực mình, ngài phó thống đốc nhấc chuôi kiếm nặng của mình lên, dùng nó dộng vào cửa, mấy người đứng gần thì thào rằng âm thanh ấy có thể làm kinh động cả người chết. Dù thế nhưng xem ra nó chẳng đánh động được đến đại tá Pyncheon. Khi âm thanh đã tắt, sự im lặng trong ngôi nhà thật tịch mịch, ảm đạm, ngột ngạt, bất kể miệng lưỡi của nhiều vị khách đã bị thả lỏng bởi một hai cốc rượu uống lén.

“Lạ thật! Lạ quá!” Phó thống đốc thốt ra, nụ cười biến thành cái nhíu mày. “Nhưng vì chủ nhà đã làm gương cho chúng ta trong việc quên đi lễ mừng, tôi cũng sẽ gạt nó đi, và tự cho phép mình xâm phạm phòng riêng của ông ấy.”

Ông ta đẩy cánh cửa, nó chịu thua bàn tay ông ta, và mở tung bởi một cơn gió thình lình thổi qua, với một tiếng vi vu lớn, từ cánh cửa ngoài cùng qua tất cả hành lang và phòng ốc của ngôi nhà mới. Nó làm sột soạt lớp váy lụa của các quý bà quý cô, và đung đưa những lọn tóc giả của các quý ông, rung rèm cửa sổ và màn phòng ngủ, khiến khắp nơi khuấy động, ấy vậy lại giống như một sự nín lặng hơn. Bóng đen của một linh tính lo sợ và bất an - không ai biết vì sao, hay là cái gì – đã lập tức bao trùm quan khách.

Tuy nhiên họ vẫn đổ dồn về cánh cửa giờ đã mở, đẩy ngài phó thống đốc, trong nỗi háo hức do tò mò, vào trong phòng trước họ. Thoạt tiên mọi người không thấy có gì bất thường: một căn phòng được bài trí đẹp đẽ, kích thước vừa phải, lờ mờ tối bởi rèm che, những cuốn sách xếp trên giá, một tấm bản đồ lớn treo trên tường, và một bức chân dung cũng lớn như thế của đại tá Pyncheon, ngồi trong chiếc ghế gỗ sồi bên dưới chính là ngài đại tá, tay cầm bút. Thư từ, giấy da, và tập giấy trắng bày trên bàn trước mặt. Ông ta dường như đang nhìn thẳng vào đám đông hiếu kỳ, mà đứng đầu là ngài phó thống đốc với vẻ cau có trên bộ mặt ngăm đen thô ráp của ông ta, như thể rất bực bội vì bọn họ đã trơ tráo xông vào chốn riêng của mình.

Một thằng bé – cháu nội của đại tá, và là người duy nhất dám thân thiết với ông ta rẽ đám đông chạy tới người ngồi trên ghế, nhưng rồi khựng lại giữa chừng, nó bắt đầu thét lên kinh hãi. Đám đông, hết thảy run lẩy bẩy như lá trên cành, tiến lại gần hơn, và nhận ra có một sự méo mó bất thường trong ánh nhìn chòng chọc của đại tá Pyncheon - máu trên cổ áo xếp nếp của ông ta, thấm đẫm bộ râu bạc. Đã quá muộn để cứu vãn được gì. Con người Thanh giáo cứng rắn, kẻ khủng bố tàn nhẫn, người đàn ông tham lam và mạnh mẽ đã chết! Chết, trong ngôi nhà mới của mình! Có một lời truyền miệng, bóng gió điểm một nỗi sợ đầy mê tín dị đoan vào cảnh tượng vốn đã đủ u ám, rằng một tiếng nói đã cất lên rành rọt giữa các khách khứa, giọng rất giống giọng ông già Matthew Maule, phù thủy bị hành hình - “Chúa sẽ cho hắn máu để uống!”

Vậy là một người khách - người duy nhất, vào lúc này hay lúc khác, chắc chắn sẽ tìm đến nhà của tất cả mọi người, - vậy là Thần Chết đã bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà có bảy đầu hồi! Cái chết đột ngột và bí ẩn của đại tá Pyncheon gây xôn xao lớn vào hồi ấy. Có nhiều lời đồn đại, một số còn lay lắt đến bây giờ, về những dấu vết bạo lực, rằng có những dấu ngón tay trên cổ họng ông ta, và hình một bàn tay máu trên cổ áo xếp nếp, còn bộ râu nhọn của ông ta rối bù, như thể nó đã bị túm và giật một cách dữ dội. Người ta cũng xác nhận rằng cửa sổ lưới mắt cáo gần ghế ngồi của đại tá đã bị mở, và chỉ vài phút trước khi xảy ra sự việc, có người đã thấy một bóng đàn ông trèo qua hàng rào khu vườn sau nhà. Nhưng thật nực cười khi áp đặt bất kỳ ý nghĩa nào vào những câu chuyện kiểu này, chắc chắn nó sẽ tạo nên một sự kiện được kể tới tận ngày nay, và như trong trường hợp hiện tại, có khi còn kéo dài đến mấy thập kỷ sau, như những cây nấm độc chỉ chỗ một khúc cây đổ bị chôn vùi và mủn ra trong lòng đất từ lâu. Về phần mình, chúng ta chỉ cho phép bản thân tin một chút vào một truyền thuyết khác, về bàn tay xương xẩu mà người ta bảo viên phó thống đốc đã trông thấy trên cổ họng đại tá, nhưng nó đã biến mất ngay khi ông ta tiến sâu hơn vào trong phòng. Tuy nhiên chắc chắn có một cuộc thảo luận và tranh cãi sôi nổi của các bác sĩ về cái xác. Một bác sĩ, tên là John Swinnerton, hình như là người đức cao vọng trọng, đã khẳng định, nếu như chúng ta hiểu đúng những thuật ngữ chuyên môn của ông ta, đó là một ca đột quỵ. Các đồng nghiệp của ông đưa ra đủ loại giả thuyết, ít nhiều đều có lý, nhưng hết thảy đều khoác những từ ngữ huyền bí rối rắm, nếu nó không biểu hiện một tâm trạng lúng túng ở những thầy thuốc uyên bác này, hẳn sẽ khiến người ta nghĩ họ không học đến nơi đến chốn. Bồi thẩm đoàn khám nghiệm xác chết, và, đúng là những người nhạy bén, đưa ra lời phán quyết không thể bác bỏ là “Chết Đột Ngột!”

Quả thực khó hình dung nếu có thể xảy ra một nghi án giết người nghiêm trọng, hay có lý do nhỏ nhất dính líu đến một cá nhân là thủ phạm. Địa vị, sự giàu có, và tư chất xuất chúng của người chết ắt đảm bảo cho một cuộc xem xét kỹ lưỡng vào mọi hoàn cảnh mơ hồ. Vì chẳng có gì được ghi chép lại, tốt hơn là cứ cho rằng nó không tồn tại. Lời truyền miệng đôi khi đưa ra sự thật mà lịch sử lướt qua, nhưng thường thường chỉ là tiếng rì rầm vu vơ của thời gian, như câu chuyện phiếm bên lò sưởi ngày trước và bây giờ đóng băng trên báo chí, lời truyền miệng chịu trách nhiệm cho tất cả những khẳng định trái ngược nhau. Trong bài điếu văn ở đám tang đại tá Pyncheon, được in lại, và hiện vẫn còn, đức cha Higginson đã liệt kê ra, giữa bao nhiêu niềm hạnh phúc trong cuộc đời người giáo dân xuất sắc của ông, tính hợp lý mãn nguyện của cái chết của ông ta. Những nhiệm vụ của ông ta đều đã hoàn thành, cả sự thành đạt đã tột bậc, con cháu đời sau của ông ta đã có nền tảng ổn định, với một mái nhà vững chắc che chở họ trong những thế kỷ tới, còn nấc thang nào nữa cho con người tài giỏi này bước lên, trừ nấc thang cuối cùng từ mặt đất lên cánh cổng vàng của thiên đường! Vị giáo sĩ sùng đạo ắt sẽ không thốt ra những lời thế này nếu ông ta có chút mảy may nghi ngờ ngài đại tá đã bị ném sang thế giới khác với cái cổ họng bị bóp nghiến.

Gia đình đại tá Pyncheon, trước cái chết của ông ta, dường như được định sẵn một số phận may mắn vốn chẳng hề phù hợp với sự thăng trầm thường trực của đời người. Có thể thấy trước thời gian sẽ bồi đắp và làm chín muồi sự thịnh vượng của họ, hơn là bào mòn và phá hủy nó. Vì con trai và là người thừa kế của ông ta không chỉ thừa hưởng trực tiếp một món tài sản kếch xù, mà còn có quyền khai thác thông qua một chứng thư, được xác nhận bằng một khế ước sau đó của tòa sơ thẩm, đối với một dải đất mênh mông vẫn chưa được thăm dò và đo đạc nằm ở phía đông. Những tài sản này – chắc chắn chúng được tính đến cả - bao gồm phần rộng lớn của vùng đất mà ngày nay được gọi là hạt Waldo, thuộc bang Maine, rộng hơn lãnh địa của một công tước, hoặc lãnh thổ của một hoàng tử trị vì bên châu Âu. Khi rừng rậm vẫn bao phủ công quốc hoang sơ này phải nhường chỗ - nó ắt phải thế, dù có lẽ phải nhiều thập kỷ sau - cho nền văn minh rực rỡ của con người, nó sẽ là khởi nguồn cho sự giàu có không tính xuể của dòng họ Pyncheon. Nếu đại tá sống thêm chỉ vài tuần nữa, chưa biết chừng ảnh hưởng chính trị to lớn của ông ta, những mối quan hệ quyền lực của ông ta ở quê hương và nước ngoài, ắt sẽ thực hiện tất cả những gì cần thiết để hợp thức hóa quyền sở hữu. Nhưng bất chấp bài diễn văn ca ngợi của cha Higginson tốt bụng, có vẻ đây là một việc mà đại tá Pyncheon, vốn nhìn xa trông rộng và khôn ngoan, đành phải bó tay. Trong việc giải quyết đất đai nhà cửa sau này, ông ta đã chết quá sớm. Con trai ông ta không những thiếu địa vị xuất sắc của cha, mà còn thiếu cả tài năng và sức mạnh trong tính cách để đạt được nó: vì thế anh ta không thể tác động đến cái gì bằng lợi ích chính trị, trong khi tính minh bạch hay hợp pháp của quyền sở hữu đất lại không quá rõ ràng, sau cái chết của đại tá, như nó đã được tuyên bố trong suốt cuộc đời ông ta. Một số mối dây liên hệ bị mất dấu, và không thể tìm được ở bất cứ đâu.

Dòng họ Pyncheon đã hết sức nỗ lực, không chỉ khi ấy, mà suốt gần một trăm năm sau đó, để giành được thứ mà họ khăng khăng cho rằng thuộc về mình. Nhưng theo thời gian, một phần vùng đất được cấp lại cho những cá nhân được ưu ái hơn, và một phần được những người khai hoang khai khẩn và định cư. Những người này, nếu họ có nghe đến yêu sách của nhà Pyncheon, hẳn sẽ cười rộ với việc có người lại đòi quyền sở hữu - dựa vào một tờ giấy da cũ mèm, ký bằng chữ viết tay đã phai màu của các vị thống đốc và những nhà lập pháp đã chết từ đời nào đối với những mảnh đất mà họ hoặc ông cha họ đã cực nhọc giành giật từ bàn tay hoang dã của thiên nhiên. Đòi hỏi mơ hồ này, vì thế, chẳng đem lại kết quả gì ngoài sự ấp ủ, từ đời này qua đời khác, một ảo tưởng ngớ ngẩn về tầm quan trọng của gia tộc, định hình tính cách của những người nhà Pyncheon. Nó khiến thành viên nghèo nhất trong họ cảm thấy mình thừa hưởng một sự cao quý, chỉ là chưa có gia sản danh giá để củng cố nó. Ở những người có dòng máu tốt đẹp hơn, điểm đặc biệt này đã thêm một vẻ phong nhã vào cái thô ráp của đời sống, mà không làm mất đi bất cứ giá trị cốt lõi nào. Với dạng tầm thường, tác động của nó là tăng khả năng trì trệ và phụ thuộc, và khiến nạn nhân của một hy vọng tù mù thui chột mọi nỗ lực tự thân, trong khi chờ đợi những giấc mơ thành hiện thực. Nhiều năm trôi qua đòi hỏi của họ đã biến mất khỏi ký ức công chúng, những người nhà Pyncheon dần quen với việc tra cứu tấm bản đồ cổ xưa của đại tá, được phác ra khi hạt Waldo vẫn còn là một vùng hoang sơ chưa khai phá. Ở đó người lập bản đồ xưa kia đã đặt những cánh rừng, hồ nước, sông ngòi, họ đánh dấu những không gian được phát quang, và điểm vào những làng mạc cùng thị trấn, tính toán giá trị tăng dần của lãnh thổ, như thể trong tương lai sẽ hình thành một tiểu vương quốc của riêng họ.

Tuy vậy hầu hết mỗi thế hệ dường như đều có một hậu duệ của gia tộc được phú cho một phần tư duy sắc bén, và năng lực thực tiễn, mang đậm dấu ấn của ông tổ của họ. Cốt cách ấy, xét ra giống hệt con người đại tá, chỉ giảm đi chút ít, thỉnh thoảng lại được trời ban. Cứ cách hai hoặc ba thời kỳ, khi cơ đồ của gia tộc suy vong, đại diện mang những phẩm chất di truyền này lại xuất hiện, và khiến những lời đồn thổi truyền thống trong thị trấn xôn xao lên, “Ông già Pyncheon lại về đấy! Ngôi nhà bảy đầu hồi giờ sẽ có mái lợp mới!” Từ cha đến con, họ bám lấy ngôi nhà của tổ tiên với sự dai dẳng kỳ lạ của mối gắn bó thân thuộc. Song vì nhiều lý do khác nhau, và từ những ấn tượng thường được tìm thấy một cách mơ hồ để đưa lên trang giấy, người viết tin rằng khá nhiều, nếu không phải hầu hết, những chủ nhân thành đạt của di sản này bị nghi ngờ về quyền sở hữu trên phương diện đạo đức đối với nó. Sự chiếm giữ theo luật của họ là không thể bàn cãi; nhưng ông già Matthew Maule, từ thời của ông ta đến đời sau, e rằng đã giẫm một bước chân nặng nề lên lương tâm của một người Pyncheon. Nếu vậy, chúng ta buộc phải sử dụng câu chất vấn đáng sợ, liệu những người thừa kế gia sản - ý thức được sự sai trái, và không thể sửa chữa nó - có hay không phạm lại tội lỗi tày trời của tổ tiên, và gánh hết mọi trách nhiệm ban đầu. Và giả dụ trường hợp ấy xảy ra, có phải sẽ trung thực hơn nhiều khi nói rằng gia tộc Pyncheon đã thừa hưởng một nỗi bất hạnh lớn, thay vì là ngược lại?

Chúng ta đã ngụ ý rằng mục đích của chúng ta không phải là lần theo lịch sử của dòng họ Pyncheon, trong sự kết nối bền chắc với ngôi nhà bảy đầu hồi; cũng không phải chứng tỏ, như trong một bức tranh ma thuật, sự han gỉ và tàn tạ của thời gian đã trùm lên ngôi nhà cổ kính như thế nào. Về cuộc sống bên trong nó, thì có một tấm gương mờ khổ lớn từng được treo ở một trong các căn phòng, và được thêu dệt là chứa đựng bên trong mình mọi hình dáng từng phản chiếu ở đó, - bản thân ông đại tá già, những hậu duệ của ông ta, số thì trong trang phục trẻ con thời xưa, số khác đang độ thanh xuân rực rõ, hoặc âu sầu với những nếp nhăn của tuổi xế chiều. Nếu chúng ta nắm được bí mật của tấm gương đó, chúng ta sẽ vui mừng ngồi xuống trước nó, và đưa tất cả những tiết lộ của nó lên trang giấy. Nhưng có một câu chuyện, khó mà nghĩ ra bất cứ căn cứ nào cho nó, kể rằng con cháu của Matthew Maule có dính líu đến sự bí ẩn của tấm gương, và bằng phương pháp hình như là một dạng thôi miên, họ có thể làm cho vùng không gian bên trong nó sống dậy với những người nhà Pyncheon đã qua đời; không phải khi họ phô trương với thế giới, cũng không phải trong những giờ phút tốt đẹp và hạnh phúc của họ, mà là đang lặp đi lặp lại một tội ác, hoặc trong cơn khủng hoảng của nỗi đau khổ cùng cực. Sự tưởng tượng phổ biến, làm cho tấm gương bận rộn là vụ việc của ông già Thanh giáo Pyncheon và lão phù thủy Maule; lời nguyền mà người thứ hai ném xuống từ đoạn đầu đài được ghi nhớ, với một bổ sung rất quan trọng, đã trở thành một phần di sản của nhà Pyncheon. Nếu một thành viên trong gia đình phát ra tiếng ùng ục trong cổ họng, người đứng bên cạnh có khả năng sẽ thì thào, nửa đùa nửa thật, “Anh chàng uống máu của Maule đấy!” Cái chết đột ngột của một người nhà Pyncheon, cách đây khoảng một trăm năm, với hoàn cảnh rất giống trường hợp liên quan đến sự qua đời của đại tá, được coi là một khả năng củng cố cho quan điểm được đón nhận về chủ đề này. Hơn nữa, nó được xem là một trường hợp đáng lo ngại, bức chân dung đại tá Pyncheon - nghe nói là tuân theo một điều khoản trong di chúc của ông ta vẫn treo trong căn phòng nơi ông ta chết. Những đường nét cứng rắn, khắc nghiệt ấy như tượng trưng cho một tác động ma quái, và quá âm u để hòa trộn sự hiện diện tăm tối của nó với ánh nắng ban ngày đi qua, không có ý nghĩ hay mục đích tốt đẹp nào có thể nảy mầm đơm hoa ở đó. Đối với một bộ óc chín chắn thì chẳng thấy một chút mê tín dị đoan nào trong lời lẽ hoa mỹ chúng ta diễn tả, bằng việc khẳng định bóng ma của một tổ tiên đã chết – có lẽ như một loại hình phạt dành cho ông ta – thường bị bắt trở thành Ác Thần của gia đình mình.

Nói chung dòng họ Pyncheon nhìn bề ngoài có lẽ đã sống hơn hai thế kỷ ít thăng trầm hơn so với hầu hết những dòng họ khác ở New England cùng thời. Dù mang những nét nổi bật của riêng mình, họ vẫn có những đặc điểm chung của cộng đồng nhỏ nơi họ sinh sống: một thị trấn nổi tiếng với những cư dân cần kiệm, kín đáo, ngăn nắp, yêu quê hương, cũng như với sự giam hãm cảm xúc của nó, nhưng nghe nói ở đấy còn có những cá nhân lập dị hơn, và đôi khi có những vụ việc kỳ lạ hơn so với hầu hết những nơi khác. Trong cuộc cách mạng, nhà Pyncheon lúc bấy giờ, về phe hoàng gia, trở thành người tị nạn, nhưng hối cải, và xuất hiện vừa đúng lúc để bảo vệ ngôi nhà bảy đầu hồi khỏi bị tịch thu. Trong bảy mươi năm cuối cùng, sự kiện đáng chú ý nhất trong sử sách gia tộc cũng là tai họa nặng nề nhất từng giáng xuống đầu họ; chính là cái chết thê thảm – nó được xét xử như thế - của một thành viên trong gia đình bởi tội ác của một thành viên khác. Hoàn cảnh đi cùng vụ việc này đã đưa ngôi nhà về tay một người cháu trai của người quá cố. Chàng thanh niên trẻ bị xét xử và kết tội, nhưng hoặc là tính tường tận của chứng cứ, hoặc có thể là những nghi ngờ ngấm ngầm trong nội tâm của tổ chức hành pháp, hoặc, cuối cùng - một cuộc tranh cãi có sức nặng hơn trong một nền cộng hòa so với một chế độ quân chủ, vai vế cao và ảnh hưởng chính trị của những mối quan hệ của kẻ phạm tội đã giúp giảm nhẹ bản án của anh ta từ tử hình xuống tù chung thân. Sự việc đáng buồn này xảy ra khoảng ba mươi năm trước khi câu chuyện của chúng ta bắt đầu. Về sau có những tin đồn (một số người tin, và chỉ một hai người cảm thấy hứng thú) rằng người đàn ông bị chôn dưới đất bao lâu nay có khả năng, vì lý do này hay lý do khác, bị triệu hồi từ nấm mồ sống của mình.

Cần phải nói vài lời kính trọng với nạn nhân của kẻ giết người mà giờ đây đã gần như bị quên lãng. Đó là một luật sư già, rất giàu có, chưa kể ngôi nhà và tòa dinh thự tổ tiên Pyncheon để lại. Là một con người kỳ quặc và tâm tính âu sầu, hay tìm tòi những tài liệu cũ và lắng nghe những truyền thuyết xưa, người ta khẳng định ông đã tự đi tới kết luận rằng Matthew Maule, thầy phù thủy, đã bị đối xử tàn tệ trên mảnh đất của mình, nếu không muốn nói là cả cuộc đời mình. Một trường hợp như thế, và ông, người luật sư già, sở hữu một gia tài bất chính, - với vết máu đen chìm sâu vào đó, và vẫn được ngửi thấy bởi những cánh mũi có lương tâm, - nảy sinh thôi thúc, dù có khẩn thiết với ông hay không, thậm chí ở thời điểm muộn màng này, là bồi thường cho Maule. Với một người sống quá nhiều trong quá khứ, và quá ít trong hiện tại, là một luật sư già cô độc và xưa cũ, một thế kỷ rươi dường như là một thời kỳ không quá dài để sửa sai thành đúng. Những người biết rõ ông tin rằng ông nhất định sẽ tiến hành trao ngôi nhà bảy đầu hồi cho người đại diện của Matthew Maule, nhưng sự nghi ngờ về ý định của ông già đã gây ồn ào không tả xiết trong những người họ hàng Pyncheon của ông. Những nỗ lực của họ đã làm trì hoãn mục đích của ông, người ta sợ ông sẽ thực hiện, sau khi chết, thông qua bản di chúc cuối cùng, việc mà ông đã bị ngăn cản dữ dội trong thời gian còn sống. Nhưng có một điều con người hiếm khi làm, dù cho kích động hay bị xui khiến, là không để lại gia tài cho người ruột thịt. Họ có thể yêu quý những người dưng hơn hẳn họ hàng của mình - họ thậm chí có thể ấp ủ mối ác cảm, hoặc căm ghét với những người thuộc vế thứ hai, song trước lúc lâm chung, định kiến mạnh mẽ của quan hệ huyết thống trỗi dậy, và thúc đẩy người hấp hối trao lại tòa dinh thự theo một phong tục cổ xưa đến mức thành lẽ tự nhiên. Trong toàn gia tộc Pyncheon, cảm xúc này có một năng lượng bệnh hoạn. Nó quá mạnh đối với những đắn đo áy náy của người luật sư già. Theo đó, sau khi ông chết, ngôi nhà lớn, cùng với hầu hết những tài sản khác, được truyền cho người đại diện kế tiếp về mặt luật pháp của ông.

Đó là một người cháu, anh họ của chàng trai khốn khổ bị kết tội giết bác mình. Người thừa kế mới, cho đến lúc được nhận gia tài, vẫn bị liệt vào dạng thanh niên chơi bời phóng đãng, nhưng ngay lập tức tu chí, trở thành một thành viên hết sức đứng đắn trong xã hội. Trên thực tế anh ta đã bộc lộ nhiều phẩm chất của nhà Pyncheon, và đạt được địa vị cao hơn bất cứ ai trong dòng họ kể từ thời của người Thanh giáo đầu tiên. Chịu khó theo học ngành luật từ sớm, và có thiên hướng tự nhiên đối với chốn công đường, nhiều năm trước anh ta đã kiếm được một vị trí trong một tòa án cấp thấp, nó cho anh ta chức vị thẩm phán oai vệ và đáng ngưỡng mộ cả đời. Về sau anh ta tham gia vào chính trị, làm hai nhiệm kỳ trong nghị viện, ngoài ra còn là một nhân vật có thế lực trong cả hai nhánh của cơ quan lập pháp của bang. Thẩm phán Pyncheon là niềm tự hào không phải bàn cãi đối với dòng họ mình. Anh ta đã tự xây một biệt thự cách thị trấn quê hương vài dặm, và dành thời gian ở đó vào những lúc không phải làm việc công để phô diễn mọi ưu điểm và sức hút của mình - theo cách dùng từ của một tờ báo, trước thềm cuộc bầu cử như một tín đồ Cơ Đốc, một công dân ưu tú, người làm vườn, và một quý ông.

Chỉ còn lại vài người trong họ Pyncheon để tắm mình trong ánh hào quang của ngài thẩm phán. So với sự tăng trưởng tự nhiên thì nòi giống nhà họ không được thịnh vượng - nó có vẻ đang suy yếu dần. Những thành viên ỏi trong gia đình được biết hiện còn, đầu tiên là ngài thẩm phán, và một người con trai duy nhất đang chu du bên châu Âu; kế đến là người ngồi tù ba mươi năm đã được nhắc đến, và cô em gái của người đó, sống cực kỳ ẩn dật trong ngôi nhà bảy đầu hồi, bà được ở đó trọn đời theo di chúc của ông luật sư già. Nghe nói bà nghèo rớt mùng tơi, nhưng hình như bà không muốn thay đổi, bởi vì người anh họ giàu sang của bà, ngài thẩm phán, đã nhiều lần đề nghị chu cấp cho bà một cuộc sống tiện nghi, ở tòa dinh thự cũ hay nơi ở mới hiện đại của ngài. Người mang họ Pyncheon cuối cùng và là người trẻ nhất là một cô thôn nữ mười bảy tuổi, con gái của một người em họ khác của ngài thẩm phán, đã cưới một phụ nữ trẻ không có cả gia thế lẫn tiền tài, và chết sớm trong cảnh nghèo túng. Vợ góa của ông ta mới đây đã lấy chồng khác.

Còn thế hệ sau của Matthew Maule, hiện giờ được cho là đã tuyệt giống. Tuy nhiên suốt một giai đoạn dài sau biến cố phù thủy, những người họ Maule tiếp tục ở lại thị trấn nơi cụ cố của họ phải chịu một cái chết bất công. Nhìn bề ngoài, họ là một dòng tộc lặng lẽ, trung thực, đầy thiện ý, không nuôi mối hận với những cá nhân hay đám đông đã gây oan ức cho mình; hoặc nếu bên lò sưởi họ có kể cho con cháu bất cứ ký ức thù nghịch nào về số phận của phù thủy và gia tài đã mất của họ, thì nó cũng không bao giờ gây ra phản ứng, hoặc được bày tỏ công khai. Cũng không có gì khác thường nếu như họ chẳng còn nhớ ngôi nhà bảy đầu hồi đang dựa bộ khung nặng nề của nó trên một nền móng thuộc về họ. Có cái gì đó rất to lớn, bền vững, và uy nghi đến khó cưỡng ở vẻ bề ngoài của địa vị cao cùng gia sản lớn, khiến chỉ riêng sự tồn tại của chúng dường như đã cho chúng một đặc quyền, chí ít là một đặc quyền được giả mạo vô cùng xuất sắc, đến mức một số người nghèo khổ và thấp kém có đủ sức mạnh tinh thần để đặt câu hỏi, dù chỉ trong thâm tâm. Đơn cử như trường hợp hiện tại, sau khi quá nhiều định kiến cổ hủ bị đạp đổ; trong thời kỳ phản cách mạng còn hơn thế, khi tầng lớp quý tộc dương dương tự đắc, và tầng lớp dưới cam tâm hạ mình. Do đó dòng họ Maule, ở mọi sự kiện, giữ kín mối oán giận của mình trong lồng ngực. Nhìn chung họ đều nghèo túng, tầm thường và vô danh; cần cù làm những nghề thủ công không có kết quả; lao động trên bến tàu, hoặc theo những chuyến đi biển dài ngày; sống rải rác quanh thị trấn, trong những căn nhà cho thuê, và đến cuối đời vào trại tế bần như ngôi nhà tự nhiên của họ. Cuối cùng, sau một thời gian dài bò quanh rìa vũng nước đục của sự tù hãm, họ đã nhảy xuống đó như số phận chung cuộc của tất cả các gia đình, dù cao sang hay bần hàn. Ba mươi năm trôi qua, không sổ sách nào của thị trấn, không bia mộ nào, không hộ khẩu nào, hay trong trí nhớ của người nào, mang dấu vết của các hậu duệ nhà Matthew Maule. Huyết thống của ông ta có lẽ tồn tại ở nơi khác, còn ở đây - nơi có thể lần ra một nhánh thấp kém, thì nó đã tuyệt tự.

Giả sử có tìm được một ai, họ cũng bị phân biệt với những người khác, không phải một cách dễ thấy, cũng không phải bằng một ranh giới sắc bén, mà bằng một tác động khó diễn tả – do một tính cách kín đáo di truyền. Bạn bè của họ, hoặc những ai cố gắng trở thành bạn họ, dần dần cảm nhận được một vòng tròn bao quanh những người nhà Maule, bao trùm một không khí thiêng liêng mà không một ai có thể bước vào, bất chấp vẻ ngay thật và thân thiện bên ngoài. Có lẽ nét riêng biệt này, đã cô lập họ với sự giúp đỡ của người khác, khiến họ luôn gặp bất hạnh trong cuộc sống. Trong trường hợp của họ, với tư cách là người thừa kế duy nhất, chắc chắn nó làm kéo dài những cảm xúc khó chịu và nỗi sợ hãi đầy màu mê tín mà người dân thị trấn, thậm chí sau khi đã thức tỉnh khỏi cơn điên cuồng, vẫn tiếp tục lưu giữ ký ức về những phù thủy nổi tiếng. Cái áo choàng tả tơi của ông già Matthew Maule đã chụp xuống con cái ông. Họ bị nghi ngờ thừa hưởng những thuộc tính bí ẩn. Đôi mắt của họ được cho là sở hữu những quyền năng kỳ lạ. Trong số những tài sản và quyền lợi vô dụng khác, có một thứ được đặc biệt truyền lại cho họ - khả năng tác động đến giấc mơ của mọi người. Dòng họ Pyncheon, nếu tất cả các câu chuyện là thật, kiêu căng ngạo mạn trên thị trấn quê hương, nhưng chẳng hơn gì những nô lệ so với những người họ Maule hèn kém, khi bước vào vùng hỗn mang đảo lộn của giấc ngủ. Ngành tâm lý học hiện đại có thể sẽ cố gắng thu gọn những cái được cho là thuật gọi hồn này vào trong một phân nhóm, thay vì gạt bỏ chúng như một chuyện hoang đường.

Một hai đoạn mô tả, xem xét ngôi nhà bảy đầu hồi ở khía cạnh gần với hiện tại hơn, sẽ kết thúc chương mở đầu này. Con phố nơi những tháp nhọn cổ kính của nó vươn lên lâu nay đã không còn là một điểm hấp dẫn của thị trấn, bởi vậy, dù tòa nhà cổ được vây quanh bởi những ngôi nhà hiện đại, nhưng hầu hết chúng chỉ là những ngôi nhà nhỏ, xây hoàn toàn bằng gỗ, và mang cùng một kiểu dáng nặng nề của cuộc sống đời thường. Song chắc chắn câu chuyện của chủ nhà tiềm ẩn trong chúng, nhìn bề ngoài chẳng có gì ấn tượng, có thể thu hút trí tưởng tượng hoặc cảm xúc để người ta tìm kiếm nó. Còn đối với cái kiến trúc cũ kỹ trong câu chuyện của chúng ta, bộ khung bằng gỗ sồi trắng của nó, và những bức tường, ván lợp, lớp vữa bong tróc, kể cả ống khói lớn chụm lại ở giữa, dường như chỉ tạo thành phần tiều tụy nhất trong nguyên bản của nó. Bao nhiêu cuộc đời đã trải qua ở đó, - phần lớn là chịu đựng, và cũng có một chút vui vẻ, - khiến mọi thớ gỗ ẩm ướt, như hơi ẩm của một trái tim. Cảm giác như chính nó là một quả tim lớn, có cuộc sống riêng, chất chứa bao ưu tư phong phú và ảm đạm.

Phần nhô hẳn ra của tầng hai tạo cho ngôi nhà một vẻ trầm mặc, khiến ta không thể đi qua nó mà không có ý nghĩ rằng nó cất giấu nhiều bí mật cùng một lịch sử nhiều sự kiện để đúc rút. Trước nhà, ngay trên lề vỉa hè không lát gạch, mọc lên cây du Pyncheon, so với những cây cùng loài mà ta thường gặp, có thể được coi là khổng lồ. Nó được trồng bởi một người chắt trai của người Pyncheon đầu tiên, và, dù bây giờ đã tám mươi tuổi, hoặc có lẽ gần một trăm, nó vẫn đứng sừng sững mà vững chãi, tỏa bóng một khúc đường, trùm lên bảy đầu hồi, quét sạch cả cái mái đen bằng những cành lá lòa xòa. Nó tô điểm cho ngôi nhà cổ, và dường như biến ngôi nhà thành một phần của tự nhiên. Con đường được mở rộng cách đây bốn mươi năm, đầu hồi đằng trước giờ nằm thẳng hàng với nó. Bên kia đường chạy dài một hàng rào gỗ kiểu mắt cáo đổ nát, xuyên qua đó có thể thấy một cái sân um tùm cỏ, và đặc biệt ở các góc của ngôi nhà phủ kín cây ngưu bàng với những chiếc lá, không quá lời khi nói là dài tới hai hay ba feet. Đằng sau ngôi nhà hình như có một mảnh vườn, hẳn đã từng rất rộng rãi, nhưng giờ bị xâm phạm bởi những hàng rào khác, hoặc bị chặn lại bởi nhà cửa nằm ở con phố bên kia. Sẽ là một sự bỏ sót, nhỏ nhặt nhưng không thể tha thứ, nếu chúng ta quên lớp rêu xanh bấy lâu nay đã phủ kín phần nhô ra của những ô cửa sổ, và trên những mái dốc chúng ta không thể không hướng ánh mắt của người đọc tới một cụm không phải cỏ dại mà là hoa dại, mọc chót vót trên cao, cách không xa ống khói, trong góc thụt giữa hai đầu hồi. Chúng được gọi là bụi hoa của Alice. Tương truyền rằng một cô Alice Pyncheon nào đó trong lúc vui đùa đã ném lên những hạt giống, và bụi của con phố cùng sự mục nát của mái nhà dần dần hình thành một loại đất nuôi dưỡng chúng, từ đó chúng mọc lên, khi Alice đã nằm dưới mộ từ lâu. Hoa dù có thể nở, song thật buồn bã và cảm động khi thấy mẹ Thiên Nhiên đã nhận nuôi ngôi nhà cũ tiêu điều, đổ nát, dầu dãi xác xơ của gia đình Pyncheon, và Mùa Hè mỗi năm lại đến cố gắng dùng vẻ đẹp dịu dàng của mình để làm nó tươi tắn hơn, nhưng lại trở nên âu sầu.

Có một chi tiết khác, nhất thiết phải lưu ý, song chúng tôi sợ nó có thể phá hỏng bất cứ ấn tượng đẹp đẽ và lãng mạn nào mà chúng tôi muốn cho vào bức phác họa ngôi nhà cổ kính này. Ở đầu hồi phía trước, bên dưới cái gờ lơ lửng của tầng hai, tiếp giáp mặt đường, là cánh cửa một cửa hàng, được chia đôi theo chiều ngang, với một cửa sổ ở phần trên, giống như ta thường thấy ở những ngôi nhà có phần xưa cũ. Cánh cửa này là một sự sỉ nhục không hề nhẹ đối với người hiện cư ngụ tại ngôi nhà Pyncheon cổ kính, cũng như với những người tiền nhân của bà. Vấn đề ấy tế nhị một cách khó chịu để mà xử lý, nhưng, vì người đọc cần được khám phá bí mật, họ sẽ hài lòng khi biết rằng, khoảng một thế kỷ trước, người chủ gia đình Pyncheon gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính. Ông này (ông ta tự gọi mình là quý ông) đích thị là một con buôn giả mạo, bởi thay vì tìm kiếm một chức vụ từ nhà vua hay chính phủ hoàng gia, hoặc sốt sắng đòi lại vùng đất phía Đông, ông ta lại nghĩ không có con đường làm giàu nào tốt hơn việc mở một cửa hiệu bên sườn ngôi nhà của tổ tiên. Đúng là hồi đó các nhà kinh doanh hay buôn bán và trữ hàng hóa ở ngay nhà mình. Nhưng cách làm ăn trong ngôi nhà Pyncheon này tủn mủn đến đáng thương. Nghe nói ông ta, với đôi tay lấp ló trong diềm xếp nếp, thường đổi tiền thừa bằng đồng shilling, và sẽ lật đi lật lại đồng nửa xu để đảm bảo nó là một đồng tiền tốt[3]. Khỏi phải nói cũng thấy ông ta có tính vụ lợi nhỏ nhen trong máu, dùng đủ mọi cách để kiếm lời.

Ông ta vừa chết là cánh cửa bị khóa lại, cài chặt then chốt, và cho tới tận thời kỳ của chúng ta, có lẽ nó chưa từng được mở. Cái quầy cũ, những kệ hàng và đồ đạc khác của cửa hiệu nhỏ còn nguyên xi như lúc ông ta bỏ chúng lại. Người ta từng khẳng định rằng vị chủ nhân đã chết, trong bộ tóc giả màu trắng, chiếc áo khoác nhung bạc màu, tạp dề đeo ở eo, và những diềm xếp nếp vén cẩn thận khỏi cổ tay, có thể được trông thấy qua những khe cửa chớp, vào bất cứ đêm nào trong năm, đang lục lọi ngăn kéo, hoặc dán mắt vào những trang sổ sách cáu bẩn. Từ vẻ thiểu não khó tả trên mặt, có vẻ như ông ta phải chịu số phận suốt đời đi cân đối sổ sách trong tuyệt vọng. Và bây giờ - theo một cách thật khiêm nhường, như các bạn sẽ thấy - chúng ta bắt đầu bước vào câu chuyện.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne