Mặt xanh như tàu lá, Todd ngồi giữa bố và mẹ trên ghế.
Đối diện là một thanh tra cảnh sát lịch sự, tóc muối tiêu mang tên Richler. Bố của Todd đề nghị gọi cảnh sát, nhưng Todd đã tự mình làm, giọng nó khản đặc qua điện thoại như thời nó mười bốn tuổi.
Nó tường thuật đã xong. Không tốn nhiều thời gian. Nó nói bằng chất giọng đều đều khô khốc khiến Monica sợ hết hồn vía. Đúng là thằng bé đã mười bảy tuổi, nhưng dù gì, nó vẫn còn nhỏ. Chuyện này sẽ là vết thương in hằn cả đời nó.
“Cháu đọc sách cho ông ấy... ôi, cháu chẳng biết nữa. Tom Jones. Cối xay bột bên sông Floss. Câu chuyện này chán ngắt. Hình như chúng cháu đọc không hết cuốn này thì phải. Một vài truyện của Hawthorne – cháu nhớ ông ấy đặc biệt thích ‘Khuôn mặt đá Vĩ đại’ và ‘Chàng Goodman Brown. Chúng cháu đọc được một phần Chuyện vặt ông Pickwick nhưng ông ấy không thích. Ông bảo Dickens chỉ hài hước khi đang nghiêm túc và Pickwick đúng là õng ẹo. Đấy chính xác là từ ông ấy dùng, õng ẹo. Tác phẩm ổn nhất là Tom Jones . Cả hai chúng cháu đều thích nó.”
“Và chuyện này xảy ra ba năm trước,” Richler nói.
“Vâng. Khi nào có cơ hội, cháu cũng ghé qua thăm ông ấy, nhưng lên cấp ba, cháu đi học bằng xe buýt... vài bạn rủ nhau lập đội bóng... lượng bài tập nhiều hơn... nói chung là cuộc sống bận rộn hơn ạ.”
“Cháu có ít thời gian hơn nhỉ.”
“Dạ phải, ít thời gian hơn. Chương trình học ở trường cũng khó hơn nhiều... nếu muốn đủ điểm vào đại học.”
“Nhưng Todd là một học sinh rất xuất sắc,” Monica thốt lên như một cái máy. “Thằng bé tốt nghiệp đứng thứ hai trong khối. Chúng tôi rất tự hào về con.”
“Hẳn vậy rồi,” Richler nở nụ cười ấm áp. “Tôi có hai cậu con trai ở Fairview, dưới thung lũng, hai đứa chỉ suýt soát đủ tiêu chuẩn thể thao của đại học thôi đấy.” Ông quay lại nhìn Todd. “Sau khi vào cấp ba, cháu không đọc sách cho ông ấy nữa à?”
“Không ạ. Thỉnh thoảng cháu đọc báo cho ông ấy thôi. Cháu đến nhà, ông nhờ cháu đọc các tít báo. Ông ấy rất quan tâm đến vụ Watergate lúc vụ này bể ra. Ngoài ra, ông ấy luôn muốn biết tình hình thị trường chứng khoán, tựa đề bài báo hay khiến ông ấy cáu tiết vãi cả ra — con xin lỗi mẹ.”
Mẹ vỗ lên tay nó.
“Cháu không biết lý do tại sao ông ấy quan tâm đến chứng khoán, nhưng tình hình là thế ạ.”
“Ông ấy có một ít cổ phiếu,” Richler cho hay. “Nhờ vậy mà ông ta có đồng ra đồng vào. Ông ta cũng có năm bộ căn cước khác nhau cất rải rác trong nhà. Quả là một con cáo già.”
“Cháu đoán ông ấy giữ cổ phiếu trong hộp ký gửi an toàn ở đâu đó,” Todd nhận xét.
“Cháu nói gì kia?” Richler nhướn mày.
“Cổ phiếu ấy ạ,” Todd nhắc lại. Trông cũng bối rối không kém, bố nó gật đầu với Richler.
“Phần giấy chứng nhận cổ phiếu còn lại nằm trong tủ để dưới giường,” Richler nói, “cùng một tấm hình của ông ta dưới danh tính Denker. Ông ta có hộp ký gửi an toàn hả cháu? Ông ta từng nói như vậy à?”
Todd nghĩ ngợi một chút rồi lắc đầu. “Cháu chỉ nghĩ nếu có cổ phiếu thì cất vào đó thôi ạ. Cháu không biết. Chuyện này... toàn bộ chuyện này khiến... bác biết đấy... khiến cháu rất sốc.” Nó lắc đầu với vẻ choáng váng trông thật vô cùng. Vì nó thật sự rất choáng. Nhưng dần dần, từng chút một, nó cảm thấy bản năng bảo vệ bản thân trỗi dậy trong người. Nó cảm thấy đầu óc mình càng lúc càng sắc bén, và tự tin manh nha trở lại. Nếu Dussander thật sự có hộp ký gửi an toàn để lưu trữ giấy tờ bảo hiểm, chẳng phải lão cũng sẽ chuyển những giấy chứng nhận cổ phiếu còn lại vào đó sao? Cả bức hình ấy nữa?
“Phía bác đang làm việc với bên Israel về vụ này,” Richler nói. “Theo một cách rất phi chính thức. Bác sẽ rất cảm kích nếu cháu không nhắc tới việc này nếu có dịp trao đổi với phía truyền thông. Họ là dân chuyên nghiệp thật sự. Có một người mang tên Weiskopf muốn trò chuyện với cháu vào ngày mai, Todd ạ. Nếu cháu và bố mẹ chấp thuận.”
“Được thôi ạ,” Todd nói, nhưng nó cảm thấy có chút khiếp sợ khi nghĩ đến chuyện bị đánh hơi bởi đám chó săn đã săn đuổi Dussander suốt nửa cuộc đời lão. Dussander e dè bọn chúng một phép, và Todd biết tốt nhất nó nên ghi lòng tạc dạ điều này.
“Anh chị Bowden, anh chị có phản đối việc cháu Todd gặp anh Weiskopf không?”
“Không, Todd đồng ý là được,” Dick Bowden trả lời. “Nhưng tôi muốn cùng đi. Tôi từng đọc thông tin về những tay Mossad này...”
“Weiskopf không phải tình báo Mossad. Theo cách gọi của người Israel, anh ta là mật vụ đặc biệt. Thật ra, anh ta dạy văn học tiếng Yiddish và ngữ pháp tiếng Anh. Ngoài ra, anh ta còn viết hai cuốn tiểu thuyết.” Richler mỉm cười.
Dick gạt tay. “Bất kể anh ta có là gì, tôi sẽ không để anh ta quấy rầy Todd. Theo như những gì tôi đọc, những tay này có thể chuyên nghiệp thái quá . Có thể anh ta không đến nỗi. Nhưng tôi muốn anh và anh Weiskopf này nhớ cho Todd chỉ cố gắng giúp ông cụ ấy. Ông ta giấu giếm thân phận của mình, nhưng Todd không biết điều đó.”
“Không sao đâu bố,” Todd mỉm cười mệt mỏi.
“Bác chỉ muốn cháu giúp bọn bác trong sức của mình,” Richler nói. “Tôi hiểu nỗi lo của anh, anh Bowden. Tôi nghĩ anh sẽ nhận thấy Weiskopf là một người ôn hòa, ít gây áp lực. Tôi đã hỏi xong rồi, nhưng tôi sẽ phá lệ một chút bằng cách nói cho mọi người những người Israel quan tâm nhất điều gì. Todd đã ở với Dussander vào lúc ông ta lên cơn đau tim khiến ông này nhập viện...”
“Ông ấy đề nghị cháu qua đọc cho ông lá thư, Todd đáp.
“Chúng ta biết.” Richler chúi người tới trước, khuỷu tay tựa lên gối, cà vạt lủng lẳng tạo thành dây dọi tới sàn. “Người Israel muốn biết nội dung lá thư. Dussander là một con cá to, nhưng ông ta không phải con cá duy nhất trong hồ – hoặc chí ít đó là những gì Sam Weiskopf nói, và tôi tin anh ta. Họ cho rằng Dussander có thể nắm thông tin của những con cá khác. Đa phần bọn chúng có thể vẫn sống đến ngày hôm nay ở Nam Mỹ, nhưng có khả năng những tên khác ở rải rác cả chục nước khác... bao gồm cả Mỹ. Mọi người có biết họ thộp cổ được kẻ từng là Unterkommandant ở Buchenwald trong sảnh một khách sạn Tel Aviv không?”
“Thật sao!” Monice nói, tròn mắt.
“Thật,” Richler gật đầu. “Hai năm trước. Mấu chốt ở đây là người Israel nghĩ lá thư mà Dussander muốn Todd đọc có khả năng là từ một trong những con cá kia. Có thể họ đúng, có thể họ sai. Dù gì chăng nữa, họ muốn biết.”
Todd vốn đã quay trở lại nhà của Dussander và đốt lá thư, nó bèn nói: “Cháu sẽ giúp bác – hoặc người tên Weiskopf kia — nếu cháu có thể, thưa trung uý Richler, nhưng lá thư viết bằng tiếng Đức. Đọc được nó thật sự rất khó. Cháu thấy mình ú ở như thằng ngốc. Ông Denker... Ông Dussander... càng lúc càng phấn khích, đề nghị cháu đánh vần từ ông không hiểu vì, bác biết đấy, cháu phát âm không chuẩn. Nhưng cháu đoán ông ấy vẫn hiểu. Cháu nhớ có lúc ông ấy cười và bảo, ‘Đúng rồi, đúng rồi, đúng là phải làm thế nhỉ? Rồi ông lẩm bẩm gì đó bằng tiếng Đức. Khoảng hai, ba phút sau, ông lên cơn đau tim. Có gì đó về Dummkopf . Hình như trong tiếng Đức, từ này có nghĩa là ngu ngốc thì phải.”
Nó nhìn Richler với vẻ ngập ngừng, trong lòng thầm hài lòng với cái lưỡi không xương của mình.
Richler gật đầu. “Phải, chúng ta hiểu nghĩa từ này trong tiếng Đức. Bác sĩ tiếp nhận đã nghe câu chuyện này từ cháu và chứng thực nó. Còn lá thư thì sao, Todd... cháu có nhớ chuyện gì xảy ra với nó không?”
Đây này , Todd nghĩ thầm. Mấu chốt .
“Cháu nhớ lúc xe cấp cứu tới, lá thư vẫn ở trên bàn. Khi mọi người rời khỏi đó. Cháu không thể làm chứng điều đó trước tòa, nhưng…”
“Tôi nghĩ có lá thư ở trên bàn,” Dick nói. “Tôi có cầm nó lên xem. Tôi nhớ hình như là thư gửi đường hàng không thì phải, nhưng tôi không để ý nó viết bằng tiếng Đức.”
“Vậy lý ra nó còn ở đó,” Richler kết luận. “Đó là điều chúng tôi chưa lý giải nổi.”
“Nó không còn sao?” Dick hỏi. “Ý tôi là nó biến mất rồi à?”
“Nó biến mất rồi.”
“Biết đâu có người phá cửa đột nhập,” Monica đưa ra giả thuyết.
“Chẳng cần phải phá cửa vào,” Richler nói. “Trong lúc rối ren đưa ông ta ra, căn nhà không bị khóa lại. Bản thân Dussander có lẽ chẳng nghĩ tới việc nhờ ai khóa giùm. Chìa khóa vẫn còn nằm trong túi quần khi ông ta chết. Căn nhà không khóa từ lúc nhân viên cấp cứu đưa ông ta đi viện đến lúc chúng tôi niêm phong mọi thứ vào 2 giờ 30 phút sáng nay.”
“Chà, thì đấy,” Dick nói.
“Không” Todd nói. “Con thấy điều khiển trung úy Richler lấn cấn rồi.” Ở phải, nó thấy rất rõ. Có bị mù mới không thấy. “Tại sao tên trộm chẳng lấy gì ngoài bức thư. Nhất là một lá thư viết bằng tiếng Đức? Không có lý chút nào. Ông Denker không có nhiều của cải để trộm, nhưng kẻ đột nhập có thể tìm được thứ đáng giá hơn thế.”
“Cháu nắm bắt nhanh quá,” Richler nói. “Không tệ.”
“Trước đây Todd từng muốn sau này trở thành thám tử mà” Monica nói và khẽ xoa đầu Todd. Sau khi lớn, thằng bé có vẻ phản đối điều này, nhưng hiện giờ, nó không buồn quan tâm. Chúa ơi, cô chẳng thích nhìn con mình nhợt nhạt như vậy chút nào. “Nhưng gần đây, nó chuyển hướng sang lịch sử rồi.”
“Lịch sử là lĩnh vực hay,” Richler khen. “Cháu có thể là một nhà sử học tìm tòi. Cháu đã từng đọc Josephine Tey chưa?”
“Dạ chưa ạ.”
“Không sao đâu. Bác chỉ ước hai cậu con nhà bác có tham vọng lớn hơn chứng kiến đội Angels dành chiến thắng để vào chung kết năm nay.”
Todd nở nụ cười mệt mỏi và chẳng nói gì.
Richler nghiêm túc trở lại. “Thêm nữa, tôi sẽ nói với mọi người giả thuyết mà chúng tôi đang theo đuổi. Chúng tôi cho rằng có người, rất có thể ở ngay Santo Donato này, biết chân tướng thật sự của Dussander.”
“Thật ư?” Dick thốt lên.
“Phải. Có người biết sự thật. Có thể cũng là một tay phát xít trốn chạy. Tôi biết nói thế này nghe như truyện trinh thám của Robert Ludlum, nhưng ai mà ngờ lại có một tên phát xít trốn chạy ở vùng ngoại ô bé nhỏ yên bình này kia chứ? Và khi Dussander được đưa vào bệnh viện, chúng tôi nghĩ nhân vật X đã chạy đến nhà, lấy lá thư vốn là bằng chứng tố giác ấy. Có lẽ đến lúc này, nó đã thành tro đang mủn ra lềnh phềnh trong hệ thống cống rãnh.”
“Điều đó cũng không có lý lắm,” Todd nói.
“Sao lại không, Todd?”
“Chà, nếu ông Denk... nếu ông Dussander có người bạn cũ từ trại tập trung, hoặc một người trước đây cũng là phát xít, tại sao ông ấy cất công gọi cháu đến đọc lá thư cho ông? Mọi người cứ nghe ông chỉnh cháu nhiều thế nào mà xem... chí ít người bạn phát xít mà bác nhắc tới sẽ biết nói tiếng Đức.”
“Luận điểm hay lắm. Nhưng vẫn có khả năng người bạn kia ngồi xe lăn hoặc bị mù. Theo như những gì phía bác biết, đó có thể chính là Bormann, song hắn ta không dám ra ngoài và lộ mặt.”
“Người mù hay ngồi xe lăn không giỏi chạy đi lấy thư đâu ạ,” Todd nói.
Richler mắt tròn mắt dẹt ngưỡng mộ. “Đúng vậy. Nhưng người mù vẫn có thể đánh cắp lá thư dù không thể đọc được nó. Hoặc thuê người làm.”
Todd ngẫm nghĩ một chút rồi gật đầu – nhưng cùng lúc, nó cũng nhún vai để thể hiện nó thấy ý tưởng này thiếu thực tế ra sao. Richler đã tiến xa khỏi Robert Ludlum [46E] và bước vào địa hạt của Sax Rohmer [47E] . Song việc ý tưởng này vô thực hay không thật ra chẳng thành vấn đề, đúng không? Chính xác. Vấn đề nằm ở chỗ Richler vẫn đang đánh hơi... và cái tay Do Thái chết toi tên Weiskopf kia cũng đang thăm dò. Thư với chả thiếc, thật khốn kiếp! Cái ý tưởng ngu xuẩn chết ông chết bà của Dussander! Và chợt nó nghĩ đến khẩu súng .30-.30 lúc này cất trong hộp, yên vị trên kệ trong ga ra lạnh và tối. Nó vội vàng kéo tâm trí nó khỏi hình ảnh ấy. Lòng bàn tay của nó ướt mồ hôi.
“Cháu có biết Dussander có người bạn nào không?” Richler hỏi.
“Bạn ấy ạ? Không. Ngày trước có một bà giúp việc, tuy nhiên, bà ấy chuyển đi rồi, mà ông lười không muốn thuê người khác. Khi hè về, ông thuê một cậu nhóc cắt cỏ, nhưng năm nay hình như là chưa. Bác có thấy cỏ mọc hơi dài không?”
“Phải. Chúng ta đã gõ cửa nhiều nhà nhưng có vẻ ông ta chưa thuê ai. Ông ấy có nghe điện thoại không?”
“Có ạ,” Todd nói với vẻ tự nhiên... đây là một tia sáng, một lối thoát khẩn cấp tương đối an toàn. Thật ra, điện thoại của Dussander chỉ đổ chuông khoảng năm, sáu lần suốt khoảng thời gian Todd biết lão — dân bán hàng, tổ chức bỏ phiếu hỏi về đồ ăn sáng, còn lại là gọi nhầm số. Lão chỉ để điện thoại phòng hờ mình đổ bệnh... và cuối cùng lão bệnh thật, cầu mong linh hồn lão mục ruỗng dưới địa ngục. “Ngày trước hằng tuần ông ấy nhận được một hoặc hai cuộc gọi.”
“Ông ấy có nói tiếng Đức vào những dịp ấy không?” Richler vội hỏi. Ông có vẻ hào hứng.
“Không ạ,” Todd đáp, chợt cẩn trọng. Nó không thích sự hào hứng của Richler – có gì đó không đúng, có gì đó nguy hiểm. Nó thấy chắc chắn như thế, và bất chợt Todd phải gồng người dữ dội mới có thể ngăn bản thân không vã mồ hôi như tắm. “Ông ấy không nói gì nhiều. Cháu nhớ có vài lần ông ấy bảo, ‘Cậu bé đọc cho tôi đang ở đây. Tôi sẽ gọi lại sau.”
“Bác cá hắn đây rồi!” Richler nói, vỗ tay đen đét lên đùi. “Bác dám đem hai tuần lương ra cá đó chính là hắn!” Ông đóng cuốn sổ lại đánh bộp (theo như Todd thấy ông ấy chẳng làm gì ngoài vẽ ngoằn ngoèo bên trong) rồi đứng dậy. “Tôi xin cảm ơn cả gia đình vì đã dành thời gian. Đặc biệt là cháu, Todd ạ. Ta biết tất cả là một cú sốc nặng với cháu, nhưng nó sẽ sớm qua đi. Chiều nay, chúng ta sẽ lật tung căn nhà ấy lên – từ tầng hầm lên tầng áp mái rồi lại lục tầng hầm thêm lần nữa. Chúng ta sẽ huy động tất cả những đội đặc nhiệm đến. Có thể chúng ta sẽ lần được người gọi điện cho Dussander.”
“Cháu hy vọng vậy,” Todd đáp.
Richler bắt tay cả gia đình rồi ra về. Dick hỏi Todd có muốn ra ngoài đánh cầu lông cho khuây khỏa đầu óc đến bữa trưa không. Todd bảo nó không có tâm trạng chơi cầu lông hay ăn trưa, đoạn đi lên tầng trên, đầu cúi gằm, so vai. Bố mẹ nó đưa mắt nhìn nhau đầy thông cảm và buồn lòng. Todd nằm lên giường, nhìn chằm chằm lên trần, nghĩ về khẩu .30-.30. Nó có thể thấy rõ mồn một khẩu súng trong tâm trí. Nó hình dung đến việc thọc thẳng nòng súng thép đánh bóng lên cái háng nhớt nhúa của con nhỏ Do Thái Betty Trask – đúng thứ con ả cần, một khẩu súng không bao giờ xìu. Mày thích nó không, Betty? nó nghe thấy mình cất giọng hỏi đứa con gái ấy. Khi nào thấy đủ rồi thì bảo tao nhé? Nó tưởng tượng con bé ấy hét toáng lên. Và cuối cùng, nụ cười khô khốc gớm ghiếc nở trên khuôn mặt nó. Nhớ nhé, cứ bảo tao đấy, con khốn... được không? Được không? Được không?...
“Vậy anh nghĩ thế nào?” Weiskopf hỏi Richler khi Richler đón anh đi ăn ở một cửa tiệm cách nhà Bowden ba dãy.
“Ừ, tôi nghĩ thằng nhóc có dính líu,” Richler đáp. “Phần nào, theo cách nào đó, ở mức độ nào đó. Nhưng nó giữ cái đầu lạnh hay không ư? Nếu cậu đổ nước sôi vào mồm nó, tôi nghĩ nó sẽ phun ra đá viên đấy. Tôi khiến thằng nhóc lòi đuôi vài lần, nhưng tôi không thu thập được gì có thể sử dụng ở tòa. Và nếu tôi đào sâu hơn, một tay luật sư khôn ngoan nào đấy có thể đưa thằng nhóc ra khỏi bẫy tầm một hoặc hai năm ngay cả khi có đầu mối gì đó. Ý tôi là, tòa án vẫn sẽ xem thằng nhóc này là vị thành niên – nó mới mười bảy tuổi thôi. Theo nhiều cách, tôi đoán thật ra nó đã thôi làm trẻ vị thành niên từ năm nó tám tuổi rồi. Thằng nhóc ấy làm tôi sởn gai ốc.” Richler đưa một điếu thuốc lên môi rồi cười phá lên – tiếng cười hơi run rẩy. “Nói đúng hơn là vô cùng sởn gai ốc.”
“Nó để lộ sơ hở gì thế.”
“Các cuộc gọi. Đó là yếu tố chính. Khi tôi mớm cho nó ý tưởng này, tôi có thể thấy mắt nó sáng lên như đèn pha.” Richler rẽ trái rồi đánh lái chiếc Chevy Nova nhạt nhòa của ông xuống làn đường dẫn vào xa lộ. Cách đó gần hai trăm mét về phía tay phải là triền dốc và cây đổ, chỗ Todd nhắm khẩu súng trường của mình về phía xe cộ trên xa lộ và bắn giả lập vào một ngày thứ Bảy cách đây không lâu.
“Hẳn là nó tự nhủ, ‘Gã cớm này đúng là bị thần kinh mới nghĩ Dussander có một người bạn phát xít trong thị trấn, nhưng nếu hắn ta nghĩ thế thì mình né được bàn thua trông thấy rồi.’ Vậy nên nó bảo, phải, hằng tuần, Dussander nhận được một hoặc hai cuộc gọi. Vô cùng bí ẩn. ‘Tôi không nói chuyện được, đang bận, gọi lại sau, – nôm na vậy. Nhưng số điện thoại của Dussander được xếp hạng ‘điện thoại im lặng mức đặc biệt suốt bảy năm nay. Gần như không có cuộc gọi nào, đặc biệt, không có cuộc gọi nào đường dài. Làm gì có chuyện hằng tuần lão ta nhận được một hoặc hai cuộc gọi.”
“Còn gì nữa không?”
“Nó lập tức đi đến kết luận rằng lá thư biến mất, ngoài ra không còn gì bị mất. Nó biết đó là thứ duy nhất bị mất vì nó là người quay lại lấy lá thư.”
Richler dụi điếu thuốc vào gạt tàn.
“Chúng tôi nghĩ lá thư chỉ là dàn dựng thôi. Chúng tôi cho rằng Dussander lên cơn đau tim khi đang cố chôn cái xác kia... cái xác mới nhất. Trên giày và cổ tay áo của lão dính đất, nên giả định này tương đối hợp lý. Điều đó có nghĩa lão ta gọi cho thằng nhóc sau khi lên cơn đau tim, chứ không phải trước. Lão bò lên trên tầng rồi gọi cho thằng nhóc. Thằng nhóc phát hoảng – có khi cả đời nó chưa bao giờ hoảng như thế – rồi trong lúc quýnh quảng, nó bịa đại chuyện về lá thư. Không hay, nhưng cũng không tệ... xét đến tình hình lúc đó. Nó đến dọn mớ lộn xộn ở nhà Dussander cho lão. Rồi thằng nhóc bị quá tải. Cấp cứu trên đường đến, bố nó cũng đang đến, và nó cần lá thư để dựng cảnh. Nó lên trên tầng, phá cái hộp…”
“Anh có xác nhận rồi à?” Weiskopf vừa hỏi vừa châm một điếu thuốc. Loại anh hút là Player không đầu lọc, Richler thấy nó có mùi chẳng khác gì phân ngựa. Ông thầm nghĩ trong đầu, hèn gì Đế chế Anh sụp đổ, họ hút thứ thuốc lá như vậy kia mà.
“Phải, chúng tôi thu được cả mớ xác nhận,” Richler nói. “Trên hộp có dấu vân tay khớp với hồ sơ học bạ của nó. Nhưng dấu vân tay của nó nằm trên gần như tất cả mọi thứ trong căn nhà chết toi ấy!”
“Nếu anh đưa chuyện này ra cật vấn nó, thể nào anh cũng làm nó phát hoảng,” Weiskopf nói.
“Ồ, nghe này, thế là cậu chưa biết thằng nhóc ấy rồi. Khi tôi bảo nó giữ cái đầu lạnh, tôi nói thật đấy. Nó sẽ bảo Dussander nhờ nó lấy cái hộp ấy một hai lần để lão ta cất đồ hay lấy đồ chẳng hạn.”
“Dấu vân tay nó còn ở trên xẻng nữa.”
“Nó sẽ bảo nó dùng xẻng để trồng một bụi hoa hồng trong sân sau.” Richler rút gói thuốc ra nhưng trống không. Weiskopf mời ông điếu thuốc Player. Richler bèn hít một hơi nhưng ho khụ khụ. “Vị dở y như mùi,” ông nghẹn.
“Như mấy cái hamburger chúng ta ăn trưa hôm qua chứ gì,” Weiskopf mỉm cười. “Burger của Mac ấy.”
“Big Mac,” Richler nói rồi phá lên cười. “Rồi rồi. Sự giao thoa giữa các nền văn hóa không phải lúc nào cũng hiệu quả.” Nụ cười của ông tắt ngóm. “Nó nhìn rất chỉn chu, cậu biết không?”
“Vâng”
“Nó không phải tội phạm vị thành niên từ Vasco, tóc để dài chấm mông, mang đôi bốt hầm hố đính đầy dây xích.”
“Đúng thế.” Weiskopf đưa mắt nhìn dòng xe cộ xung quanh họ, lòng thầm vui mừng mình không phải người cầm lái. “Nó chỉ là một thằng nhóc. Một thằng nhóc da trắng từ một mái nhà êm ấm. Tôi thấy thật khó tin khi...”
“Tôi tưởng ở Israel, các cậu rèn luyện cho thanh niên biết dùng súng trường và lựu đạn lúc họ mười tám tuổi chứ.”
“Phải. Nhưng nó mới mười bốn tuổi khi mọi thứ bắt đầu. Tại sao một đứa trẻ mười bốn tuổi lại giao du với kẻ như Dussander kia chứ? Tôi đã cố hết sức lý giải nhưng không tài nào hiểu nổi.”
“Đành chấp nhận thôi,” Richler nói, búng điếu thuốc lá ra ngoài cửa sổ. Hút nó mà ông đau cả đầu.
“Có lẽ chuyện xảy ra là sẩy tay của tạo hóa. Một sự tình cờ. Ngẫu nhiên. Tôi nghĩ trên đời này có cả ngẫu nhiên tốt và ngẫu nhiên xấu.”
“Tôi không biết cậu đang nói gì,” Richler u sầu nói. “Tôi chỉ biết thằng nhóc ấy khiến tôi sởn gai ốc hơn cả bọ dưới tảng đá.”
“Điều tôi đang nói đơn giản lắm. Những đứa trẻ khác sẽ mừng rỡ báo với bố mẹ hoặc cảnh sát rằng Con đã nhận diện được một kẻ bị truy nã. Lão ta đang sống ở địa chỉ này. Vâng, con chắc chắn. Sau đó để nhà chức trách lo liệu. Anh có thấy tôi nói sai không?”
“Không, tôi không thấy cậu sai. Thằng nhóc sẽ trở thành tâm điểm cho mọi người trầm trồ trong ít ngày. Đa phần con nít thích như thế lắm. Được đăng hình trên báo, phỏng vấn vào chương trình tin tức tối, được nhà trường tặng thưởng công dân mẫu mực.” Richler phá lên cười. “Chậc, có khi nó còn được lên Người thật ấy chứ.
“Là gì thế?”
“Bỏ qua đi,” Richler nói. Ông hơi lên giọng vì mấy chiếc xe tải mười bánh đang chạy hai bên chiếc Nova. Weiskopf lo lắng hết nhìn bên này đến nhìn bên kia. “Cậu không muốn biết đâu. Nhưng cậu nói đúng về đa phần con nít. Đa phần thôi.”
“Thằng nhóc này thì không,” Weiskopf nhận xét. “Thằng nhóc này, có lẽ chỉ nhờ vào may mắn, đã nhìn thấu lớp vỏ bọc của Dussander. Tuy nhiên, thay vì báo với bố mẹ nó hay chính quyền... nó lại đến chỗ Dussander. Tại sao? Anh bảo anh không quan tâm, nhưng tôi nghĩ là có. Tôi nghĩ nó ám ảnh anh cũng nhiều như nó ám ảnh tôi.”
“Không phải để tống tiền,” Richler khẳng định. “Chắc hẳn là thế. Đứa trẻ ấy có mọi thứ mà tuổi của nó muốn. Trong ga ra có một chiếc xe đua giải trí, chưa kể trên tường còn có khẩu súng săn voi. Và ngay cả khi nó muốn vắt kiệt Dussander cho vui, Dussander cũng không có gì để bòn rút. Ngoài dăm ba cổ phiếu, lão ta còn chẳng có mồng tơi mà rớt.”
“Anh có chắc thằng nhóc không biết anh đã phát hiện những cái xác không?”
“Tôi chắc. Có thể chiều nay, tôi sẽ quay lại và bồi nó cú này. Hiện giờ đây có thể là cú chí tử của chúng ta.” Richler khẽ đập lên tay lái. “Nếu tất cả những điều này được phát hiện sớm hơn dù chỉ một ngày, tôi nghĩ tôi có thể xin lệnh khám xét ấy chứ.”
“Bộ quần áo mà thằng nhóc mặc tối hôm đó à?”
“Phải. Nếu phát hiện được mẫu đất trên quần áo nó khớp với đất dưới hầm nhà Dussander, tôi nghĩ khả năng chúng ta vạch trần được nó rất cao. Nhưng quần áo nó mặc tối hôm đó có khi đã được giặt đi giặt lại sáu lần rồi.”
“Còn những kẻ lang thang khác bị giết thì sao? Những cái xác sở cảnh sát của anh tìm thấy quan thành phố ấy?”
“Vụ đó do Dan Bozeman xử lý. Tôi nghĩ không có liên hệ gì đâu. Dussander không khỏe được đến thế... ngoài ra, lão ta đã có sẵn mánh lới hoạt động hiệu quả rồi. Hứa cho họ ăn uống, dùng xe buýt thành phố – mẹ kiếp, xe buýt thành phố đấy! — đưa họ về nhà rồi xả xác họ ngay trong bếp.”
Weiskopf trầm lặng: “Kẻ tôi đang nghĩ đến không phải Dussander.”
“Cậu nói vậy là có ý g...” Richler đang nói dở thì chợt ngậm miệng lại. Có một khoảng im lặng dài dằng dặc, rải rác tiếng xe cộ ầm ĩ xung quanh. Đoạn Richler khẽ cất tiếng: “Này, này, cậu cứ đùa. Cho tôi xin một chữ bình...”
“Dưới tư cách đặc vụ của chính phủ nhà nước tôi, tôi chỉ quan tâm đến Bowden vì những điều nó có thể biết về mối quan hệ mà Dussander còn lưu giữ với giới phát xít ngầm. Nhưng dưới tư cách con người, tôi càng lúc càng quan tâm đến thằng nhóc ấy. Tôi muốn biết điều gì khiến nó bị kích thích. Tôi muốn biết lý do. Và khi cố gắng trả lời câu hỏi ấy cho thỏa lòng mình, càng lúc, tôi càng tự hỏi Còn gì nữa không?
“Nhưng…”
“Tôi thầm nhủ phải chăng những hành động không bằng cầm thú mà Dussander đã dự phần chính là thứ tạo nên sự liên kết giữa hai người bọn họ? Tôi tự bảo với mình, suy nghĩ ấy thật quá đáng. Những thứ đã xảy ra trong các trại tập trung ấy vẫn đủ sức khiến chúng ta cồn cào buồn nôn. Bản thân tôi cũng cảm thấy thế, dù người thân duy nhất của tôi từng chịu cảnh đày đọa trong trại là ông tôi, và ông qua đời năm tôi lên ba. Nhưng có lẽ trong những điều người Đức đã làm ẩn chứa thứ gì đó kích thích sự tò mò chết người nơi chúng ta – nó khơi mở hầm mộ của óc tưởng tượng. Có lẽ một phần sợ hãi, kinh sợ trong chúng ta xuất phát từ việc chúng ta thầm ý thức được rằng dưới những điều kiện đúng – hoặc sai – nhất định, bản thân chúng ta sẽ sẵn lòng xây dựng nơi như thế và làm việc tại đó. Thứ ngẫu nhiên xấu. Có lẽ chúng ta biết khi thiên thời địa lợi nhân hòa, thứ sống dưới hầm mộ kia sẽ vui sướng bò ra. Anh nghĩ hình dạng của chúng ra sao? Một đám Lãnh tụ điên với chỏm tóc trên đầu và hàng ria mép giống bàn chải giày, hồ muôn năm ở mọi lúc mọi nơi à? Hay giống những con quỷ đỏ, quái vật, hoặc rồng phần phật bay trên đôi cánh bò sát hôi hám?”
“Tôi chịu,” Richler đáp.
“Tôi nghĩ đa phần bọn chúng trông giống những tay kế toán viên bình thường” Weiskopf tiếp tục. “Những kẻ thấp bé lao động trí óc, suốt ngày mày mò biểu đồ, lưu đồ, máy tính, sẵn sàng tăng tỷ lệ giết chóc lên mức tối đa để lần tới có thể kết liễu hai mươi hay ba mươi triệu chứ không chỉ sáu triệu. Và một số kẻ có thể mang vẻ ngoài như Todd Bowden.”
“Cậu cũng ở mức sởn gai ốc như thằng nhóc chứ chẳng vừa đâu” Richler thốt lên.
Weiskopf gật đầu. “Chủ đề này sởn gai ốc thật. Phát hiện xác người và xác động vật trong tầng hầm nhà Dussander... việc đó có kém gì, nu ? Anh đã bao giờ nghĩ đến khả năng ban đầu, đơn giản là thằng nhóc hứng thú với chủ đề trại tập trung thôi không? Hứng thú như những cậu bé hứng thú với sưu tập tiền xu, tem hoặc thích đọc về những kẻ sống ngoài vòng pháp luật miền viễn tây? Và nó đi thẳng đến chỗ Dussander để thu được nguồn thông tin từ chính kẻ trong nghề?”
“Trong cuộc” Richler sửa lại theo phản xạ. “Trời ạ, giờ thì cái gì tôi cũng tin được.”
“Có lẽ thế,” Weiskopf lầm bầm. Tiếng nói của anh gần như bị khỏa lấp trong tiếng ầm ì của một chiếc xe tải mười bánh chạy ngang qua họ, thành xe in dòng chữ BUDWEISER cao 1 mét 8. Đất nước này tuyệt vời quá, Weiskopf thầm nghĩ rồi châm thêm điếu thuốc. Họ không biểu nổi làm cách nào người dân nước mình có thể sống với đám Ả Rập nửa điên nửa dại xung quanh, nhưng nếu mình sống ở đây hai năm, chắc mình suy nhược thần kinh mất. “Có lẽ. Và có lẽ không thể đứng gần những vụ tàn sát chất chồng tàn sát mà không bị ảnh hưởng”