Chúng tôi dựng nhà trên cây đu lớn nhô ra bãi đất trống ở Castle Rock. Hiện giờ có một công ty dịch vụ vận chuyển trên mảnh đất ấy, còn cây đu đã không còn. Thế gian vật đổi sao dời. Chúng tôi là hội cạ cứng, dù chẳng đặt tên cho hội. Thành viên thường trực có năm, hoặc sáu người cùng mấy đứa khác thỉnh thoảng nhập bọn. Chúng tôi cho đám này lên nhà trên cây khi chơi bài mà cần làn gió mới. Thường chúng tôi chơi xì dách, chỉ đặt mấy xu lẻ, tối đa là năm xu. Nhưng ta cá gấp đôi tiền vào xì dách và ngũ linh, cá gấp ba tiền vào lục linh, mặc dù Teddy là đứa khùng điên duy nhất sẵn sàng cá kiểu đó.
Tường của căn nhà trên cây là những tấm ván lượm lặt từ đống rác rến đằng sau công ty Cung cấp Gỗ & Xây dựng Mackey trên đường Carbine – chúng chắp vá, đầy hốc mắt mà chúng tôi phải lấy giấy vệ sinh hoặc giấy lau bếp chèn. Mái nhà là tấm tôn gợn sóng chúng tôi kiếm được từ bãi rác, lấm lét nhìn sau lưng suốt khoảng thời gian khiêng nó đi, vì người ta đồn con chó của lão trông coi bãi rác là quái vật ăn thịt con nít. Cùng ngày hôm đó, chúng tôi tìm được một cánh cửa lưới. Nó là lưới chống côn trùng nhưng đã gỉ sét lắm rồi – tôi nói thật, lớp gỉ sét của nó phải thuộc dạng thượng thừa. Bất kể nhìn ra ngoài cửa vào thời điểm nào, trông quang cảnh cũng như hoàng hôn.
Ngoài chơi bài, hội còn là nơi thích hợp để hút thuốc và đọc sách đen. Có khoảng năm, sáu gạt tàn thiếc cũ nát dưới đáy đề Camel, rất nhiều trang tạp chí ghim lên phần tường chắp vá, hai mươi hay ba mươi bộ bài hãng Bicycle đã quăn góc (Teddy được chú cậu ta – vốn là chủ tiệm văn phòng phẩm Castle Rock – tặng vào một ngày khi chú ấy hỏi thăm chúng tôi chơi bài gì, và Teddy đáp cả bọn đang tổ chức chơi cribbage, chú thấy hay nên ủng hộ), một bộ phỉnh nhựa, một đống tạp chí phá án Thám tử đại tài xưa như trái đất để lật cho vui khi không còn việc gì làm. Chúng tôi cũng dựng một ngăn bí mật 30 phân x 25 phân dưới sàn nhà để giấu tất tần tật đống này trong những dịp hiếm hoi khi bố của đứa nào đó nổi hứng vui vầy bố-con-ta-là-bạn-tốt. Lúc trời mưa, ở trong căn nhà trên cây chẳng khác nào ngồi giữa trống thép Jamaica... nhưng mùa hè năm ấy không mưa giọt nào.
Thời tiết năm đó nóng và khô nhất kể từ năm 1907 – hoặc chí ít đó là những gì báo chí nói, và vào thứ Sáu tuần lễ Quốc tế Lao động và khởi đầu năm học mới, ngay cả cúc hoàng anh trong cánh đồng và mương cạnh đường sau nhìn cũng khô cằn và nứt nẻ. Năm ấy, chẳng có vườn nhà ai xanh tươi nổi, biển trưng bày rượu vang đỏ và trắng Castle Rock vẫn ở đó phủ bụi. Mùa hè ấy, không ai muốn dựng biển quảng cáo gì, có lẽ ngoại trừ rượu bồ công anh.
Buổi sáng thứ Sáu, Teddy, Chris với tôi đang ở trong căn nhà trên cây, than vãn với nhau về việc sắp sửa phải đi học lại, vừa chơi bài vừa kể cho nhau nghe những câu chuyện cười quen thuộc về mấy ông bán hàng rong và về người Pháp. Làm thế nào để biết một người Pháp đã ghé qua sân sau nhà bạn? Chà, thùng rác nhà bạn trống trơn còn chó bạn nuôi dính bầu. Teddy sẽ ra vẻ bị xúc phạm, nhưng nó chính là người đầu tiên đem câu chuyện cười này ra kể khi vừa nghe từ người khác, chỉ có điều nó chuyển người Pháp thành người Ba Lan.
Cây đu tỏa bóng mát sum suê, nhưng chúng tôi vẫn cởi áo ra để không đổ mồ hôi ướt áo. Chúng tôi chơi bài scat ba đồng xu [48E] , trò đánh bài chán nhất trần đời, nhưng trời nóng quá nên chẳng đứa nào còn đủ tỉnh táo để chơi trò nào phức tạp hơn. Đám chúng tôi tập hợp thành một đội bóng chày cũng được lắm, nhưng chỉ được đến giữa tháng Tám, còn sau đó cả đội tan đàn xẻ nghé. Do nóng như đổ lửa.
Tôi đang tập trung vào công việc của mình và tích các lá pích lại. Ban đầu, tôi có mười ba, thêm một lá tám thành hai mươi mốt, nhưng nãy giờ vẫn chưa có chuyển biến gì. Chris tuyên bố dằn. Tôi bốc nốt lá cuối cùng mà cũng không ăn thua.
“Hai mươi chín,” Chris nói rồi, trình những lá bài rô ra.
“Hai mươi hai,” Teddy cấm cảu nói.
“Công dã tràng,” tôi nói, rồi ném úp bài lên bàn.
“Gordie bị loại, Gordie bạn hiền vừa ngậm bịch và bước ra khỏi cửa,” Teddy í ới rồi cất nụ cười độc quyền mang danh Teddy Duchamp – hí hí hí, giống tiếng cây đinh gỉ sét bị rút từ từ khỏi tấm gỗ mục nát. Ở, cậu ta dị lắm; chúng tôi đều biết điều đó. Cậu ta cũng sắp tròn mười ba tuổi như chúng tôi, nhưng cặp kính dày cui và bộ trợ thính cậu đeo lắm lúc khiến cậu ta trông cứ như ông già. Đi trên đường, đám con nít lúc nào cũng cố xin cậu ta điếu thuốc, nhưng thật ra phần lồi lên dưới lần áo của cậu ta chỉ là pin máy trợ thính thôi.
Dù đã có cặp kính dày cộp và cái nút màu máu tươi lúc nào cũng gắn vào tai, thị lực của Teddy rất kém, chưa kể còn hay hiểu sai lời người khác nói. Khi chơi bóng chày, lúc nào cũng phải giao cậu ta vị trí sát hàng rào, cách Chris ở ngoài cánh trái và Billy Greer ngoài cánh phải cả đoạn. Sau đấy là thầm hy vọng không ai đánh bóng xa đến vậy vì Teddy sẽ cắm đầu cắm cổ đuổi theo bóng dù có thấy đường hay không. Thỉnh thoảng cậu ta lại vấp ngã một cú ra trò, có lần còn bất tỉnh nhân sự sau khi phi hết tốc lực thẳng vào hàng rào gần căn nhà trên cây. Cậu ta nằm vật ra đấy, mắt trợn trắng dã phải đến gần năm phút khiến tôi sợ mất mật. Đoạn cậu ta tỉnh lại, đi lòng vòng với cái mũi chảy máu và cục u tím bầm trên trán, cứ khăng khăng trái vừa rồi là bóng lỗi.
Thị lực cậu ta kém bẩm sinh, nhưng những gì xảy ra với tai cậu thì không bẩm sinh chút nào. Ngày ấy thịnh hành kiểu tóc cắt để hai tai thò ra như quai bình nước, thế mà Teddy đi tiên phong là người đầu tiên ở Castle Rock cắt tóc kiểu the Beatles – bốn năm trước khi đất Mỹ nghe danh ban nhạc ấy. Cậu ta để tóc che tai vì tai cậu trông chẳng khác nào hai cục sáp ấm.
Năm Teddy lên tám, bố cậu ta nổi cơn tam bành vì thằng con trai làm vỡ một cái đĩa. Khi chuyện xảy ra, mẹ cậu đang đi làm ở nhà máy giày trên South Paris, và đến khi bà phát hiện, sự đã rồi.
Bố của Teddy kéo cậu ta đến cái bếp lò bằng củi to đùng nằm cuối nhà bếp rồi gí một bên đầu của Teddy xuống mặt bếp đun bằng gang. Lão ta cứ thế giữ đầu cậu chừng mười giây. Đoạn lão giật tóc kéo Teddy lên rồi làm điều tương tự với bên tai còn lại. Xong xuôi, lão gọi cho bộ phận cấp cứu của bệnh viện Đa khoa Trung tâm, báo họ đến đưa thằng bé đi viện. Sau khi cúp máy, lão bước đến chỗ tủ quần áo, lấy khẩu súng .410 ra rồi ngồi xem phim trên ti vi với khẩu súng săn để trên đầu gối. Khi bà Burroughs hàng xóm nhà bên cạnh chạy qua hỏi Teddy có ổn không – bà nghe thấy tiếng hét – thì bố của Teddy chĩa thẳng khẩu súng về phía bà. Bà Burroughs quảng quàng chạy khỏi nhà Duchamp với tốc độ ánh sáng, trở về nhà, khóa cửa cẩn thận rồi gọi cảnh sát. Khi xe cấp cứu đến, lão Duchamp cho hộ lý vào rồi bước ra hiên sau nhà canh gác trong lúc họ để Teddy lên cáng và đẩy ra xe cấp cứu Buick đã cũ, dòng có lỗ thoát khí đặc trưng.
Bố của Teddy giải thích với hộ lý dù đám sĩ quan ăn trốc ngồi trên bảo khu vực này an toàn, nhưng những tay bắn tỉa người Đức vẫn lảng vảng khắp nơi. Một hộ lý bèn hỏi bố Teddy lão ta nghĩ mình có cầm cự được hay không, lão bèn nở nụ cười gượng gạo và đáp lão sẽ cầm cự cho đến khi địa ngục được như đại lý phân phối tủ lạnh Frigidaire. Người hộ lý giơ tay chào, thấy thế, bố của Teddy bèn giơ tay chào lại. Vài phút sau khi xe cấp cứu rời đi, cảnh sát bang đến và cho Norman Duchamp ngừng cảnh giới.
Hơn một năm ấy, lão đã làm đủ trò kỳ dị như bắn chết mèo hay đốt hòm thư, và sau hành vi tàn bạo mà lão gây ra cho cậu con trai, người ta mở phiên tòa xét xử nhanh rồi tống lão vào bệnh viện Togus vốn là một bệnh viện của Bộ Cựu chiến binh. Togus là nơi những người lính bị cho giải ngũ vì lý do tâm thần bất ổn sẽ đến. Bố của Teddy ngày trước từng chiếm đóng bãi biển ở Normandy, hoặc chí ít theo lời cậu ta kể là thế. Teddy rất tự hào về ông bố mình, bất chấp những gì lão đã gây ra cho cậu ta, hằng tuần, Teddy đều cùng mẹ vào thăm bố.
Tôi đoán cậu ta là kẻ đần độn nhất trong hội chúng tôi, chưa kể đầu óc còn hâm hấp. Cậu ta có máu liều làm những trò ngàn cân treo sợi tóc mà lần nào cũng trót lọt. Cái trò cậu ta tự hào nhất là “né xe tải.” Cậu ta sẽ nhào ra trước xe tải trên xa lộ 196, có những lúc xe sượt qua người cách vỏn vẹn vài phân. Có Chúa mới biết bao phen cậu ta khiến chúng tôi đau tim, còn đương sự thì cười khùng khục trong khi cơn gió từ chiếc xe tải vừa lao qua khiến quần áo của cậu lật phật. Chúng tôi sợ mất mật vì thị lực cậu ta cùi bắp, dù có đeo cặp kính dày như đít chai Coca-Cola hay không. Việc cậu ta ước lượng sai khoảng cách chiếc xe tải nào đó chỉ là vấn đề thời gian. Và bạn phải cẩn thận cân nhắc bạn thách đố cậu ta cái gì, vì chỉ cần thách là Teddy sẵn sàng chơi tới bến.
“Gordie bị loại rồi, hí hí hí!”
“Thôi đi,” tôi nói rồi cầm cuốn tạp chí Thám tử Đại tài lên đọc trong lúc bọn bạn chơi tiếp. Lật đến “Hắn đạp cô nữ sinh xinh đẹp đến chết trong thang máy bị kẹt” rồi say sưa đọc.
Teddy cầm bài của mình lên nhìn sơ qua rồi tuyên bố: “Tớ dằn.”
“Đồ cục cứt bốn mắt!” Chris ré lên.
“Cục cứt có nghìn mắt nhé,” Teddy trang trọng đáp, khiến cả Chris và tôi phá lên cười nắc nẻ. Teddy khẽ nhíu mày chằm chằm nhìn chúng tôi như thể đang tự hỏi bọn tôi thấy gì buồn cười. Đó cũng là một đặc điểm chẳng giống ai của cậu ta – Teddy lúc nào cũng phát ngôn những câu kỳ cục như “Cục cứt có nghìn mắt”, và không biết cậu ta nói vậy để pha trò hay ý cậu ta thật sự là thế. Cậu ta sẽ nhìn đám bạn đang cười ha hả, khẽ chau mày như muốn nói: Ôi lạy Chúa tôi, lần này là gì đây?
Teddy có tổng số điểm là ba mươi – bồi, đầm, già. Chris chỉ đạt mười sáu nên thua cuộc.
Lúc Teddy đang xào bài một cách vụng về còn tôi đang đọc đến đoạn hay của câu chuyện giết người, khi tay thủy thủ loạn trí từ New Orleans giậm chân nhảy kiểu Bristol Stomp lên người cô sinh viên đại học từ Bryn Mawr vì hắn không tài nào chịu nổi cảnh bị nhốt trong không gian hẹp, thì chúng tôi nghe thấy có tiếng người thoăn thoắt leo lên thang gắn vào thân cây đu. Tiếng gõ vang lên bên dưới cửa sập.
“Ai gọi đó?” Chris hét lên.
“Vern đây!” Nó có vẻ hào hứng và hụt hơi.
Tôi đi đến cửa sập, kéo chốt. Cửa sập mở toang và Vern Tessio, một trong những thành viên thường trực của hội, vươn người vào bên trong căn nhà trên cây. Cậu ta đổ mồ hôi như tắm, mái tóc thường ngày vốn được chải chuốt giống y thần tượng rock and roll Bobby Rydell nay bết vào cái đầu tròn thành một mớ bùng nhùng.
“Ôi trời đất ơi,” cậu ta thở hồng hộc. “Các cậu nghe xong đừng có sốc.”
“Nghe gì kia?” tôi hỏi.
“Cho tớ thở đã. Tớ hộc tốc chạy từ nhà đến đây đó.”
“ Anh hộc tốc chạy về nhà ,” Teddy the thé nhái giọng của Little Anthony một cách dở tệ, “ chỉ để nói anh sin nhỗi ...” [49E]
“Cậu lượn đi cho nước nó trong” Vern cộc cằn.
“Còn cậu ngỏm đi cho đỡ chật đất,” Teddy lem lẻm.
“Cậu chạy một mạch từ nhà đến tận đây hả?” Chris ngạc nhiên hỏi. “Trời, cậu điên rồi.” Nhà của Vern cách đây hơn 3 cây số, dưới đường Grand. “Ngoài trời phải đến 32 độ C là ít.”
“Không nhằm nhò gì,” Vern nói. “Ôi lạy Chúa. Các cậu sẽ không tin chuyện này đâu. Thật đấy.” Cậu ta vỗ đánh bép vầng trán mướt mồ hôi để chứng tỏ mình thành thật đến mức nào.
“Ờ, thế chuyện gì?” Chris hỏi.
“Các cậu xin cắm trại ngoài trời tối nay được không?” Vern nhìn chúng tôi với đôi mắt chân thành, háo hức. Đôi mắt cậu ta trông cứ như hai hạt nho khô bị nhét vào những vòng mồ hôi đen thui. “Ý tớ là, các cậu bảo với bố mẹ bọn mình cắm trại ở cánh đồng sau nhà tớ được không?”
“Ừ, chắc là được,” Chris nói, nhìn lá bài mình vừa rút. “Nhưng gần đây bố tớ xấu tính lắm. Nốc rượu miết.”
“Cậu phải xin cho bằng được,” Vern tha thiết. “Tớ nói thật. Các cậu sẽ không tin chuyện này đâu. Cậu xin được không, Gordie?”
“Có lẽ được.”
Tôi không gặp khó khăn gì trong những vụ như thế này – hay nói đúng hơn, cả mùa hè năm ấy, tôi chẳng khác nào Cậu bé Vô hình. Tháng Tư, Dennis, anh hai của tôi, thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe Jeep. Chuyện xảy ra ở Fort Benning, Georgia, nơi anh đang được huấn luyện tác chiến cơ bản. Anh và một người nữa đang trên đường đến trạm bán hàng quân đội thì bị một chiếc xe tải quân đội đâm ngang hông xe. Dennis mất mạng ngay lập tức còn người bạn đi cùng rơi vào tình trạng hôn mê tới tận bây giờ. Cuối tuần ấy, anh sẽ tròn hai mươi hai tuổi. Tôi đã chọn sẵn cho anh tấm thiệp chúc mừng sinh nhật ở cửa hàng Dahlie’s trên Castle Green.
Lúc nghe tin, tôi òa khóc, tôi còn khóc dữ hơn ở đám tang, và tôi chẳng tài nào tin nổi Dennis không còn trên cõi đời này, rằng cái người ngày xưa từng ký đầu tôi hay dùng con nhện cao su dọa cho đến khi tôi bù lu bù loa hoặc thơm tôi khi tôi bị ngã, hai gối trầy trụa, chảy máu rồi thì thầm vào tai tôi, “Nào nào, đừng khóc nữa, đồ con nít!” – rằng cái người từng chạm vào tôi nay không còn trên đời. Tôi đau lòng, sợ hãi khi anh đã ra đi... nhưng còn bố mẹ tôi, họ như mất đi cả cõi lòng. Đối với tôi, anh Dennis tương tự một người quen. Anh lớn hơn tôi mười tuổi, nếu bạn hiểu ý tôi là gì, anh có hội bồ tèo riêng, bạn cùng lớp riêng. Chúng tôi ăn cùng bàn suốt nhiều năm liền, thỉnh thoảng anh là bạn tôi, thỉnh thoảng anh lại là kẻ đày đọa đời tôi, nhưng đa phần thì, bạn biết đấy, anh chỉ là một cậu chàng. Lúc qua đời, anh đã xa nhà được một năm, ngoại trừ vài lần về nhà nghỉ phép. Hai anh em tôi còn chẳng giống nhau nữa kìa. Sau mùa hè năm ấy một khoảng thời gian dài, tôi mới nhận ra hầu hết những giọt nước mắt tôi ứa ra là cho bố mẹ tôi. Chuyện tác động quá nhiều tới họ, và tới tôi.
“Thế có vụ gì mà cậu như đỉa phải với thế, Vern-O?” Teddy hỏi.
“Tớ dằn nhé,” Chris nói.
“ Cái gì? ”Teddy gào lên, ngay lập tức quên bằng chuyện của Vern. “Đồ nói dối! Cậu làm gì có bài ngon như thế. Tớ không hề xóc bài cho cậu ngon vậy.”
Chris nhếch mép cười. “Rút bài đi, đồ cục cứt.”
Teddy vươn tay đến lá bài trên cùng của xấp bài. Chris với lấy gói thuốc Winston trên rìa tường đằng sau. Tôi chúi người nhặt cuốn tạp chí phá án.
Vern Tessio cất tiếng: “Các cậu có muốn đi xem xác chết không?”
Cả bọn khựng lại.