Cả bọn đến bãi rác vào khoảng 1 giờ rưỡi, Vern dẫn đầu cả nhóm xuống triền dốc với hiệu lệnh Đội nhảy dù di chuyển sang bên! Chúng tôi thoăn thoắt nhảy xuống chân dốc rồi vọt qua dòng nước lợ đang không ngừng rỉ từ ống cống thò ra khỏi đống than xỉ. Xa xa bên kia khu vực lầy lội này là rìa cát đầy rác rến của bãi rác.
Xung quanh có một hàng rào bảo vệ cao một mét tám. Cứ sáu trăm mét lại có một tấm biển dãi dầu mưa nắng đề:
BÃI RÁC CASTLE ROCK
MỞ CỬA 4 – 8 GIỜ TỐI
THỨ HAI ĐÓNG CỬA
KHÔNG PHẬN SỰ CẤM VÀO
Chúng tôi trèo lên đỉnh hàng rào, vung chân qua rồi nhảy xuống. Teddy và Vern dẫn đường đến một cái giếng bơm tay kiểu cũ – loại giếng muốn có nước thì ta phải hì hụi bỏ công sức bơm lên. Cạnh tay gạt của giếng bơm có để bình Crisco đựng đầy nước, quên đổ đầy cho người tiếp theo sử dụng thì đúng là tội lớn. Tay cầm bằng sắt chĩa ra như con chim một cánh đang cố bay lên. Ngày xưa tay cầm có màu xanh, nhưng phần lớn lớp sơn đã bị bong tróc bởi hàng nghìn lần đụng chạm kể từ năm 1940.
Bãi rác là một trong những ký ức rõ nét nhất trong đầu tôi về Castle Rock. Lúc nào nó cũng gợi tôi nhớ đến những họa sĩ trường phái siêu thực – những người suốt ngày vẽ mặt đồng hồ nằm nghiêng ngả nơi chạc cây, phòng khách thời Victoria trơ trọi giữa sa mạc Sahara hoặc động cơ hơi nước phọt ra từ lò sưởi. Trong mắt đứa trẻ là tôi khi ấy, chẳng có thứ gì ở bãi rác Castle Rock có vẻ thuộc về nơi đó.
Chúng tôi vào từ lối đằng sau. Nếu đi từ phía trước, có một con đường đất rộng rãi qua cánh cổng, loe vào một khoảng đất hình bán nguyệt đã được ủi xe lu bằng phẳng như đường băng rồi dừng ở thành hố rác. Bơm tay (Teddy và Vern hiện đang đứng đó cãi nhau xem ai sẽ mồi nước vào bơm) nằm ở đằng sau hố rác khổng lồ này. Hố sâu phải đến 25 mét và đầy những thứ đồ dùng nước Mỹ đã trống trơn, sờn rách hoặc đã hỏng hóc. Có hằng hà sa số thứ đến độ chỉ nhìn đã đủ khiến tôi nhức mắt — hoặc thật ra não tôi mới là thứ nhức ong lên, vì nó chẳng tài nào quyết định mắt nên tập trung vào thứ gì. Và rồi mắt ta sẽ dừng lại, hoặc bị bắt dừng lại ở thứ gì đó trông có vẻ lạc quẻ giống như mặt đồng hồ nghiêng ngả hoặc phòng khách giữa sa mạc. Một khung giường bằng đồng thau xiêu vẹo dưới ánh mặt trời. Một con búp bê quặp người tròn mắt ngạc nhiên giữa hai đùi với cái bụng lòi ruột. Chiếc xe ô tô hãng Studebaker bị lật úp với những nút bằng đồng lấp lánh trong ánh nắng chói chang tựa hồ tên lửa Buck Rogers. Một bình nước to tướng, loại người ta hay để trong văn phòng, dưới mặt trời mùa hè biến thành thử ngọc bích nóng rẫy.
Ở đó cũng có khối động vật hoang dã, chỉ có điều không phải loại chúng ta hay thấy trong phim thiên nhiên Walt Disney hoặc ở sở thú thuần hóa, nơi ta có thể sờ nựng động vật. Những con chuột béo múp, những con chuột chũi trông bóng mượt, ục ịch đi trên những thứ đồ ăn béo ngậy như hamburger thối và rau củ đầy giòi, mòng biển với số lượng hàng nghìn con, và thỉnh thoảng lại có con quạ to lớn lẩn lút giữa đám mòng biển tựa những mục sư trầm tư, nhiều nỗi niềm. Đây cũng là nơi chó hoang của thị trấn mò đến kiếm ăn khi không tìm được thùng rác nào để hất đổ hay con hươu nào để bắt. Đám chó tạp chủng ấy khốn khổ, xấu tính; gầy trơ xương, lúc nào cũng nhe nanh cay đắng, sẵn sàng tấn công đồng loại để giành một miếng xúc xích đầy trứng ruồi hoặc một đống lòng gà bốc khói dưới ánh nắng.
Nhưng những con chó ấy tuyệt đối không tấn công Milo Pressman, ông gác bãi rác, vì Milo lúc nào cũng có Chopper đi sát gót. Chopper là con chó vùng Castle Rock đáng sợ nhất và thoắt ẩn thoắt hiện nhất — chí ít là cho đến khi con chó Cujo của Joe Camber bị dại hai mươi năm sau. Nó là con chó hung hãn nhất trong bán kính hơn 60 ki lô mét (hoặc đó là những gì chúng tôi nghe thấy), và xấu xí đến độ khiến đồng hồ đang chạy cũng phải dừng lại. Đám trẻ con thì thầm đủ sự tích về bản tính hung dữ của Chopper. Một số đứa nói nó lại giống Béc giê, nhiều người lại bảo nó là giống Boxer, một đứa nhóc ở Castle View với cái tên bất hạnh là Harry Horr lại khẳng định Chopper là giống Doberman Pinscher đã được phẫu thuật cắt dây thanh âm để không ai nghe thấy tiếng sủa khi nó tấn công. Có nhiều đứa khác lại tuyên bố Chopper là một con chó săn sói Ireland điên khùng được lão Milo Pressman nuôi bằng thức ăn đặc biệt trộn giữa Gaines Meal và tiết gà. Cũng những đứa trẻ này bảo Milo chẳng dám đưa Chopper ra khỏi chuồng trừ khi con chó được đội mũ như chim ưng săn mồi.
Câu chuyện được truyền tai nhau nhiều nhất là Pressman huấn luyện Chopper không chỉ để tấn công mà còn để tấn công đúng các bộ phận của nạn nhân. Điều đó có nghĩa một đứa nhóc đen đủi lén lút trèo qua hàng rào bãi rác để nhặt nhạnh kho báu bất hợp pháp có thể sẽ nghe Milo Pressman gầm lên: “Chopper! Tấn công! Tay!” Thế là Chopper sẽ chộp ngay bàn tay, cắn thật chặt, xé toạc da và gân, nghiền nát xương bằng hàm răng nanh ứa nước dãi, cho đến khi Milo ra lệnh thả mới thôi. Người ta còn đồn Chopper có thể tấn công cả tai, mắt, chân, cẳng... và kẻ đi chung với đứa nhóc xấu số kia, kinh ngạc trước Milo và con chó Chopper trung thành sẽ nghe tiếng hét khiếp đảm: “Chopper! Tấn công! Hai hòn!” Kết cục là thằng nhóc ấy sẽ nói chuyện eo éo suốt quãng đời còn lại. Bản thân Milo hay lộ mặt nên ít khi bị thêu dệt đủ điều. Lão cũng chỉ là người lao động bình thường, đầu óc không mấy sáng láng, kiếm thêm vào khoản lương ba cọc ba đồng của mình bằng cách sửa chữa những thứ người khác bỏ rồi bán lại quanh thị trấn.
Hôm nay chẳng thấy bóng dáng của Milo và Chopper đâu.
Chris và tôi nhìn Vern mồi ống bơm trong lúc Teddy hì hụi với tay cầm bình nước. Sau một hồi, số phận mỉm cười cho cậu một nguồn nước sạch ào ra. Chốc sau, hai người bọn họ đưa đầu vào dưới máng nước, Teddy vẫn bơm nước lên với tốc độ 1,6 ki lô mét trên phút.
“Teddy đúng là khùng,” tôi khẽ nói.
“Ừ đúng,” Chris nói khách quan. “Tớ cá có khi cậu ta còn chẳng sống đến gấp đôi tuổi hiện tại ấy chứ. Ông bố làm bỏng tai cậu ấy như vậy. Bảo sao cậu ta không làm thế. Cậu ta điên đến mức chơi trò né xe tải kia mà. Có đeo kính hay không cũng thế cả, cậu ta chẳng thấy gì đâu.”
“Cậu nhớ cái lần trên cây không?”
“Có.”
Năm ngoái, Teddy và Chris trèo lên cây thông to lớn sau nhà tôi. Hai đứa sắp leo lên tận ngọn thì Chris bảo không thể trèo tiếp vì các cành cây ở trên mục cả rồi. Teddy tỏ vẻ bướng bỉnh và điên rồ ra mặt, bảo mặc xác, tay cậu ta dính đầy nhựa thông rồi, và cậu sẽ trèo cho đến khi chạm tới ngọn cây. Chris đừng hòng thuyết phục được cậu ta. Thế là cậu cứ trèo lên và lên tới tận ngọn cây – đừng quên cậu ta chỉ nặng 34 ki lô gam. Cậu ta đứng đó, bàn tay nhớp nháp đầy nhựa thông nắm chặt ngọn thông, hét ầm lên rằng cậu ta là chúa tể thể gian hay điều ngớ ngẩn gì đó tương tự, bỗng chốc sau, có một tiếng rắc oan nghiệt của gỗ mục vang lên khi cành cây cậu ta đứng bị gãy dưới sức nặng, thành thử cậu chàng cứ thế rơi tự do. Điều xảy ra tiếp theo là một ví dụ khiến bạn tin chắc như đinh đóng cột rằng Chúa thực sự tồn tại. Chris vươn tay ra theo phản ứng, dù chỉ chộp được nắm tóc của Teddy Duchamp. Mặc kệ cổ tay mình sưng vù và không thể sử dụng tay phải gần hai tuần, Chris vẫn giữ thật chặt Teddy, vừa la hét vừa mắng chửi, đứng một chân trên cành cây còn tươi tốt đủ cứng cáp để nâng đỡ sức nặng của mình. Nếu Chris không chộp bừa như thế, cậu ta sẽ quay mòng mòng, rơi nát bét xuống dưới gốc cây với khoảng cách 35 mét. Khi đã bước xuống, mặt của Chris xám xịt, thiếu điều nôn mửa vì quá sợ hãi. Teddy muốn lao vào đánh nhau với bạn vì dám kéo tóc cậu ta. Suýt chút nữa hai đứa đã sống mái với nhau nếu tôi không can ngăn.
“Thỉnh thoảng tớ vẫn nằm mơ thấy chuyện đó,” Chris tâm sự, nhìn tôi với đôi mắt không chút phòng thủ. “Nhưng trong mơ, lúc nào tớ cũng trượt. Tớ chỉ nắm được vài cọng tóc, Teddy hét ầm lên, rồi rơi xuống. Kỳ cục quá nhỉ?”
“Kỳ cục thật,” tôi đồng tình, và trong một khắc, chúng tôi nhìn vào mắt nhau để rồi trông thấy những điều thật sự khiến chúng tôi là bạn. Đoạn chúng tôi quay mặt đi, nhìn Teddy và Vern hất nước, hò hét, cười đùa và gọi nhau là đồ chết nhát.
“Ừ, nhưng cậu vẫn chụp được cậu ấy mà,” tôi nói. “Chris Chambers chẳng để trượt bao giờ, tớ nói có đúng không?”
“Ngay cả khi các quý cô hạ bồn cầu xuống cũng không nhé,” cậu nói. Đoạn cậu nháy mắt với tôi, chụm ngón cái và ngón trỏ làm thành hình vòng tròn rồi phun một viên đạn trắng gọn ghẽ qua cái vòng ấy.
“Nhai đầu tớ luôn đi, Chambers,” tôi nói.
“Để cậu khỏi lầu bầu,” cậu đáp, rồi chúng tôi toét miệng cười với nhau.
Vern hét toáng: “Xuống đây lấy nước trước khi nước chảy xuống ống đi!”
“Chạy đua nào,” Chris nói.
“Giữa cái nóng này sao? Cậu bị chập mạch à.”
“Đi mà,” cậu nói, vẫn cười toe. “Tớ chạy đây.”
“Ờ thì chạy.”
"Chạy!”
Chúng tôi rượt nhau, giày hất tung đất cát khô cứng, nung dưới ánh mặt trời, cắm đầu lao tới trước, cặp giò mang quần jeans xanh thoăn thoắt chạy, tay nắm chặt. Cái nóng như thiêu như đốt, với Vern đứng bên phía Chris và Teddy đứng bên phía tôi, chĩa ngón giữa lên cùng lúc. Chúng tôi phá lên cười nắc nẻ giữa mùi hôi hãng hắc của nơi này, Chris ném cho Vern bình nước. Sau khi đổ đầy bình, Chris và tôi đến chỗ bơm, trước hết, Chris bơm cho tôi xối đầu, đoạn tôi bơm cho cậu, nước lạnh đến ngỡ ngàng cứ thế ào ào gột bỏ lớp bồ hóng và cái nóng bám trên người, khiến lớp da đầu bất thình lình lạnh buốt của chúng tôi nhảy cóc bốn tháng để đến luôn tháng Một. Đoạn tôi đổ đầy xô nước, cả đám bước đến cái cây duy nhất trong bãi rác để ngồi nghỉ dưới bóng râm, một cây tần bì còi cọc cách lán bằng giấy tẩm nhựa đường của Milo Pressman hơn chục mét. Cái cây hơi vẹo về phía tây, tựa hồ nó đang muốn nhổ rễ của mình lên như bà già kéo váy để cuốn xéo khỏi bãi rác này.
“Quá khiếp!” Chris nói, vừa cười ha hả, vừa hất phần tóc rối ra khỏi lông mày.
“Dữ dội thật,” tôi gật gù, vẫn chưa ngừng cười.
“Vui quá đi mất thôi” Vern chân phương nhận xét, và ý cậu không chỉ dừng lại ở việc nghịch phá trong bãi rác, phỉnh phờ bố mẹ hoặc cuốc bộ dọc theo đường ray đến Harlow; đúng là cậu đang nói tới những điều đó, nhưng giờ khi nhìn lại, tôi cảm thấy nó bao hàm nhiều hơn thế, và tất cả bọn tôi đều biết vậy. Mọi thứ hiện diện xung quanh chúng tôi. Chúng tôi biết chính xác mình là ai, mình đang đi về đâu. Cảm giác thật tuyệt vời.
Chúng tôi ngồi dưới tán cây hồi lâu, tán phét như cả bọn hay làm – đội bóng chày nào giỏi nhất (vẫn là đội Yankees với Mantle và Maris, tất nhiên rồi), chiếc xế hộp nào tuyệt nhất (55 Thunderbird, nhưng Teddy thì một mực cho rằng phải là ’58 Corvette), ai là kẻ gan lỳ nhất mà không nằm trong nhóm chúng tôi (cả bọn đồng tình là Jamie Gallant, cậu ta chĩa ngón giữa trước mặt cô Ewing rồi khệnh khạng bước ra khỏi lớp với hai tay đút túi, mặc cô mắng xa xả), chương trình ti vi hay nhất ( Bất khả xâm phạm hoặc Peter Gunn – Robert Stack vai Eliot Ness và Craig Stevens vai Gunn quá đỉnh), vân vân mây mây.
Teddy là người đầu tiên để ý bóng cây tần bì đang dài ra rồi hỏi tôi mấy giờ. Nhìn đồng hồ, tôi bất ngờ khi thấy đã là 2 giờ 15 phút.
“Tớ bảo này,” Vern cất tiếng. “Ai đó lo đi lấy đồ tiếp tế đi. Bãi rác mở cửa lúc 4 giờ. Tớ không muốn mình vẫn chình ình ở đây khi lão Milo và Chopper đăng đàn đâu.”
Đến Teddy cũng đồng tình. Cậu ta không sợ lão Milo ở tuổi tứ tuần với cái bụng bia, nhưng mọi đứa trẻ ở Castle Rock đều đưa tay bóp hai hòn bi giữa chân khi có người nhắc đến tên của Chopper.
“Được thôi,” tôi nói. “Ai lẻ ra đi nhé?”
“Là cậu chứ ai, Gordie,” Chris nói, mỉm cười. “Lạc loài không giống ai.”
“Mẹ cậu cũng thế,” tôi nói, rồi đưa cho mỗi đứa một đồng xu. “Tung nào.”
Bốn đồng xu lấp lánh dưới ánh mặt trời. Bốn bàn tay chụp lấy chúng trong không trung. Bốn cú đánh bép trên bốn cổ tay cáu ghét. Chúng tôi buông tay ra. Hai ngửa hai sấp. Chúng tôi tung đồng xu lần nữa và lần này cả bốn đứa đều ra mặt sấp.
“Ôi Chúa ơi, là pín kìa,” Vern nói, chẳng cung cấp thêm thông tin gì mà chúng tôi không biết. Dân tình bảo bốn mặt ngửa, hay còn gọi là trăng, là cực kỳ may mắn. Còn bốn mặt sấp là pín, cực kỳ xui rủi.
“Kệ bố nó đi,” Chris nói. “Ba cái thứ vớ vẩn. Thử lại xem.”
“Không đâu,” Vern trầm trọng. “Pín đó, xui lắm. Cậu nhớ lần Clint Bracken và hội bạn xỉn quắc cần câu trên đồi Sirois ở Durham không? Billy kể với tớ họ tung đồng xu để mua bia thì gặp pín ngay trước lúc chui vào xe ô tô. Và rầm! họ lên bị cán bẹp như tương cà. Tớ không thích vậy. Thật đấy.”
“Thời nay ai còn tin vào vụ trăng với pín nữa kia chứ,” Tedd sốt ruột. “Ba cái trò trẻ con, Vern ạ. Cậu có tung đồng xu không đây?”
Vern cũng tung đồng xu, nhưng lừng khừng ra mặt. Lần này, cậu, Chris và Teddy ra mặt sấp. Tôi thì ra mặt có Thomas Jefferson trên đồng năm xu. Và tôi chợt thấy sợ. Tựa hồ bóng đêm vừa che phủ phần nào vầng dương trong tim tôi. Ba người bạn của tôi vẫn ra pin, như thể số phận lại một lần nữa điểm mặt chỉ tên họ. Chợt tôi nhớ lại câu nói ban nãy của Chris: Tớ chỉ nắm được vài cọng tóc, Teddy hét ầm lên, rồi rơi xuống. Kỳ cục quá nhỉ?
Ba sấp, một ngửa.
Rồi Teddy cất lên điệu cười khúc khích đầy đặc trưng, chỉ tay vào tôi, và cảm giác ấy biến mất.
“Tớ nghe nói chỉ có xăng pha nhớt mới cười kiểu đó thôi,” tôi nói rồi chĩa ngón giữa vào cậu ta.
“Hi hí hí, Gordie,” Teddy cười như được mùa. “Đi lấy đồ tiếp tế đi, đồ ái nam ái nữ.”
Tôi không bực lắm khi phải đi. Tôi đã ăn no ngủ kỹ nên không phiền việc cuốc bộ đến chợ Florida.
“Đừng có lôi biệt danh của mẹ cậu ra gọi tớ,” tôi đáp trả Teddy.
“Hí hí hí, cậu đúng là cái đồ yếu nhớt, Lachance ạ.”
“Đi đi, Gordie,” Chris giục. “Bọn tớ sẽ đợi cậu ở đường ray.”
“Liệu thần hồn, đừng đi mà không có tớ đấy,” tôi dặn.
Vern cười. “Đi mà không có cậu khác nào uống Slitz thay vì uống Budweiser's hả, Gordie.”
“Ái chà, im miệng đi.”
Cả bọn đồng thanh reo lên. “Tớ không im miệng, mà tớ chóng lớn. Và khi tớ nhìn cậu, tớ chóng mửa.”
“Rồi mẹ cậu mò tới liếm cho sạch,” tôi đáp đoạn nhanh chân rời khỏi đó, vừa đi vừa đưa tay ra sau vai, chĩa ngón giữa về phía đám bạn. Về sau, tôi chẳng có người bạn nào được như những người bạn năm tôi mười hai tuổi. Chúa ơi, bạn thì có chăng?