Chín người mười ý , người ta hay nói thế, và cũng đúng thôi. Nên nếu tôi nhắc mùa hè với bạn, bạn sẽ mường tượng tới những hình ảnh riêng của bạn, khác một trời một vực với tôi. Cũng đúng thôi. Còn với tôi, mùa hè lúc nào cũng đi đôi với việc chạy xuống con đường dẫn tới chợ Florida với những đồng xu lẻ rủng rẻng trong túi, nhiệt độ hơn 30 độ C, chân mang đôi giày Keds. Hai chữ mùa hè ấy gợi trong lòng tôi hình ảnh đường ray xe lửa Hãng Tàu Tây Nam Đệ Nhất chạy đến đường chân trời xa tít tắp, sáng đến chói lòa dưới ánh mặt trời, đến độ khi nhắm mắt lại, ta vẫn có thể thấy chúng trong bóng tối, chỉ là nó có màu xanh thay vì màu trắng.
Nhưng mùa hè năm ấy không chỉ dừng lại ở chuyến băng sông tìm kiếm Ray Brower, dù sự kiện ấy choán nhiều phần nhất. Đó còn là tiếng hát của The Fleetwoods ngân nga bài ca “Bước đến nơi anh”, Robin Luke thủ thỉ “Susie yêu thương” và Little Anthony cất cao bài “Anh chạy như bay về nhà.” Có phải tất cả đều là bài hát nổi tiếng của mùa hè năm 1960 không? Vừa có lại vừa không. Thời gian thoăn thoắt thoi đưa vào những đêm dài tím thẫm khi rock and roll phát từ đài WLAM dần chuyển sang chương trình bóng chày đêm khuya ở đài WCOU. Tôi cứ có cảm tưởng tất tần tật xảy ra vào năm 1960, và rằng mùa hè ấy kéo dài suốt vài năm, được ôm ấp vẹn nguyên bởi tấm mạng dệt từ biết bao âm thanh: tiếng dế du dương, tiếng thẻ bài quẹt vào nan hoa xe đạp phành phạch tựa tiếng súng máy khi đứa nhóc nào đấy co giò đạp xe về ăn bữa tối muộn gồm các loại thịt nguội xắt lát và trà đá, chất giọng Texas trầm của Buddy Knox vang vọng “Đến đây làm nàng búp bê tiệc vui cùng anh, và anh sẽ trao em mặn nồng” cùng tiếng của người phát thanh viên bóng chày lẫn vào bài hát và mùi của cỏ mới cắt: “Ba bóng lỗi và hai lần đập trượt. Whitey Ford cúi người... gạt bỏ hiệu lệnh... anh vào thế... Ford dừng lại... ném bóng... và bóng đi rồi! Williams đánh một cú thần sầu! Hôn tạm biệt quả bóng! RED SOX DẪN TRƯỚC, TỶ SỐ 3 – 1! ” Vào năm 1960, Ted Williams có còn thi đấu cho Red Sox không nhỉ? Bạn có thể đem cả gia tài ra cá là có... Năm ấy, tỷ lệ đánh trung bình của Ted là 0.316. Tôi nhớ như in. Mấy năm gần đây, bóng chày trở thành một phần quan trọng của tôi, kể từ lúc tôi vỡ lẽ hóa ra cầu thủ bóng chày cũng là người trần mắt thịt như tôi. Tôi thấm thía điều này khi chiếc xe ô tô của Roy Campanella bị lật ngược và báo chí hô hào những dòng tin động trời trên trang nhất: nào là sự nghiệp của anh ta đi tong, và suốt phần đời còn lại, anh sẽ phải ngồi xe lăn. Cái cảm xúc ấy quay lại, rơi thịch chát chúa vào lòng tôi một lần nữa vào hai năm trước, buổi sáng nọ, khi tôi ngồi xuống chỗ máy đánh chữ, bật radio lên rồi nghe thấy tin Thurman Munson đã mất mạng khi cố đáp máy bay.
Ngày ấy, ta có thể đi xem nhiều bộ phim ở Gem, còn giờ, tòa nhà đã bị phá dỡ từ lâu; những bộ phim khoa học viễn tưởng như Gog với sự tham gia của Richard Egan và những bộ phim châu Âu với sự xuất hiện của Audie Murphy (cứ phim nào có Audie Murphy là Teddy lại xem đi xem lại ít nhất ba lần; trong mắt cậu ta, Murphy chẳng khác nào vị thánh) và phim chiến tranh có John Wayne diễn xuất. Vô số trò chơi, không hiếm lần ăn vội ăn vàng cho qua bữa, những bãi cỏ cần cắt, nơi cần đi, những bức tường để chơi trò búng đồng xu, bạn bè vỗ lưng động viên. Và giờ, khi ngồi đây, cố gắng nhìn qua chiếc máy đánh chữ IBM để thấy khoảng thời gian ấy, cố nhớ lại những gì vui nhất và tệ nhất của mùa hè xanh nâu ngày nào, tôi gần như có thể cảm thấy cậu bé ốm nhom, chân tay trầy trụa vẫn còn chôn vùi trong cơ thể người lớn này và nghe thấy những âm thanh xưa. Nhưng hình tượng đỉnh điểm của ký ức và thời gian là khoảnh khắc Gordon Lachance chạy xuống dốc đến chợ Florida với tiền xu leng keng trong túi và mồ hôi rịn sau lưng.
Tôi hỏi mua một ký ba thịt viên, mua thêm bánh mì, bốn chai Coca Cola và đồ khui giá hai xu để khui nắp chai nước ngọt. Chủ tiệm, một người đàn ông tên George Dusset, chuẩn bị thịt rồi tựa người cạnh quầy tính tiền, bàn tay to bè tì vào quầy, cạnh vại đựng trứng luộc chín, miệng ngậm tăm, cái bụng bia to đùng tròn ủm dưới lần áo trắng như cánh buồm no gió. Ông cứ thế đứng đó trong lúc tôi mua đồ để canh chừng tôi không tiện tay thó món gì. Ông không nói lời nào cho đến khi cần thịt.
“Ta biết cháu. Cháu là em trai của Denny Lachance. Có đúng không?” Cây tăm du hí từ mép miệng bên này sang bên kia như thế di chuyển trên vòng bi. Với tay ra sau quầy tính tiền, ông lấy chai soda kem S’OK rồi uống ực.
“Dạ phải. Nhưng anh Denny...”
“Ừ, ta biết. Thật đau lòng quá, nhóc nhỉ. Kinh thánh bảo: “Sống giữa đời, ta nằm trong cái chết. Cháu có biết không? Ừ. Ta mất người anh ở Hàn Quốc. Cháu trông giống Denny như lột, có ai nói với cháu như vậy chưa? Ừ. Giống như hai giọt nước.”
“Vâng, thỉnh thoảng ạ,” tôi khó chịu đáp.
“Ta còn nhớ cái năm anh cháu đạt danh hiệu Cầu thủ Xuất sắc nhất. Cậu ấy chơi vị trí trung vệ. Ừ. Cậu ấy có chạy nhanh không à? Ôi thánh thần thiên địa ơi! Chắc cháu còn nhỏ quá, chẳng nhớ nổi đâu.” Ông nhìn qua đầu tôi, vượt cánh cửa hiên ra ngoài cái nóng như thiêu đốt, tựa hồ đang mường tượng hình ảnh sống động của anh trai tôi.
“Cháu nhớ ạ. Ừm, bác Dusset này?”
“Sao thế nhóc?” Đôi mắt ông vẫn mơ màng kỷ niệm; tăm khẽ rung rinh giữa hàng môi.
“Ngón tay bác đang đè lên cân.”
“ Cái gì? ” Ông ta kinh ngạc nhìn xuống mặt men trắng mà ngón cái của mình đè mạnh lên. Ban nãy, nếu tôi không lùi lại một chút khi ông bắt đầu ba hoa về anh Dennis, phần thịt viên đã hoàn toàn khuất tầm mắt. “Ôi trời, thế hả. Ừ. Chắc ta mải nghĩ về anh trai cháu quá, tội nghiệp thằng bé.” George Dusset làm dấu thánh giá. Khi ông ta nhấc ngón cái khỏi cân, mũi kim nhảy ngược lại gần hai lạng. Ông ta bỏ thêm chút thịt lên trên cùng rồi bọc tất cả bằng giấy gói thịt màu trắng cho tôi.
“Được rồi,” vừa ngậm tăm, ông vừa nói. “Để tính xem bao nhiêu nào. Một ký ba lạng thịt viên, tức là một đô la bốn mươi bốn xu. Bánh mì, hai mươi bảy xu. Bốn chai nước ngọt, bốn mươi xu. Đồ khui, hai xu. Vị chi...” Ông làm phép tính trên túi lát nữa dùng để đựng đồ. “Hai đô la hai mươi chín xu.”
“Mười ba xu ạ,” tôi nói.
Ông ta chậm rãi ngước lên nhìn tôi, chau mày. “Hả?”
“Hai đô la mười ba xu. Bác cộng sai rồi.”
“Nhóc, cháu...”
“Bác cộng sai rồi,” tôi nói. “Ban nãy thì bác đè ngón tay cái lên cân, giờ bác cố tình tính sai tiền cho cháu, bác Dusset ạ. Cháu còn định mua thêm vài cái bánh Hostess Twinkie nhưng giờ chắc cháu không mua nữa.” Tôi đập hai đô la mười ba xu đánh rầm xuống tấm lót bàn Schlitz trước mặt ông.
Ông ta nhìn đống tiền rồi nhìn tôi. Ông ta cau mày bặm trợn, nếp nhăn trên mặt sâu tựa vết nứt.
“Mày là gì thế hả nhóc?” ông nói bằng tông giọng trầm như thể bí mật ghê gớm lắm. “Mới nứt mắt mà đòi láo à?”
“Không ạ,” tôi nói. “Nhưng bác đừng hòng phỉnh cháu rồi chặt chém cháu. Mẹ bác mà biết bác phỉnh đám con nít thì bà ấy sẽ nói gì hả?”
Ông ta vội vàng nhét những thứ tôi mua vào túi giấy làm mấy chai Coca Cola lanh canh. Đoạn ông thô bạo gí túi vào tôi, chẳng thèm quan tâm tôi có đánh rơi nó và làm bể chai nước hay không. Gương mặt sậm màu của ông ta đỏ bừng, thần thờ, lông mày vẫn cứ thế cau lại. “Của mày đây, nhóc. Giờ thì cuốn xéo khỏi tiệm ta ngay. Nếu thấy mày bén mảng vào đây lần nữa, chính tay ta sẽ tống cổ mày ra đấy. Ừ. Tiên sư thằng ranh con láo toét.”
“Cháu cũng chẳng quay lại đâu,” tôi vừa đáp vừa đi ra cửa hiên rồi đẩy cửa mở. Ngoài kia, trời chiều nóng như chảo lửa râm ran mơ màng theo dòng chảy vốn có, tỏa thứ màu xanh nâu, đầy ánh sáng thinh lặng. “Bạn cháu cũng thế. Mà cháu có đâu đấy năm chục người bạn.”
“Anh mày không láo toét như mày đâu!” George Dusset gào lên.
“Mẹ kiếp nhà ông!” tôi hét rồi co giò chạy như bay xuống đường.
Tôi nghe thấy cửa ngoài hiên mở đánh rầm tựa súng bắn và nghe thấy ông ta gầm lên như bò rống sau lưng: “Mày mà dám thò mặt vào đây lần nữa, tao đập cho mày răng môi lẫn lộn, đồ quỷ sứ!”
Tôi chạy hết ngọn đồi đầu tiên, vừa sợ vừa cười ha hả một mình, tim đập bình bịch như búa nện trong lồng ngực. Đoạn tôi giảm tốc, rảo bước đi bộ, thỉnh thoảng cử nhìn ra sau vai để đảm bảo ông ta không xách xe ô tô đuổi theo tôi.
Ông ta không làm thế, và chẳng mấy chốc tôi đi đến bãi rác. Tôi nhét túi vào trong áo, trèo qua cổng rồi thoăn thoắt leo xuống. Đi được nửa bãi rác, tôi trông thấy một thứ tôi không thích – chiếc Buick ’56 có lỗ thoát khí đặc trưng của Milo Pressman đậu đằng sau lán đắp bằng giấy dầu tẩm nhựa đường. Nếu bị Milo trông thấy, chắc tôi sẽ biết thế nào là địa ngục. Dù chưa thấy tăm hơi của lão ta hay quỷ khuyển Chopper, nhưng bỗng dưng hàng rào lưới ở đằng sau bãi rác xa tận chân trời. Tôi bất giác ước giá mà ban nãy tôi đánh đường vòng bên ngoài, song giờ tôi đã đi quá sâu vào bãi rác, không thể quay đầu nữa rồi. Nếu lão Milo trông thấy tôi trèo qua hàng rào, khi về nhà, tôi xem như toi đời, nhưng việc đó không khiến tôi sợ bằng việc Milo sai Chopper tấn công tôi.
Tiếng violin rợn tóc gáy eo éo vang lên trong đầu tôi. Tôi cứ thế bước từng bước, cố ra vẻ thật bình thản, như thể tôi chẳng lạ gì nơi này, với túi giấy thò ra dưới áo, đi về phía hàng rào ngăn cách giữa bãi rác và đường ray xe lửa.
Còn cách hàng rào khoảng bốn mét, tôi đang mừng thầm có khi mọi chuyện sẽ trôi chảy thì nghe thấy tiếng hét của lão Milo: “Này! Này, thằng nhóc kia! Biến khỏi hàng rào cho tao! Cút xéo khỏi đây ngay!”
Điều thông minh đáng ra tôi nên làm lúc ấy là đồng ý với lão ta và đi đường vòng, nhưng lúc đó, tôi hoảng quá, chẳng nghĩ đến việc làm điều thông minh ấy nữa mà cứ thế vừa chạy về phía hàng rào vừa hét ầm lên, giày đạp đất cát tung tóe, Vern, Teddy và Chris chui ra từ bụi rậm bên kia hàng rào, lo lắng nhìn tôi qua lưới thép.
“Mày quay lại đây!” Lão Milo gầm lên. “Quay lại đây đi, tao cho con chó của tao cắn chết mày, tiên sư!”
Tôi không thấy giọng nói ấy là hiện thân cho sự minh mẫn và hòa khí, thế nên tôi càng vận thêm tốc lực phi đến hàng rào, tay quật thật mạnh, túi giấy màu nâu loạt soạt cọ vào da. Teddy bắt đầu điệu cười khúc khích ngớ ngẩn của cậu ta, từng tràng bí bí bí vang lên trong không khí như kèn do gã điên thổi.
“Mau, Gordie! Mau lên!” Vern ỏm tỏi.
Còn Milo thì gào rống: “Tấn công nó, Chopper! Tấn công nó cho tao!”
Tôi lẳng chiếc túi qua hàng rào, Vern huých Teddy ra để chụp lấy nó. Đằng sau, tôi có thể nghe thấy Chopper đang lao tới, rung cả mặt đất, một bên lỗ mũi to đùng phun lửa, lỗ mũi bên kia phọt băng, axit nhễu từ hàm răng lởm chởm. Tôi nhảy phốc lên một nửa hàng rào, la hét thất thanh. Trong chưa tới ba giây, tôi leo lên đến trên cùng rồi cứ thế nhảy – tôi chẳng suy tính gì, thậm chí còn chẳng nhìn bên dưới để xem mình sẽ đáp xuống đâu. Suýt chút nữa tôi thượng thẳng lên Teddy lúc này đang ôm bụng cười lăn cười bò. Mắt kính của cậu ta đã rơi ra, nước mắt chảy tèm lem. Tôi rơi cách cậu vài phân xuống triền dốc đắp sỏi và đất sét ngay bên trái bạn mình. Cùng lúc đó, Chopper tông vào hàng rào mắt cáo sau lưng tôi và cất tiếng ăng ẳng vừa đau vừa thất vọng. Tôi quay lại, tay ôm đầu gối bị trầy, lần đầu tiên được tận mục sở thị con chó Chopper nổi tiếng – và lần đầu tiên học được bài học đồn thổi và sự thật khác nhau một trời một vực ra sao.
Thay vì quỷ khuyển khổng lồ với đôi mắt đỏ ngầu hung hãn và hàm răng chĩa ra khỏi miệng như ống bộ chĩa thẳng ở những chiếc xe ô tô độ, trước mắt tôi là con chó tạp chủng kích thước trung bình lông màu trắng đen hết sức bình thường. Nó hết sủa lại nhảy lên trong vô vọng, đứng bằng hai chân sau để cào hàng rào.
Teddy chuyển sang đi tới đi lui trước hàng rào, một tay nghịch kính, chọc cho Chopper càng lúc càng hung hăng hơn.
“Hôn đít tao đi, Choppie!” Teddy mời mọc, nước bọt văng như mưa. “Hôn đít tao đi! Ăn cứt đi!”
Cậu đập mông vào hàng rào lưới, Chopper lồng lên, cố hết sức đáp lại lời mời của Teddy. Bỏ công sức mà chẳng ăn thua gì, đã vậy mõm còn sưng vù lên. Nó bắt đầu sủa như phát rồ, bọt mép bắn tung tóe. Teddy cứ thế gí mông vào hàng rào, Chopper không ngừng nhào tới cắn nhưng lần nào cũng trượt, không thu được gì mà chỉ làm mõm mình bị đau đến chảy cả máu. Teddy tiếp tục khiêu khích con chó, gọi nó bằng cái tên “Choppie” phát gớm, như thể con chó bé nhỏ thân thương lắm, Chris và Vern thì nằm vật lên triền dốc, cười nhiều quá nên giờ chỉ còn có thể khò khè.
Và rồi Milo Pressman xổ đến, mặc bộ đồ lao động ố vì mồ hôi, đầu đội mũ bóng chày New York Giants, miệng méo xệch vì tức giận.
“Này này!” lão gào lên. “Lũ chúng mày thôi cái trò chọc chó đi! Chúng mày có nghe không? Thôi ngay cho tao! ”
“Cắn đi, Choppie ơi!” Teddy ông ổng, bước tới bước lui bên này hàng rào như thể nó là một tay chỉ huy người Phổ điên cuồng xem lại đội quân. “Đến tấn công tao đi nào! Tấn công đi chứ!”
Chopper lồng lên như phát điên. Tôi nói thật đấy. Nó chạy thành hình vòng tròn thật to, hết ăng ẳng lại sủa gấu gấu, sùi bọt mép, hai chân trước hất tung đất cát khô. Sau khi chạy vòng quanh khoảng ba lần mà tôi đoán là để tăng thêm can đảm, nó phóng thẳng lên hàng rào bảo vệ. Chắc lúc đập vào rào, nó đang lao với vận tốc gần 50 ki lô mét một giờ, tôi không đùa với bạn đâu – miệng nó banh ra khoe hàm răng, tai phần phật bay ra sau như nằm trong luồng hơi ào ào thổi. Cả hàng rào vang lên tiếng trầm thấp, lanh canh vui tai vì hàng rào mắt cáo không chỉ bị đẩy ra sau cột mà còn bị kéo giãn phần nào. Nó phát ra tiếng như đàn zither – tinhhhhhhhh . Tiếng ăng ẳng nghèn nghẹn phát ra từ miệng Chopper, đôi mắt nó trợn trắng dã, rồi nó lộn nhào một vòng hết sức hoành tráng, đập lưng ngã vật xuống đất đánh thịch, khiến bụi tung mù mịt xung quanh. Nó nằm đó một lát, đoạn cun cút bò đi, lưỡi vẹo vọ thè ra từ một bên miệng.
Lúc ấy, bản thân lão Milo cũng nổi cơn thịnh nộ. Gương mặt lão sa sầm lại, biến thành thứ màu mận chín rõ đáng sợ – ngay cả da đầu của lão cũng tím ngắt dưới mái tóc đầu bằng lỉa chỉa như lông nhím. Ngây ra ngồi dưới đất, đầu gối quần jeans rách bươm, trống ngực vẫn đập thình thịch sau cú thoát hiểm ngàn cân treo sợi tóc, tôi thầm nhủ lão Milo trông chẳng khác nào phiên bản con người của Chopper.
“Tao biết mày!” lão xa xả. “Mày là Teddy Duchamp! Tao biết cả đám chúng mày! Thằng kia, tao sẽ cho mày một trận vì dám chọc chó của tao!”
“Giỏi thì làm đi xem nào!” Teddy cũng không vừa. “Để tôi chống mắt lên xem ông trèo qua hàng rào bắt tôi, béo ị!”
“CÁI GÌ? MÀY GỌI TAO LÀ GÌ?”
“BÉO Ị!” Teddy thích thú rống lên. “Ú NA Ú NẦN! HEO NÁI NÀO! QUA ĐÂY COI!” Nó nhảy lên nhảy xuống, tay nắm chặt, mồ hôi bắn từ mái tóc. “ĐỂ TÔI BÀY ÔNG CÁCH XÚI CON CHÓ NGU ĐẦN CỦA ÔNG CẮN NGƯỜI! QUA ĐÂY ĐI! GIỎI THÌ LÀM ĐI!”
“Thằng oắt con xảo trá nghèo rớt mồng tơi có thằng bố điên dại! Tao sẽ khiến mẹ mày nhận được thư mời hầu tòa vì những gì mày gây ra cho chó của tao!”
“Ông gọi tôi là gì kia?” Teddy gằn giọng. Cậu ta đã thôi nhảy loạn xạ. Mắt cậu long sòng sọc, da hóa thành màu chì.
Lão Milo đã dùng nhiều từ để thóa mạ Teddy, nhưng lão đã có thể lần ngược lại và ra ngón đòn chí mạng nhất có thể – kể từ đó, hết lần này đến lần khác, tôi để ý con người đặc biệt có cái khiếu ấy... cái khiếu tìm đúng nút bấm điên dại sâu bên trong rồi không chỉ nhấn nút mà là nện thật mạnh.
“Bố mày là đồ điên dại,” lão toe toét cười. “Điên dại từ hồi ở Togus. Điên hơn cả chuột trong nhà xí. Điên hơn cả con hươu đực lên cơn sốt. Chập cheng hơn cả con mèo đuôi dài trong căn phòng toàn ghế đu đưa. Điên điên dại dại. Bảo sao mày cư xử như thế, đúng là bố nào con n...”
“MẸ ÔNG THỔI KÈN CHO MẤY CON CHUỘT CHẾT!” Teddy gào lên. “VÀ NẾU ÔNG DÁM BẢO BỐ TÔI ĐIÊN DẠI THÊM LẦN NỮA, TÔI SẼ GIẾT CHẾT ÔNG, ĐỒ KHỐN KIẾP!”
“Thằng điên dại” Milo sung sướng véo von. Lão ta đã tìm ra nút bấm. “Con của thằng bố điên dại, con của thằng bố điên dại, bố mày đầu óc biêng biêng, tội chưa.”
Vern và Chris đã nguôi cơn cười, có lẽ đang chuẩn bị cảm nhận tình hình nghiêm trọng ra sao và ngăn Teddy lại, nhưng khi Teddy rủa xả mẹ lão thổi kèn cho chuột chết, hai đứa lại phá lên cười nắc nẻ, nằm lăn ra đất, cười lăn cười bò từ bên này sang bên kia, chân đạp loạn xạ, tay ôm bụng. “Thôi đi,” Chris gắng gượng. “Thôi đi, tớ xin cậu, thôi đi, tớ thể với Chúa là tớ sắp bể bụng rồi!”
Chopper lảo đảo lượn thành vòng số tám lớn đằng sau lão Milo. Trông nó như đấu sĩ thua cuộc chừng mười giây sau khi trọng tài kết thúc trận đấu và tuyên bố đo ván. Trong lúc đó, Teddy và Milo tiếp tục hăng tiết thảo luận về bố của Teddy, gí mũi sát vào nhau, mặt đối mặt, với hàng rào lưới thép chắn ngang, mà Milo thì quá già và mập, không leo nổi.
“Tôi cấm ông không được nói thêm gì về bố tôi! Bố tôi từng chiếm đóng bãi biển ở Normandy đấy, cái đồ nhát như thỏ đế!”
“Ờ kinh chưa, thế giờ hắn ta đâu, cái đống cứt bốn mắt xấu ma chê quỷ hờn kia? Hắn ta vào Togus rồi còn gì? Hắn ta vào Togus vì BỊ TÂM THẦN PHẢI GIẢI NGŨ!”
“Được lắm, một vừa hai phải thôi,” Teddy nói. “Ông được lắm, thế này thì quá lắm rồi, tôi sẽ giết chết ông” Cậu ta nhào đến hàng rào rồi bắt đầu leo lên.
“Giỏi thì thử xem, thằng oắt con láo toét,” Milo đứng lùi ra sau, nhe nhởn chờ.
“Không” tôi hét lên. Tôi đứng bật dậy, chộp lấy mông quần jeans lùng nhùng của cậu ta rồi kéo cậu xuống hàng rào. Chúng tôi loạng choạng ra sau rồi ngã dúi dụi, cậu ta nằm lên tôi. Cậu đè mạnh lên hai hòn của tôi khiến tôi rên lên. Chẳng có gì đau như khi hai hòn bị đè, bạn biết không? Nhưng tôi vẫn vòng tay ôm chặt người Teddy.
“Để tớ trèo lên!” Teddy vừa bù lu bù loa vừa vùng vẫy trong tay tôi. “Để tớ trèo lên, Gordie! Không ai được nói xấu bố tớ. ĐỂ TỚ TRÈO LÊN MẸ KIẾP ĐỂ TỚ TRÈO LÊN! ”
“Đó chính là những điều lão ta muốn!” tôi hét vào tai cậu. “Lão ta muốn cậu qua bên kia để tẩn cậu một trận rồi đưa cậu đến cảnh sát đấy!”
“Hả?” Teddy nghển cổ quay sang nhìn tôi, khuôn mặt ngẩn ngơ.
“Bớt chõ mồm vào chuyện người khác đi nhóc,” lão Milo vừa nói vừa tiến đến hàng rào, hai tay nắm chặt thành nắm đấm. “Để nó đấu cuộc chiến của nó.”
“Đúng rồi,” tôi đáp trả. “Ông chỉ nặng hơn cậu ta 2 tạ chứ bao nhiêu.
“Tao biết cả mày,” lão Milo hằm hè. “Tên mày là Lachance.” Lão chỉ tay về phía Vern và Chris đang lồm cồm đứng dậy, vẫn đang thở hồng hộc không ra hơi do cười quá nhiều. “Hai đứa kia là Chris Chambers và một thằng con dốt đặc cán mai nhà Tessio. Tao sẽ gọi cho bố cả đám tụi mày, trừ thằng điên dại ở trong Togus. Chúng mày sẽ vào trại cải tạo hết, cả đám bọn mày. Đúng là lũ cô hồn các đảng!”
Lão đứng vững chãi trên hai chân, hai bàn tay tàn nhang to bè chìa ra như kẻ muốn chơi trò Một Củ Khoai Hai Củ Khoai, thở phì phò, mắt nheo lại, đợi chúng tôi khóc lóc hoặc nói lời xin lỗi hoặc có thể là cống nạp Teddy để cho lão Chopper ăn thịt Teddy.
Chris khum ngón cái và ngón trỏ thành chữ O rồi khạc nhổ gọn ghẽ qua cái lỗ.
Vern ngân nga trong họng, vẩn vơ nhìn trời.
Teddy nói: “Đi nào, Gordie. Tránh xa lão khốn này kẻo tớ mửa bây giờ.”
“Ồ, mày sẽ vào trại cho xem, thằng yêu nghiệt ác mồm. Đợi tao đưa mày đến cảnh sát đi.”
“Chúng tôi nghe thấy những gì ông nói về bố cậu ấy rồi,” tôi lên tiếng. “Cả đám chúng tôi là nhân chứng. Chưa kể, ông xúi con chó tấn công tôi. Như thế là phạm pháp.”
Lão Milo trông có vẻ lo lắng. “Mày vào đây trái phép.”
“Trái phép cái con khỉ. Bãi rác là tài sản công”
“Mày đã leo rào.”
“Không leo mới lạ, ai bảo ông xúi chó tấn công tôi,” tôi nói, hy vọng lão Milo không nhớ việc tôi cũng đã trèo cổng để đi vào. “Chứ ông nghĩ tôi sẽ làm gì hả? Đứng đực ra đấy để con chó xâu xé tôi à? Nào, các cậu. Mình đi thôi. Ở đây thối hoẵng”
“Trại cải tạo,” lão Milo dọa nạt, giọng đã run run. “Cho chúng mày vào trại cải tạo hết.”
“Tôi đang mong báo với cảnh sát ông gọi cựu binh chiến tranh là đồ điên dại đây,” Chris nói với ra sau lưng khi chúng tôi bỏ đi. “Thế hồi chiến tranh, ông làm gì, thưa ông Pressman?”
“KHÔNG DÍNH GÌ TỚI MÀY!” Lão Milo rít lên. “MÀY DÁM LÀM CHÓ TAO BỊ THƯƠNG!”
“Có phàn nàn gì thì điền phiếu rồi nộp cho cha tuyên úy đi” [52E] Vern lầm bầm rồi chúng tôi leo lên triền dốc dẫn đến đường ray.
“Quay lại đây!” Lão Milo hét toáng, nhưng giọng lão cũng mỏng hơn và lão có vẻ đã chán.
Chúng tôi tiếp tục bước đi, Teddy chĩa ngón tay thối về phía lão. Lên đến đỉnh dốc, tôi quay đầu nhìn ra sau. Lão Milo đang đứng sau hàng rào bảo vệ, một gã đàn ông to con đội mũ bóng chày với con chó ngồi ngay bên cạnh. Những ngón tay lão quặp qua mắt cáo nho nhỏ của hàng rào trong lúc lão xa xả mắng chửi bọn tôi, và ngay lập tức, tôi thấy thật tội nghiệp cho lão – trông lão như thằng nhóc lớp ba bự con nhất thế giới vô tình bị nhốt trong sân chơi, gào thét kêu người đến thả nó ra. Lão tiếp tục la ó thêm một lúc, rồi hoặc lão đã im hoặc chúng tôi không còn nghe thấy. Ngày hôm đó, chúng tôi không thấy và cũng chẳng nghe gì thêm về Milo Pressman và Chopper.