Nhà Tù Shawshank

Lượt đọc: 2334 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MÙA HÈ VỤN VỠ
HỌC SINH NGOAN
Chương 1

Trông nó cũng giống như bao học sinh nước Mỹ khác khi nó đạp chiếc xe Schwinn có bánh xe đường kính 66 xen ti mét với ghi đông vững chãi tiến lên trên con đường của khu dân cư ngoại ô, và thật sự là thế: Todd Bowden, mười ba tuổi, cao 172 xen ti mét, nặng 63 ki lô gam, hết sức cân đối, tóc màu bắp non, mắt xanh, răng trắng, đều tăm tắp, da hơi cháy nắng, không chút tì vết do mụn dậy thì.

Vừa đạp xe vun vút qua ánh mặt trời và bóng râm cách nhà một đoạn không xa, nó lại nở nụ cười tràn trề sung sướng vì hè đã đến. Nhìn bề ngoài, nó na ná những đứa trẻ đang làm công việc giao báo, mà đúng thật là thế – nó giao báo Santo Donato Clarion . Nó cũng giống đứa trẻ bán thiệp mừng để được phần thưởng, mà đúng là ngày xưa nó từng làm thế. Loại thiệp nó bán có in tên bên trong - JACK VÀ MARY BURKE, hoặc DON VÀ SALLY, hoặc GIA TỘC MURCHISON. Trông nó cũng giống những thiếu niên vừa huýt sáo vừa làm việc, và nó cũng hay làm thế. Tính ra nó huýt sáo hay ra phết. Bố nó là kiến trúc sư, thu nhập hàng năm đạt mức bốn mươi nghìn đô la. Mẹ nó học đại học chuyên ngành tiếng Pháp và gặp bố của Todd khi chàng trai đang cần tìm bằng được gia sư. Thời gian rảnh, mẹ nhận đánh máy bản thảo. Cô giữ tất cả phiếu liên lạc cũ của Todd trong một tập hồ sơ. Phiếu liên lạc mà cô thích nhất là phiếu điểm cuối năm lớp bốn, trong đó cô Upshaw đã nhận xét: “Todd là một học sinh vô cùng ngoan ngoãn.” Mà thật là thế. Điểm số của nó toàn A và B từ đầu chí cuối. Nếu nó làm tốt hơn thế – ví dụ như đạt toàn bộ điểm A chẳng hạn – bạn bè cùng lứa sẽ bắt đầu nghĩ nó là đứa dị hợm.

Và giờ nó dừng xe đạp trước căn nhà số 963 đường Claremont rồi xuống xe. Căn nhà nhỏ một trệt thụt sâu trên mảnh đất. Nhà sơn trắng với cửa chớp xanh lá và các đường rìa xanh lá. Phía mặt tiền được bao bọc bởi bờ giậu tươi tốt, được cắt tỉa gọn gàng.

Todd gạt những lọn tóc vàng ra khỏi mắt, dắt chiếc xe đạp Schwinn dọc lối xi măng lên bậc tam cấp. Nó vẫn nở nụ cười trên môi, rộng đến mang tai, nhiệt thành hy vọng và cực kỳ cuốn hút. Nó gạt chống bằng mũi chiếc giày chạy bộ hãng Nike, đoạn nhặt tờ báo được gấp gọn ở bậc tam cấp dưới cùng. Không phải tờ Clarion mà là tờ LA. Times . Nó kẹp dưới nách rồi bước lên bậc tam cấp. Trên cùng là cửa ra vào hàng hiên đã gài then, bên trong là một cánh cửa gỗ đồ sộ, không có cửa sổ. Cửa này là dạng có bản lề nằm phía bên phải, phía trên có gắn chuông, bên dưới chuông có hai tấm biển nhỏ được gắn ngay ngắn vào gỗ, bọc nhựa bảo vệ để không ngả vàng hay thấm nước theo thời gian. Đúng là dân Đức, làm gì cũng ưu tiên hiệu quả, Todd nghĩ, nụ cười lại càng lan rộng.

Đó là suy nghĩ của người trưởng thành, và trong đầu, nó luôn thầm tưởng thưởng bản thân mình khi có những suy nghĩ như thế.

Tấm biển phía trên đề ARTHUR DENKER.

Tấm biển phía dưới đề KHÔNG TIẾP NHÂN VIÊN TIẾP THỊ, HÀNG RONG, CON BUÔN.

Vẫn giữ nụ cười trên môi, Todd bấm chuông.

Nó gần như chẳng nghe được tiếng chuông rè rè vang lên đâu đó xa xôi bên trong căn nhà nhỏ. Buông tay khỏi chuông cửa, nó khẽ nghiêng đầu lắng nghe tiếng bước chân. Không thấy động tĩnh gì. Nó liếc cái đồng hồ Timex của mình (một trong những phần thưởng mà nó nhận được khi bán các tấm thiệp ghi tên riêng), thấy đã 10 giờ 12 phút. Giờ này hẳn lão ta đã dậy rồi. Todd luôn thức dậy trễ nhất là 7 giờ rưỡi, ngay cả khi đang nghỉ hè. Dậy sớm lên đồi, đất trời chào đón mà.

Nó lắng tai nghe thêm ba mươi giây nữa, thấy căn nhà vẫn im lim, nó bèn tựa vào chuông, vừa tựa vừa nhìn kim giây chiếc đồng hồ Timex. Nó đè vào chuông cửa đúng bảy mươi mốt giây thì nghe thấy tiếng bước chân loẹt quẹt. Dép lê, nó suy đoán từ âm thanh xoẹt xoẹt khẽ khàng. Todd rất thích suy luận. Tham vọng hiện tại của nó là mai này trở thành thám tử tư.

“Ra đây! Ra đây!” người đàn ông đang giả vờ là Arthur Denker cáu kỉnh cất tiếng. “Tôi đang ra đây! Đừng bấm chuông nữa! Ra rồi đây!”

Todd ngừng bấm chuông cửa.

Dây xích và chốt cửa lạch cạch phía bên kia cánh cửa không cửa sổ. Đoạn cửa mở ra.

Một lão già, khòm lưng trong áo choàng tắm, đứng đó nhìn qua khung lưới ngoài hiên. Điếu thuốc âm ỉ cháy kẹp trên tay. Todd thầm nhủ người đàn ông này trông như phiên bản kết hợp giữa Albert Einstein và Boris Karloff. Lão ta có mái tóc dài, bạc trắng nhưng đang dần ngả sang màu vàng đầy xấu xí, giống xỉn màu vì nicotine hơn là lấp lánh ánh ngà. Mặt lão đầy nếp nhăn, xệ xuống, sưng húp do ngủ, và Todd lấy làm khinh chán khi thấy hẳn là lão đã chẳng buồn cạo râu mấy hôm đổ lại. Bố của Todd hay dạy, “Cạo râu khiến buổi sáng tươi mới.” Thế nên bố nó hôm nào cũng cạo râu, bất kể có phải đi làm hay không.

Hai con mắt đang dán vào Todd đầy chăm chú, trũng sâu trong hốc mắt, vằn vện mạch máu. Ngay khoảnh khắc, Todd thấy thất vọng khôn tả. Đúng là lão ta có nét hao hao Albert Einstein và có nét giống giống Boris Karloff, nhưng hình tượng giống lão ta nhất trần đời này là một lão già vô gia cư gớm ghiếc chuyên lảng vảng cạnh sân ga.

Nhưng tất nhiên, Todd tự nhủ với bản thân, lão ta vừa mới dậy mà. Trước hôm nay, Todd đã nhiều lần bắt gặp Denker (mặc dù nó vô cùng cẩn thận không để Denker thấy mình, còn khuya nhé), thỉnh thoảng vào các dịp ra ngoài, Denker trông rất tươm tất, từng xen ti mét đúng chuẩn sĩ quan đã nghỉ hưu, mặc dù trong những bài báo Todd đọc được ở thư viện, thì tuổi thật của lão ta là bảy mươi sáu tuổi. Vào những hôm Todd theo dõi Denker vào cửa hàng Shoprite để mua sắm, hoặc vào một trong ba rạp chiếu phim dọc lộ trình xe buýt – số là Denker không có xe ô tô – lão luôn chỉn chu mặc một trong ba bộ com lê được giữ gìn, chăm chút, bất kể thời tiết nóng nực ra sao. Nếu có vẻ trở trời, lão sẽ cắp theo dù gấp dưới tay, trông giống như gậy ngắn của dân sĩ quan. Đôi lúc, lão đội chiếc mũ nỉ mềm. Vào những dịp Denker ra ngoài, lão luôn mày râu nhẵn nhụi, hàng ria trắng (dùng để che vết sứt môi phẫu thuật chỉnh hình không hoàn hảo) được cắt tỉa cẩn thận.

“Thằng nhóc,” lão ta cất tiếng. Giọng lão trầm đục, ngái ngủ. Todd lại thêm thất vọng khi trông thấy áo choàng tắm của lão bạc thếch và xơ xác. Một bên cổ áo bo tròn dựng lên, xiêu vẹo chọc vào phần cổ chảy xệ. Trên ve áo trái dây bẩn, có thể là tương ớt hoặc khả năng cao là xốt bít tết A-1, người hôi rình mùi thuốc lá và bia lâu ngày.

“Thằng nhóc,” lão ta lặp lại. “Ta không cần gì hết. Đọc biển đi. Nhóc biết đọc không đấy? Hẳn là biết nhỉ. Con nít Mỹ đứa nào cũng biết đọc mà. Đừng quấy quả, nhóc. Chúc ngày tốt lành.”

Cánh cửa đóng dần lại.

Lúc đó, nó đã có thể huỵch toẹt tất cả ngay tại đấy, rất lâu sau đó, vào một đêm trằn trọc mãi mà giấc ngủ chẳng tới, Todd thầm nghĩ vậy. Cảm giác thất vọng khi lần đầu tiên tận mục sở thị người đàn ông kia ở cự ly gần, thấy lão ta không đeo bộ mặt trưng ra với thế gian – ta có thể bảo bộ mặt ấy đang được treo trong tủ bên cạnh chiếc dù và mũ nỉ mềm – có thể thúc đẩy nó làm thế. Tất cả đã có thể chấm dứt trong khoảnh khắc ấy, âm thanh lách cách nhỏ bé, tầm thường của then cửa cắt phựt toàn bộ những sự kiện xảy ra sau đó như cây kéo to. Nhưng, như đối phương cũng đã nhận xét, nó là một thằng nhóc người Mỹ, mà nó được dạy rằng kiên trì là một đức tính tốt.

“Đừng quên lấy báo của mình, ông Dussander,” Todd nói rồi lễ phép chìa tờ Times ra.

Cánh cửa đang đóng bỗng khựng lại, chỉ cách khung cửa vài phân. Nét biểu cảm căng thẳng, săm soi lướt qua mặt Kurt Dussander rồi biến mất trong phút chốc. Trong sắc mặt ấy còn vẩn chút sợ hãi. Cái cách lão ta xoay xở gạt đi nét biểu cảm kia rất giỏi, nhưng đây lại là lần thứ ba Todd thất vọng. Việc Dussander giỏi là điều quá tầm thường; bởi nó kỳ vọng lão ta đạt đến mức tuyệt vời.

Ôi trời, Todd khinh ghét nghĩ. Ôi trời đất ơi.

Lão ta lại kéo mở cửa. Một tay đầy u cục do viêm khớp mở chốt ngoài hiên, đẩy cửa mở vừa đủ để lão luồn lách chui qua như con nhện và sát đến mức chạm vào mép tờ báo Todd đang cầm. Thằng nhóc ghê người trông thấy móng tay của lão già vừa dài, vừa vàng, vừa họn hoắt. Đó là bàn tay đã dành gần hết thời gian tỉnh táo của mình để cầm hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Todd nghĩ hút thuốc lá là thói quen nguy hiểm chết người, một thói quen mà bản thân nó sẽ không bao giờ học. Dussander sống thọ đến tuổi này thì đúng là điều kỳ diệu.

Lão già giật tờ báo. “Đưa ta báo đi.”

“Vâng, thưa ông Dussander.” Todd thả tờ báo ra. Bàn tay như chân nhện kéo vụt nó vào trong. Cánh cửa hiên đóng lại.

“Tên ta là Denker,” ông cụ nói. “Không phải Đu-gien-đờ. Hóa ra cậu không biết đọc à. Tội chưa. Thôi, ngày tốt lành.”

Cửa một lần nữa bắt đầu đóng lại. Todd vội vàng nói thật nhanh trước khoảng trống càng lúc càng hẹp. “Bergen-Belsen, tháng Một năm 1943 đến tháng Sáu năm 1943. Auschwitz, tháng Sáu năm 1943 đến tháng Sáu năm 1944, Unterkommandant . Patin...”

Cánh cửa sững lại. Khuôn mặt chảy xệ, nhợt nhạt bủng beo của lão già kia hiện lên trong khoảng trống như một quả bóng nhăn nhúm, đã xì hơi phân nửa. Todd mỉm cười.

“Ông rời Patin ngay trước người Nga. Ông đến Buenos Aires. Người ta đồn ông phất lên ở đó nhờ đem phần vàng lấy từ Đức đầu tư vào mua bán thuốc. Bất kể là gì đi nữa, ông cũng đã ở Mexico City từ 1950 đến 1952. Sau đó...”

“Nhóc, cậu điên như con chim cúc cu gáy vậy.” Một ngón tay viêm khớp vặn vẹo thành hình tròn quanh cái tai biến dạng. Nhưng cái miệng không răng đang run lên đầy nhu nhược, sợ hãi.

“Từ năm 1952 đến năm 1958 thì tôi không biết,” Todd nói, nụ cười lại càng nở rộng. “Tôi đoán là chẳng ai biết, hoặc biết mà họ làm thinh. Nhưng một điệp viên người Israel đã bắt gặp ông ở Cuba làm tiếp tân trong một khách sạn lớn ngay trước thời Castro lên nắm quyền. Họ mất dấu ông khi phiến quân tiến vào Havana. Ông xuất hiện ở Tây Berlin vào năm 1965. Suýt chút nữa họ đã bắt được ông” Nó liến thoắng phát âm hai từ cuối cùng thành một. Cùng lúc, nó bóp chặt những ngón tay của đối phương thành một nắm tay lớn không ngừng ngọ nguậy. Đôi mắt của Dussander nhìn xuống hai bàn tay xinh xẻo, đầy đặn nhờ đủ chất dinh dưỡng, vốn quen với việc lắp xe đua đồ chơi và các mô hình Aurora. Hai thứ này, Todd lắp cả rồi. Thật ra, mới năm trước thôi, nó với bố còn dựng cả mô hình thuyền Titanic. Hai bố con hí hoáy gần bốn tháng, và giờ bố của Todd trưng nó trong văn phòng.

“Tôi không biết cậu đang nói gì,” Dussander bảo. Khi không đeo răng giả, lời lão phát ra nhíu vào nhau khiến Todd thấy chướng tai. Nghe nó không... chà, không thật lắm. Colonel Klink trong phim Anh hùng của Hogan nghe còn giống phát xít Đức hơn Dussander. Nhưng hẳn là lúc trẻ, lão cũng không phải dạng vừa. Trong một bài báo về trại hành quyết đăng trên Hành động Nam giới , tác giả đã gọi lão ta là Ác quỷ Khát máu của Patin. “Biến khỏi đây đi nhóc. Trước khi ta gọi cảnh sát.”

“Ghê thật, thế ông gọi cảnh sát hộ tôi đi, ông Dussander. Hay đúng hơn, phải gọi ông là Herr Dussander mới phải.” Nó tiếp tục cười, khoe hàm răng hoàn hảo được bổ sung flouride ngay từ khi còn bé và được tắm trong kem đánh răng Crest ba lần một ngày khoảng thời gian tương đương. “Sau năm 1965, không ai thấy bóng dáng ông thêm lần nào... cho đến khi tôi gặp ông cách đây hai tháng, trên xe buýt vào trung tâm thị trấn.”

“Cậu điên rồi.”

“Vậy nếu ông muốn gọi cảnh sát,” Todd vừa nói vừa nhe nhởn cười, “mời ông làm ngay cho. Tôi sẽ ngồi trên thềm đợi. Nhưng nếu ông chưa muốn gọi cảnh sát ngay, thì tôi vào nhà được chứ? Có gì chúng ta bàn thêm.”

Có một khoảng lặng rất dài trong lúc lão già nhìn cậu thiếu niên đang toe toét cười. Chim ríu rít trên những hàng cây. Ở dãy nhà bên cạnh, động cơ máy cắt cỏ đang chạy ổn ã, xa xa, trên những con đường tấp nập hơn, còi xe inh ỏi vang lên, khắc họa nhịp điệu cuộc sống và giao thương riêng.

Dẫu vậy, Todd cảm thấy nghi ngờ manh mún dâng lên trong lòng. Lỡ đâu nó nhầm lẫn thì sao? Nó có sai sót gì không nhỉ? Nó không nghĩ vậy, nhưng đây đâu phải bài tập trên trường. Đây là đời thực. Thành thử nó cảm thấy như trút được đá tảng (tảng đá không to lắm, về sau nó trấn an bản thân mình) khi Dussander cất tiếng: “Cậu thích thì cứ vào trong một lát. Nhưng đơn giản là vì ta không muốn gây rắc rối cho cậu, hiểu chửa?”

“Vâng, thưa ông Dussander,” Todd nói. Nó mở cửa hiền rồi bước vào sảnh. Dussander đóng cánh cửa sau lưng bọn họ, chặn ánh dương ngày mới bên ngoài.

Căn nhà có mùi đồ cũ và thoảng mùi mạch nha. Nó ám mùi giống cái mùi thỉnh thoảng nhà Todd có vào buổi sáng sau khi bố mẹ tiệc tùng tưng bừng mà mẹ nó chưa kịp mở cửa cho không khí lưu thông. Nhưng thứ mùi này hôi hơn nhiều. Nó tồn tại và in hằn trong từng đường gân thớ thịt nơi này. Nó là tổ hợp mùi rượu, đồ chiên, mồ hôi, quần áo cũ và thuốc thang gì đó nặng mùi như Vicks hoặc Mentholatum. Hành lang tối tăm trong khi Dussander đứng quá gần, đầu lão ta rụt vào cổ áo choàng, trông chẳng khác nào kền kền đang chờ con vật bị thương nào đó chuẩn bị từ giã cõi đời. Trong khoảnh khắc ấy, dù râu ria lởm chởm và lớp da có phần bèo nhèo, Todd vẫn có thể hình dung một người đàn ông trong bộ đồng phục đen của lực lượng Schutzstaffel rõ nét hơn hẳn những lần bắt gặp lão ta trên đường từ trước tới nay. Nó cảm thấy sự sợ hãi tựa lưỡi dao bén ngót bất thình lình sượt vào bụng. Dăm ba nỗi sợ vặt, sau nó chữa lại.

“Xin nói trước với ông, nếu tôi gặp bất trắc gì...” Todd cất tiếng, chưa kịp nói hết câu thì Dussander đã khinh khỉnh phẩy tay hàm ý gọi nó vào phòng khách, khiến nó cảm thấy máu nóng dồn lên họng và dâng lên má.

Todd đi theo lão, lần đầu tiên, nụ cười của nó nao núng. Trước đó, nó không hề hình dung mọi chuyện sẽ diễn ra theo kịch bản này. Nhưng đâu sẽ vào đấy thôi. Mọi thứ rồi sẽ ổn thỏa. Tất nhiên là vậy rồi. Trước giờ đều thế mà. Nó lại toét miệng nở nụ cười khi bước vào trong phòng khách.

Thất vọng lại chồng chất thất vọng – thất vọng kinh khủng khiếp! - nhưng đáng lý nó phải chuẩn bị tinh thần sẵn cho việc này. Tất nhiên không có bức tranh sơn dầu vẽ chân dung Hitler với chỏm tóc lủng lẳng trước trán và đôi mắt dõi theo nhất cử nhất động của chúng ta. Không có huân chương cất trong hộp, không có thanh kiếm nghi lễ nào gắn trên tường, không có khẩu súng ngắn Luger hay PPK Walther nào trên mặt lò sưởi (thật ra chẳng có cái mặt lò sưởi nào). Dĩ nhiên, Todd tự nhủ, lão ta có bị điên mới trưng những thứ ấy ra trước mặt bàn dân thiên hạ. Dẫu vậy, gạt tất tần tật những điều hay thấy trên phim ảnh hoặc ti vi ra khỏi đầu chẳng phải chuyện dễ dàng gì cho cam. Căn phòng này trông giống phòng khách điển hình của những lão già sống neo đơn dựa vào đồng lương hưu có phần eo hẹp. Lò sưởi giả lát gạch giả. Bên trên treo đồng hồ Westclox. Có một chiếc ti vi Motorola trắng đen để trên giá; đầu ăng ten được bọc bằng giấy bạc để bắt tín hiệu tốt hơn. Sàn nhà được trải thảm xám; bề mặt mòn nhẵn. Giá đựng tạp chí cạnh xô pha bày một số tựa như National Geographic, Reader’s Digest và L.A. Times. Thay vì chân dung Hitler hoặc thanh kiếm nghi lễ thì trên tường lại là giấy chứng nhận quốc tịch lồng khung và hình chụp một người phụ nữ đội mũ trông rõ kỳ khôi. Về sau, Dussander nói với nó loại mũ này được gọi là mũ hình quả chuông, vốn rất thịnh hành vào thập niên hai mươi, ba mươi ngày trước.

“Vợ ta đấy,” Dussander bồi hồi nói. “Bà ấy qua đời năm 1955 vì bệnh phổi. Lúc đó, ta đang làm việc ở Nhà máy Động cơ Menschler ở Essen. Lòng ta như tan nát.”

Todd tiếp tục mỉm cười. Nó bước qua căn phòng, cứ tưởng muốn nhìn người phụ nữ trong bức hình rõ hơn. Hóa ra thay vì nhìn bức ảnh, nó lại mân mê chụp đèn của chiếc đèn bàn con con.

Dừng ngay !”Dussander gay gắt nạt nộ. Todd khẽ giật nảy mình.

“Hành động ra dáng quá,” nó chân thành nhận xét. “Vô cùng quyền uy. Ilse Koch [14E] là kẻ đã làm chụp đèn từ da người phải không nhỉ? Mụ ta cũng là kẻ đã làm trò với những ống thủy tinh.”

“Ta chẳng hiểu cậu đang nói gì,” Dussander đáp. Có một gói thuốc lá Kool loại không đầu lọc trên nóc ti vi. Lão chìa gói thuốc về phía Todd. “Hút không?” lão hỏi rồi nở nụ cười. Nụ cười trông thật gớm guốc.

“Không. Hút thuốc gây ra ung thư phổi. Ngày trước bố tôi cũng hút, nhưng ông bỏ rồi. Ông ấy đến Smokenders để cai.”

“Thế kia đấy.” Dussander rút que diêm từ túi áo choàng rồi lãnh đạm quẹt nó vào lớp vỏ nhựa của chiếc ti vi Motorola. Vừa phà khói, lão ta vừa nói: “Cậu có thể cho ta một lý do tại sao ta không nên gọi cảnh sát và nói với họ những lời buộc tội khủng khiếp mà cậu vừa thốt lên không? Có lý do nào không? Mau mồm lên, nhóc. Điện thoại nằm ngay cuối hành lang. Coi chừng bố cậu cho no đòn đấy. Khéo có khi cậu sẽ phải kê nệm để ngồi ăn tối cả tuần ấy chứ?”

“Bố mẹ tôi không dạy con bằng cách đánh đập. Hình phạt thể xác chỉ tổ gây ra thêm nhiều vấn đề chứ chẳng sửa chữa được là bao.” Mắt của Todd chợt lóe lên. “Ông có đánh đập người nào không? Những người phụ nữ. Ông có lột đồ của họ và...”

Kinh ngạc đến á khẩu, Dussander tiến đến chỗ điện thoại.

Todd lạnh lùng: “Ông không nên làm thế.”

Dussander quay người. Bằng tông giọng hết sức cân nhắc, chỉ hơi lệch do không đeo răng giả, lão nói: “Ta chỉ nói một lần thôi, cậu nhóc, một lần duy nhất thôi. Tên ta là Arthur Denker. Trước giờ ta chỉ có cái tên ấy; thậm chí chẳng phải qua đất Mỹ thì cái tên được Mỹ hóa đâu. Bố ta đặt cho ta cái tên Arthur, bởi cụ rất hâm mộ truyện của Arthur Conan Doyle. Tên của ta chưa bao giờ là Doo-Zander, Himmler [15E] hay ông già Noel. Ta là trung úy dự bị thời chiến. Ta chưa từng tham gia Đảng quốc xã. Trong trận chiến Berlin, ta tham chiến trong ba tuần. Ta công nhận đúng là trong những năm cuối thập niên ba mươi, khi mới kết hôn, ta ủng hộ Hitler. Hắn ta chấm dứt cuộc khủng hoảng và lấy lại một phần danh dự dân chúng ta đánh mất trong hậu quả mà Hiệp ước Versailles đầy bất công, đáng căm phẫn để lại. Ta đoán ta ủng hộ hắn phần nhiều là vì ta kiếm được công ăn việc làm và thuốc lá được bán trở lại, ta cũng không cần lục lọi ống cống khi cần hút thuốc. Vào cuối thập niên ba mươi, ta đã nghĩ hắn ta là kẻ vĩ đại. Có lẽ theo cách riêng thì hắn thật sự như vậy. Nhưng cuối cùng, hắn phát rồ, chỉ đạo những đội quân ma theo lời hô mưa gọi gió của một tay chiêm tinh. Hắn thậm chí còn cho con chó Blondie của mình một viên thuốc tự sát. Đúng là hành động của gã điên; mà đến hồi kết, chúng đều hóa điên cả rồi, những kẻ điên vừa hát ‘Bài ca của Horst Wessel’ [16E] vừa cho con cái mình uống thuốc độc. Vào ngày 2 tháng Năm năm 1945, trung đoàn của ta đầu hàng quân Mỹ. Ta nhớ một binh nhì mang tên Hackermeyer đã tặng ta một phong sô cô la. Chẳng có lý do gì để tiếp tục chống phá; cuộc chiến đã qua rồi, thực ra tất cả đã kết thúc từ tháng Hai. Ta bị giam giữ ở Essen và được đối xử rất đàng hoàng. Chúng ta nghe các phiên tòa Nuremberg trên đài phát thanh, và khi Goering [17E] tự sát, ta đổi mười bốn điếu thuốc Mỹ để lấy nửa chai Schnaps rồi uống cho say. Khi được thả ra, ta làm công nhân lắp bánh xe ô tô ở Nhà máy Động cơ Essen cho đến lúc về hưu năm 1963. Sau đó, ta di cư tới Hoa Kỳ. Cả đời ta chỉ ôm mộng được đặt chân đến vùng đất này. Năm 1967, ta trở thành công dân của Mỹ. Giờ ta là người Mỹ. Được đi bầu. Không Buenos Aires. Không mua bán ma túy. Không Berlin. Không Cuba.” Lão phát âm nó là Cư-ba . “Và giờ nếu cậu không ra khỏi đây, ta sẽ gọi điện thoại đấy.”

Lão ta nhìn Todd nhưng nó chẳng buồn động đậy. Đoạn lão đi dọc hành lang, nhấc điện thoại lên. Thế mà Todd vẫn đứng yên trong phòng khách, bên cạnh cái bàn đặt chiếc đèn con con.

Dussander bắt đầu quay số. Todd nhìn theo lão ta, tim đập nhanh dần trong lồng ngực cho đến khi trống ngực inh tai. Bấm đến con số thứ tư, Dussander quay lại, nhìn nó. Vai lão ta chùng xuống. Lão đặt điện thoại xuống.

“Thằng nhóc,” lão ta thở hắt, “Chỉ là một thằng nhóc.”

Todd nở nụ cười rộng đến mang tai nhưng đầy vẻ khiêm tốn.

“Làm thế nào mà cậu phát hiện ra”

“Chút may mắn và rất nhiều công sức,” Todd đáp. “Tôi có một người bạn tên Harold Pegler, cả hội gọi cậu này với cái tên Foxy. Cậu ta chơi chốt gôn hai trong đội của tôi. Bố cậu ta để rất nhiều tạp chí trong ga ra. Những kệ rất to đựng tạp chí về chiến tranh ngày xưa. Tôi có tìm những số mới hơn, nhưng chủ sạp báo đối diện trường học bảo đa số mấy tạp chí đó dẹp tiệm hết rồi. Đa số các cuốn tạp chí có hình mấy thằng lính Đức – ý tôi là binh lính Đức – và lính Nhật tra tấn phụ nữ. Các bài báo về trại tập trung. Tôi ngấu nghiến đọc lấy đọc để mấy bài về trại tập trung”

“Cậu... ngấu nghiến nó à.” Dussander chằm chằm nhìn nó, tay đưa lên đưa xuống chà xát má, tạo ra âm thanh ram ráp như giấy nhám.

“Ngấu nghiến. Ý là tôi thấy hứng với nó. Tôi thấy thích thú ấy.”

Nó nhớ như in cái ngày nó đứng trong ga ra nhà Foxy – thậm chí nó đồ rằng mình kỷ niệm ấy hơn hẳn những điều gì khác trong đời mình. Nó nhớ năm lớp năm, trước Ngày hội Hướng nghiệp, cô Anderson (tất cả đám học trò gọi cô là Cô Bọ vì răng cửa của cô rất to) bảo với cả lớp về chủ đề tìm kiếm NIỀM HỨNG THÚ LỚN LAO của đời mình.

“Mọi thứ sẽ đột ngột bừng nở,” Cô Bọ Anderson thao thao đầy hào hứng. “Các em chỉ cần nhìn thấy thứ gì đó lần đầu tiên, và ngay lập tức, các em biết mình đã tìm ra NIỀM HỨNG THÚ LỚN LAO của đời mình. Tựa hồ chìa khóa đánh cạch trong ổ. Hoặc tựa hồ trái tim bừng nở tình yêu đầu. Đó là lý do Ngày hội Hướng nghiệp là thứ vô cùng quan trọng, các em ạ – vì có thể vào hôm ấy, các em sẽ tìm được NIỀM HỨNG THÚ LỚN LAO của đời mình.” Đoạn cô tuôn ra một tràng về NIỀM HỨNG THÚ LỚN LAO của đời cô, hóa ra chẳng phải giảng dạy lớp năm mà là sưu tập bưu thiếp thế kỷ mười chín.

Lúc ấy, Todd nghĩ cô Anderson chỉ tào lao thiên địa, nhưng vào cái ngày định mệnh ở ga ra Foxy, nó chợt nhớ tới những lời cô dạy và tự hỏi phải chăng những lời cô nói là chí lý.

Hôm ấy, gió Santa Ana cứ vù vù thổi, phía đông lại đang xảy ra nạn cháy cây tầm thấp. Nó còn nhớ mùi cháy nóng rẫy và nhớp nhúa. Nó còn nhớ mái đầu húi cua của Foxy cùng những vụn sáp Butch bám trên chỏm tóc. Nó nhớ rõ từng chi tiết.

“Tớ nhớ bố có cất truyện tranh ở đâu đó,” Foxy nói. Mẹ nó đang mệt do hôm trước nhậu say nên đã đuổi cả bọn ra khỏi nhà vì cái tội làm ồn. “Hay lắm. Đa số toàn truyện Âu, nhưng có mấy cuốn Turok, Con trai Đá và...”

“Mấy cuốn kia là gì vậy?” Todd hỏi, tay chỉ về những thùng giấy đầy ụ cất dưới cầu thang.

“À, mấy cuốn đó dở òm,” Foxy đáp. “Toàn là truyện chiến tranh có thật thôi. Chán lắm.”

“Tớ đọc được không?”

“Được chứ. Để tớ đi tìm mấy cuốn truyện tranh.”

Nhưng đến lúc Foxy Pegler tìm ra, Todd đã chẳng thèm đọc truyện tranh nữa rồi. Nó như bị mất hồn. Mất hồn hoàn toàn.

Tựa hồ chìa khóa đánh cạch trong ổ. Hoặc tựa hồ trái tim bừng nở tình yêu đầu.

Chính xác cảm giác trong lòng nó là thể. Nó biết quân Mỹ đội mũ vành tròn bọc lưới, còn quân Đức đội mũ dạng vuông. Nó biết quân Mỹ đánh thắng hầu hết các trận chiến, rồi về cuối cuộc chiến, quân Đức phát minh ra tên lửa, bắn phá từ Đức đến Luân Đôn. Nó còn biết dăm ba điều về trại tập trung nữa kìa.

Khác biệt giữa những kiến thức ấy với thứ nó tìm được trong đống tạp chí cất dưới cầu thang ga ra nhà Foxy cũng giống như khác biệt giữa việc nghe kể về vi trùng rồi trực tiếp thấy chúng dưới kính hiển vi, lúc nhúc bò tới bò lui và còn sống nhăn.

Nào là Ilse Koch. Nào là những lò hỏa thiêu, cửa mở toang với bản lề vón đầy bồ hóng. Nào là những tay lính khoác trên mình đồng phục đen của lực lượng Schutzstaffel và những tù nhân trong đồng phục kẻ sọc. Thứ mùi của giấy tạp chí cũ giống y mùi của trận cháy rừng vượt tầm kiểm soát ở phía đông Santo Donato, và nó có thể cảm nhận những tờ giấy cũ vụn ra dưới đầu ngón tay mình, cứ thế, nó lật hết trang này đến trang khác, tưởng chừng nó không còn trong ga ra nhà Foxy nữa mà đang trôi dạt đâu đó trong dòng thời gian, cố vật lộn với suy nghĩ chúng thật sự đã làm những hành động thế này ư, con người mà lại làm như vậy kia à, có người cho phép chúng hành động thế sao, đầu nó ong lên vì khiếp đảm trộn lẫn với hào hứng, mắt nó nóng bừng, căng lên, nhưng nó vẫn đọc tiếp, và từ cột in bên dưới bức hình những thân người chồng chéo lên nhau ở một nơi mang tên Dachau, con số này đập vào mắt nó:

6.000.000.

Nó đã thầm nghĩ: Người ta kèm nhèm ghi sai, thêm một hai số không rồi, con số này gấp đôi số dân ở L.A. còn gì! Nhưng trong một tạp chí khác (bìa tạp chí có hình một người phụ nữ bị xích vào tường trong khi một gã đàn ông mặc quân phục Đức Quốc xã cầm que cời lửa trong tay tiến lại gần cô với nụ cười ngoác tận mang tai), nó lại trông thấy con số ấy:

6.000.000.

Cơn đau đầu càng lúc càng như búa bổ. Miệng nó khô khốc. Văng vẳng từ đằng xa, nó nghe thấy Foxy bảo cậu ta phải vào ăn tối. Todd hỏi Foxy liệu nó có thể ở trong ga ra đọc trong lúc Foxy ăn được không. Foxy nhìn nó với vẻ thoáng bối rối, nhún vai, đoạn đồng ý. Thế là Todd cứ say sưa đọc, khom người bên những thùng đựng tạp chí chiến tranh cũ, cho đến khi mẹ nó gọi điện thoại bắt nó về nhà.

Tựa hồ chìa khóa đánh cạch trong ổ.

Tất cả những cuốn tạp chí đều bảo những gì đã xảy ra là điều vô cùng tệ hại. Nhưng những câu chuyện ấy đều được kể tiếp ở phần cuối cuốn tạp chí, và khi lật đến những trang này, ta sẽ thấy bao quanh những dòng lên án chiến tranh toàn là quảng cáo cho sản phẩm như dao Đức, thắt lưng, mũ bảo hiểm, cũng như Magic Trusses và Thuốc đảm bảo mọc tóc. Những quảng cáo này bản cờ Đức trang trí hình chữ vạn, súng lục Luger của Đảng quốc xã và trò chơi mang tên Tấn công Thiết giáp cũng như các khóa học từ xa, giới thiệu phương thức làm giàu bằng cách bán giày đế cao cho những anh chàng thiếu thước tấc. Họ lên án chiến tranh là điều tồi tệ, nhưng xem ra rất nhiều người chẳng buồn quan tâm.

Tựa hồ trái tim bừng nở tình yêu.

Ô phải, nó nhớ như in cái ngày hôm ấy. Nó nhớ từng chi tiết – cuốn lịch ố vàng của những năm tháng đã thành dĩ vãng trên bức tường phía sau, vết dầu dính trên sàn xi măng, cách các cuốn tạp chí được cột lại bằng dây màu cam. Nó nhớ cơn đau đầu đã đau lại càng như búa bổ mỗi lần nó nhớ đến con số vượt ngoài tầm tưởng tượng:

6.000.000.

Nó nhớ mình đã nghĩ: Mình muốn biết tất cả những gì đã xảy ra ở những nơi này. Tất tần tật. Và mình muốn biết điều gì đúng hơn – ngôn từ hay những quảng cáo họ đăng đằng sau ngôn từ ấy.

Mãi một khoảng thời gian rất lâu sau đó, nó mới đẩy thùng giấy xuống dưới cầu thang, nó nhớ đến Cô Bọ Anderson và thầm nhủ: Cô nói đúng. Mình đã tìm ra NIỀM HỨNG THÚ LỚN LAO của đời mình.

Dussander cứ thế nhìn Todd hồi lâu. Đoạn lão bước qua phòng khách, nặng nề gieo mình xuống chiếc ghế đung đưa. Lão lại đưa mắt nhìn Todd, bất lực không thể phân tích nổi nét biểu cảm có phần mơ màng, có phần hoài niệm trên khuôn mặt cậu thiếu niên.

“Phải, ban đầu tôi chỉ quan tâm đến những cuốn tạp chí ấy thôi, nhưng dần dà, tôi phát hiện rất nhiều điều họ nói chỉ là xằng bậy. Vì thế, tôi đến thư viện và nghiên cứu thêm. Nhiều thứ còn choáng váng hơn. Ban đầu, bà thủ thư lôi thôi nhếch nhác không chịu cho tôi đọc loại sách này vì nó nằm trong phần sách cho người trưởng thành của thư viện, nhưng tôi bảo mụ ta tôi đọc để làm bài trên trường. Nếu để làm bài trên trường, họ phải cho tôi đọc chứ chẳng còn cách nào khác. Tuy nhiên, mụ ta vẫn gọi cho bố tôi.” Đôi mắt của Todd nhướn lên đầy khinh miệt. “Như thể mụ ta tưởng bố không biết tôi làm gì, ông hiểu ý tôi không”

“Bố của cậu biết sao?”

“Biết chứ sao không. Bố tôi còn nghĩ con trẻ nên hiểu về cuộc sống càng sớm càng tốt kìa – cả mặt xấu lẫn mặt tốt. Như thế mới chuẩn bị tinh thần để đương đầu được. Bố tôi dạy cuộc đời là một con hổ mà ta phải biết chụp đuôi, nếu ta không biết bản chất của con thú ấy, đừng trách tại sao ta bị ăn thịt.”

“Hừm,” Dussander ậm ừ.

“Mẹ tôi cũng có quan điểm như thế.”

“Hừm,” Dussander trông có vẻ sững sờ, chẳng rõ là mình đang lạc chốn nào.

“Nói tóm lại,” Todd quay lại câu chuyện, “tài liệu trong thư viện chất lượng lắm. Họ có đến cả trăm cuốn sách với nội dung về trại tập trung của Đức quốc xã, chẳng cần đi đâu xa, ngay tại thư viện Santo Donato này. Hẳn rất nhiều người thích đọc những cuốn sách ấy. Không có nhiều hình ảnh như trong tạp chí của bố Foxy, nhưng tư liệu hết sức ngon lành. Những cái ghế có gai nhọn xuyên qua mặt. Dùng kìm nhổ răng bọc vàng. Khí độc xộc ra từ vòi sen.” Todd lắc đầu. “Các người đúng là chơi tới bến đấy, ông có công nhận không? Quả thật chẳng từ thủ đoạn gì.”

“Kinh thật,” Dussander nặng nề nói.

“Thậm chí tôi còn làm nguyên một bài nghiên cứu nữa kia, và ông biết tôi được bao nhiêu điểm không? A cộng đấy nhé. Tất nhiên tôi phải cẩn thận. Phải khôn khéo khi viết về chủ đề này. Cẩn thận chứ không thì thiệt thân.”

“Vậy sao?” Dussander hỏi. Bàn tay run bần bật, lão rút thêm một điếu thuốc lá.

“Ồ đúng thế. Tất cả những cuốn sách ấy đều đi theo cách nhất định. Như thể những kẻ viết ra chúng đã phát mửa trước nội dung chính họ viết ra.” Todd nhíu mày, vật lộn với suy nghĩ ấy, cố nói nó thành lời. Nó chưa biết dùng từ gì để mô tả lối viết văn ấy nên hơi chật vật khi mô tả. “Tất cả bọn họ viết như thể họ chong chong thức trắng biết bao đêm. Rằng chúng ta phải cẩn thận để những điều như thể không bao giờ xảy ra nữa. Tôi viết bài nghiên cứu theo kiểu đấy, và tôi đoán lý do giáo viên cho tôi điểm A chỉ đơn giản là vì tôi đọc hết đống tư liệu ấy mà không nôn thốc nôn tháo bữa trưa của mình.” Một lần nữa, Todd lại nở nụ cười đắc thắng.

Dussander rít thật sâu điếu thuốc lá Kool không đầu lọc. Điếu thuốc run run. Khi phà khỏi ra từ lỗ mũi, lão húng hắng ho theo kiểu người già. “Thật không tài nào tin nổi cuộc nói chuyện này lại đang xảy ra,” lão nói. Chúi người tới trước, lão trân trân nhìn Todd. “Nhóc, cậu có biết chủ nghĩa hiện sinh không”

Todd phớt lờ câu hỏi. “Ông đã lần nào gặp Ilse Koch chưa?”

“Ilse Koch à?” Dussander đáp thật khẽ, gần như không nghe thấy. “Có, ta từng gặp rồi.”

“Bà ta có đẹp không?” Todd hăm hở hỏi. “Ý tôi là...” Tay nó mô tả một chiếc đồng hồ cát trong không khí.

“Hẳn cậu từng nhìn thấy hình bà ta rồi chứ?” Dussander hỏi. “Một kẻ sùng thượng nhiệt thành như cậu kia mà?”

“Sùng... sùng cái gì kia...”

“Kẻ sùng thượng” Dussander giải thích, “kẻ đam mê thứ gì đó. Kẻ... hứng thú cao độ với thứ gì đó.”

“Vậy sao? Hay nhỉ.” Trong chốc lát, nụ cười toe toét của Todd nhuốm màu bối rối và yếu đuối, nhưng rồi nhanh chóng rực rỡ đầy đắc thắng. “Tất nhiên, tôi thấy hình bà ta rồi. Nhưng hình trong sách thì ông biết rồi đấy.” Nó nói như thể Dussander sở hữu tất tần tật những cuốn này. “Toàn tranh trắng đen, mờ mịt... đa số là hình chụp nhanh. Chẳng kẻ nào biết họ đang chụp những bức ảnh lưu danh sử sách. Vòng một bà ta nở nang lắm à?”

“Bà ta vừa béo vừa lùn, da lại xấu,” Dussander gọn lỏn. Lão gí nửa điếu thuốc hút dở xuống đĩa bánh Table Talk bằng thiếc đựng đầy đầu mẩu.

“Ôi. Chán thế.” Mặt của Todd thuỗn ra thất vọng.

“Đời lắm chữ ngờ,” Dussander trầm ngâm nhìn Todd. “Cậu trông thấy hình của ta trong một cuốn tạp chí phiêu lưu chiến tranh, và tình cờ thế nào, cậu lại ngồi bên cạnh ta trên xe buýt. Chậc!” Lão đấm tay xuống thành ghế, nhưng không quá mạnh.

“Không phải, thưa ông Dussander. Còn nhiều điều chứ không chỉ có thể. Rất nhiều là đằng khác,” Todd sốt sắng bổ sung, chúi người tới trước.

“Ồ? Vậy sao?” Đôi lông mày rậm nhướn lên, lịch thiệp thể hiện thái độ bán tín bán nghi.

“Đương nhiên. Những bức hình chụp ông mà tôi dán trong sổ sưu tầm có tuổi đời ba chục năm là ít. Giờ là năm 1974 rồi mà.”

“Cậu có... sổ sưu tầm sao?”

“Ồ, phải, thưa ông! Sổ của tôi hoành tráng lắm. Phải đến vài trăm bức hình. Để có dịp, tôi cho ông xem. Ông sẽ há hốc mồm cho xem.”

Gương mặt của Dussander nhăn lại đầy ghê tởm, nhưng lão không nói gì.

“Mấy lần đầu gặp ông, tôi không dám chắc chắn. Và rồi một ngày nọ, trời mưa, ông lên xe buýt mà trên người vẫn mặc chiếc áo mưa màu đen bóng loáng.”

“Là vậy ư,” Dussander kinh ngạc.

“Chính nó. Có một bức ảnh ông mặc áo khoác tương tự trong cuốn tạp chí ở ga ra nhà Foxy. Ngoài ra cũng có bức hình chụp ông mặt áo bành tô của Schutzstaffel trong một cuốn sách ở thư viện. Hôm ấy, khi bắt gặp ông, tôi đã tự nhủ với bản thân mình, “Không còn nghi ngờ gì nữa. Đó chính là Kurt Dussander.’ Thế là tôi bắt đầu bám theo ông…”

“Cậu làm gì kia?”

“Bám theo ông. Theo dõi ông. Tôi nuôi mộng sau này trở thành thám tử tư như Sam Spade trong sách, Mannix trên ti vi mà. Tôi cẩn thận từng li từng tí. Tôi không muốn ông cảnh giác. Ông muốn xem vài bức hình không?”

Todd lấy từ túi sau bọc đựng hồ sơ đã gập đôi. Mồ hôi khiến nắp phong bì bết xuống. Nó cẩn trọng gỡ ra. Mắt nó long lanh như một cậu bé đang nghĩ về ngày sinh nhật hay lễ Giáng sinh, hoặc pháo hoa mà nó sẽ bắn vào ngày Quốc khánh 4 tháng Bảy.

“Cậu chụp hình ta sao?”

“Ôi, chứ còn gì nữa. Tôi thủ theo chiếc máy ảnh nhỏ mà. Máy Kodak. Vừa mỏng vừa dẹt, lọt thỏm trong tay. Khi đã quen rồi, ta có thể chụp hình đối tượng mà chỉ cần cầm máy ảnh trong tay, xòe ngón tay đủ rộng để ống kính lọt qua. Đoạn dùng ngón cái bấm nút.” Todd cười bẽn lẽn. “Tôi quen rồi nhưng trong lúc hành sự vẫn vô tình chụp rất nhiều hình ngón tay mình. Nhưng tôi nhất quyết không chịu từ bỏ. Tôi cho rằng con người ta có thể làm bất cứ điều gì nếu họ đủ nỗ lực, ông hiểu không? Nghe sến súa thật nhưng đúng là thế.”

Kurt Dussander trông bợt bạt và hom hem, rúm ró trong bộ áo choàng. “Cậu đem đến tiệm cho người ta rửa ảnh à, nhóc?”

“Hả?” Khuôn mặt Todd đầy vẻ choáng váng và giật mình, đoạn chuyển sang khinh khi. “Không! Ông nghĩ tôi là ai vậy, tôi đâu có ngu! Bố tôi có phòng tối. Từ lúc chín tuổi tôi đã tự rửa ảnh rồi.”

Dussander chẳng nói gì, nhưng lão giãn ra khuôn mặt đã hồng hào trở lại một chút.

Todd đưa cho lão ta vài tấm ảnh in giấy bóng, rìa thô ráp cho thấy đúng là chúng được rửa ở nhà. Dussander xem qua một lượt, im lặng đầy nộ khí. Có tấm chụp lão ngồi thẳng lưng bên cạnh cửa sổ trong chiếc xe buýt vào trung tâm thị trấn, tay cầm cuốn tiểu thuyết Trăm năm – tác phẩm mới nhất của James Michener trên tay. Có tấm chụp lão đứng ở trạm xe buýt đại lộ Devon, dù cắp dưới nách, đầu nghiêng ra sau theo một góc gợi nhớ đến hình tượng tướng De Gaulle với vẻ ngoài đầy oai nghiêm. Có tấm chụp lão đứng dưới hiên rạp chiếu phim Majestic, uy nghi, lặng thinh, nổi bật giữa những thanh thiếu niên ngả ngớn và những bà nội trợ khuôn mặt bần thần, tóc cuốn lỗ nhờ chiều cao và dáng điệu. Cuối cùng là tấm hình lão nhìn vào hòm thư của mình.

“Tôi cứ sợ ông sẽ phát hiện khi tôi chụp bức này,” Todd kể. “Rủi ro có tính toán cả đấy. Tôi đang đứng ngay bên kia đường. Ôi trời ơi, ước gì tôi có tiền sắm hẳn máy Minolta với ống kính tele. Rồi sẽ có ngày...” Todd tỏ vẻ bâng khuâng.

“Hẳn cậu đã dựng sẵn một câu chuyện để phòng hờ rồi phải không”

“Cùng lắm thì tôi hỏi ông có nhìn thấy chó nhà tôi không. Tóm lại, sau khi rửa ảnh, tôi so sánh chúng với những bức này.”

Nó đưa cho Dussander ba bức hình đã được sao chép. Trước đó, lão đã nhìn thấy những bức ảnh này rất nhiều lần. Bức hình đầu tiên chụp lão trong phòng làm việc ở trại tái định cư Patin; hình đã bị cắt xén, chỉ còn thể hiện lão và lá cờ Đức quốc xã trên giá bên cạnh bàn làm việc. Tấm hình thứ hai chụp vào ngày lão tòng quân. Bức ảnh cuối cùng chụp cảnh lão bắt tay với Heinrich Gluecks, nhân vật chỉ đứng sau Himmler.

“Lúc đó tôi khá chắc chắn rồi, nhưng tôi không thể kiểm tra xem ông có bị sứt môi hay không vì bộ râu chết tiệt kia. Song tôi phải chắc chắn như đinh đóng cột mới được, nên tôi đã làm cái này.”

Nó đưa cho lão tờ giấy cuối cùng trong bọc đựng. Tờ giấy đã được gập đi gập lại rất nhiều lần. Đất cát đóng bẩn ở các nếp gấp. Góc giấy bị quăn và mủn hết cả – tình trạng của những tờ giấy nằm trong túi của những cậu thiếu niên không bao giờ thiếu việc để làm, nơi để đi. Đó là bản sao một tờ giấy truy nã của Israel về Kurt Dussander. Cầm nó trong tay, Dussander ngẫm nghĩ về những xác chết nhất quyết không chịu yên, không để bị chôn dưới lòng đất.

“Tôi đã lấy dấu vân tay của ông,” Todd vừa nói vừa mỉm cười. “Rồi tôi đem so sánh với dấu tay trên tờ thông tin truy nã.”

Dussander há hốc nhìn nó rồi thốt lên từ tiếng Đức mang nghĩa mẹ kiếp. “Không thể nào!”

“Có chứ sao không. Bố mẹ tôi tặng tôi một bộ tạo dấu vân tay vào dịp Giáng sinh năm ngoái. Một bộ thật hẳn hoi chứ không phải đồ chơi. Nó có bột và ba cây cọ cho ba bề mặt khác nhau, một tờ giấy đặc biệt để thu dấu vân tay. Bố mẹ tôi biết mai này lớn lên, tôi có ước mơ trở thành thám tử tư mà. Tất nhiên, họ nghĩ sớm muộn gì tôi cũng chán cái ước mơ ấy.” Nó gạt ý kiến ấy đi bằng cú nhún vai chẳng mảy may cảm xúc. “Cuốn sách giải thích tất tần tật về các chủng sinh trắc vân tay và các điểm tương tự. Chúng được gọi là các bộ đối sánh . Ông cần tám bộ đối sánh cho một dấu vân tay để được tòa án chấp nhận.

“Nói tóm lại là, vào hôm ông đến rạp chiếu phim, tôi đến đây, rắc bột lên hộp thư, nắm cửa của ông và lấy hết những dấu vân tay mà tôi có thể lấy. Thông minh đấy chứ nhỉ?”

Dussander lặng thinh chẳng đáp lời nào. Lão ta nắm chặt thành ghế, khuôn miệng không răng móm mém run lẩy bẩy. Todd không thích điều đó. Nó khiến trông lão như thể sắp sửa khóc đến nơi. Điều đó thật nực cười chứ còn gì nữa. Ác quỷ Khát máu của Patin mà rơi lệ sao? Thà nghe tin Chevrolet phá sản hoặc McDonald’s bỏ bán bánh burger mà chuyển sang bán trứng cá muối và nấm truffle còn hơn.

“Tôi thu được hai bộ dấu vân tay,” Todd nói. “Một bộ trông không giống những dấu tay trên tờ lệnh truy nã. Tôi nhận ra đó là dấu tay của nhân viên giao thư. Còn lại là của ông. Tôi tìm được nhiều hơn tám bộ đối sánh. Nói chính xác là tôi có mười bốn bộ ngon lành cành đào.” Nó toét miệng cười. “Tôi đã làm như vậy đấy.”

“Cậu đúng là thằng nhãi khốn nạn, ” Dussander bật ra, và trong một khắc, mắt lão long lên đầy sát khí. Todd cảm thấy người mình râm ran vì hào hứng như lúc ban nãy đứng trong hành lang. Đoạn Dussander lại ngồi sụp xuống ghế.

“Cậu đã kể với ai rồi?”

“Chưa ai cả.”

“Bạn bè cũng vậy sao? Thằng bé Cony Pegler gì đó?”

“Foxy. Foxy Pegler. Không, thằng đấy mồm loa mép giải lắm. Tôi chưa kể ai cả. Không có ai tôi đặt niềm tin nhiều như thế.”

“Cậu muốn gì? Tiền à? Ta e rằng ta chẳng có đâu. Dù không lãng mạn hay nguy hiểm như vận chuyển ma túy, ở Nam Mỹ, có một dạng đường dây thế này. Đúng hơn là từng có một dạng mạng lưới bạn già ở Brazil, Paraguay và Santo Domingo. Những kẻ chạy trốn khỏi cuộc chiến. Ta tham gia vào giới của họ, cũng kiếm được đồng ra đồng vào nhờ khoáng chất và quặng – thiếc, đồng, bô-xít. Nhưng rồi thời thế thay đổi. Nào là chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa chống Mỹ. Có thể ta đã bình an vượt qua những biến cải ấy, song người của Wiesenthal đánh hơi được ta. Họa vô đơn chí, cậu nhóc ạ, tựa như con chó đực đuổi con chó cái đương mùa động dục. Hai lần, suýt chút nữa chúng bắt được ta; một lần, ta nghe thấy những tên khốn Do Thái ngay phòng bên cạnh.”

“Chúng treo cổ Eichmann,” lão thì thầm. Một tay đưa lên cổ, mắt lão tròn như mắt đứa trẻ đang lắng nghe đoạn đen tối nhất trong câu chuyện cổ tích đáng sợ – “Hansel và Gretel” chẳng hạn, hoặc “Lão râu xanh.” [18E] “Ông ta già rồi, có còn làm hại được ai nữa đâu. Ông ta thờ ơ với chính trị. Thế mà họ vẫn treo cổ ông ta.”

Todd gật đầu.

“Cuối cùng, ta tìm đến những kẻ duy nhất có thể giúp ta. Họ đã từng giúp những người khác, còn ta thì chẳng chạy trốn nổi nữa rồi.”

“Ông đến hội Odessa sao?” Todd hào hứng hỏi.

“Đến gặp người Silicy,” Dussander khô khốc nói, nghe thấy thế, Todd thất vọng ra mặt. “Sắp xếp tất cả. Giấy tờ giả, quá khứ giả. Cậu muốn uống nước không, nhóc?”

“Có chứ. Ông có Coca Cola không?”

“Không có Coca Cola đâu.” Lão nói lơ lớ.

“Sữa thì sao?”

“Sữa có.” Dussander bước qua mái vòm vào nhà bếp. Bóng đèn huỳnh quang bật lên sáng choang. “Giờ ta sống trên tiền cổ tức, giọng lão vắng lại. “Cổ phiếu ta gom thời hậu chiến bằng một cái tên khác. Qua một ngân hàng ở Bang Maine, nếu cậu tò mò. Một năm sau khi ta chi tiền ra mua, tay nhân viên ngân hàng mua cổ phiếu cho ta vào tù vì tội giết vợ... đời quả lắm kỳ khôi nhỉ, nhóc?” [19E]

Cửa tủ lạnh mở rồi lại đóng.

“Đám tay sai Sicily không biết về những cổ phiếu ấy,” lão ta kể. “Ngày nay, đâu cũng thấy người Sicily, nhưng thời đó, ở phía Bắc, cùng lắm chỉ có thể tìm thấy bọn họ ở Boston mà thôi. Nếu chúng biết, chúng đã bòn rút bằng hết. Chúng sẽ rỉa ta đến tận xương rồi đưa ta đến đất Mỹ để chết đói trên dăm đồng tiền trợ cấp và tem phiếu thực phẩm.”

Todd nghe thấy tiếng tủ chạn mở ra; nó nghe thấy tiếng chất lỏng rót vào ly.

“Ta mua chút cổ General Motors, chút cổ American Telephone and Telegraph, một trăm rưởi cổ Revlon. Tất cả là tay nhân viên nhà băng kia chọn. Tên cậu ta là Dufresne – ta nhớ vì cái tên ấy hao hao tên của ta. Xem ra cậu ta chọn cổ phiếu tăng trưởng thì tài nhưng lại không khôn ngoan lắm khi đi giết vợ. Tội ác vì tình đấy, nhóc ạ. Nó chỉ chứng minh rằng tất cả đám đàn ông đều là những con lừa biết đọc.”

Lão trở lại phòng, dép loẹt quẹt. Tay lão cầm hai ly nhựa màu xanh trông như quà thỉnh thoảng phát nhân dịp khai trương trạm xăng. Cứ đổ đầy bình xăng là được tặng một ly miễn phí. Dussander dúi ly về phía Todd.

“Ta sống tương đối đầy đủ trên danh mục cổ phiếu mà cậu Dufresne kia xây dựng trong năm năm đầu tiên ở đây. Nhưng rồi ta bán hết cổ phiếu Diamond Match để mua căn nhà này và một căn nhà ở vùng thôn dã cách Big Sur không xa. Rồi thì lạm phát. Suy thoái. Ta bán căn nhà ở vùng quê, dần dần bán bớt cổ phiếu, rất nhiều mã đạt mức lợi nhuận khủng. Giá mà ta mua thêm. Nhưng ta nghĩ ta phân bố rủi ro theo những hướng khác khá tốt; suy cho cùng, người Mỹ các cậu hay bảo cổ phiếu được ăn cả, ngã thì về không mà...” Lão phát ra tiếng huýt sáo với khuôn miệng không hàm răng, búng tay tanh tách.

Todd phát chán. Nó đến đây không phải để nghe Dussander than thở về tiền bạc hay lải nhải về cổ phiếu. Suy nghĩ tống tiền Dussander thậm chí còn chưa bao giờ lướt qua tâm trí của Todd. Tiền ư? Nó biết làm gì với tiền? Nó được cho tiền tiêu vặt; nó còn giao báo thêm. Tuần nào nhu cầu tiền bạc của nó cao hơn những gì hai nguồn này mang lại, nó lại kiếm người có nhu cầu cắt cỏ là xong.

Todd đưa sữa lên môi rồi ngần ngừ. Nụ cười của nó lại bừng lên... một nụ cười đầy ngưỡng mộ. Nó chìa cái ly quà tặng khai trương trạm xăng cho Dussander.

Ông uống trước đi,” nó ranh mãnh nói.

Dussander trợn mắt lên nhìn nó một thoáng, chẳng hiểu mô tê gì, đoạn lão đảo đôi mắt đỏ ngầu. “ Grüss Gott !” Lão cầm ly, uống ực hai hớp rồi đưa lại cho nó. “Không hấp hối ngạt thở. Không đưa tay cào cổ. Không có mùi hạnh nhân đắng. Đây là sữa, nhóc ạ. Là sữa. Sữa của Dairylea Farms. Trên hộp giấy in hình con bò đang mỉm cười.”

Todd cảnh giác nhìn lão một lúc, đoạn uống ngụm nhỏ. Phải, nó có vị như sữa, quả thật là thế, nhưng chẳng rõ vì lý do gì mà nó không còn thấy khát nữa rồi. Nó đặt ly xuống. Dussander nhún vai, cầm ly của mình lên uống đánh ực, rồi lão chép môi.

" Schnaps [20E] à?" Todd hỏi.

“Bourbon. Ancient Age. Rất ngon. Mà lại rẻ.”

Todd đưa những ngón tay nghịch đường may quần jeans.

“Vậy,” Dussander nói, “nếu cậu quyết định chơi trò được ăn cả ngã về không, thì cậu nên ý thức được rằng cậu đã chọn cổ phiếu vô giá trị rồi.”

“Là sao kia?”

“Tống tiền,” Dussander đáp. “Không phải trong Mannix, Hawaii Five-0 Barnaby Jones , người ta đều gọi như vậy sao? Hăm dọa làm tiền. Nếu đó là mục...”

Nghe đến đấy, Todd phá lên cười – nụ cười nắc nẻ, hào sảng của một cậu thiếu niên. Nó lắc đầu nguầy nguậy, cố nói gì đó nhưng không thể, rồi lại tiếp tục phá lên cười.

“Không,” Dussander cất tiếng, và bỗng dưng, trông lão xám ngoét, sợ hãi hơn hẳn so với lúc lão và Todd mới bắt đầu nói chuyện. “Ta thấy mục đích của cậu không phải thế... chí ít không phải để tống tiền. Nhưng dù cậu cười như vậy, ta vẫn đánh hơi thấy mùi hăm dọa để đạt được thứ gì đó. Là gì vậy? Tại sao cậu lại đến đây làm phiền một lão già? Đúng như cậu nói, ta từng là phát xít. Thậm chí ta còn nằm trong lực lượng SS. Nhưng giờ ta chỉ là một lão già, muốn đại tiện ta còn phải dùng thuốc đặt hậu môn nữa kìa. Thế cậu muốn gì?”

Todd nghiêm túc trở lại. Nó nhìn Dussander với đôi mắt thẳng thắn, tha thiết. “Có gì đâu... Tôi chỉ muốn nghe ông kể. Thế thôi. Tôi chỉ muốn vậy. Thật đấy.”

Nghe ta kể sao?” Dussander lặp lại. Trông lão chẳng hiểu đầu của tai nheo gì.

Todd chúi người tới trước, khuỷu tay rám nắng tì trên đầu gối của quần jeans xanh. “Chuẩn rồi. Đội hành quyết. Phòng hơi ngạt. Lò đốt. Những người phải tự đào mồ chôn chính mình rồi đứng trên thành mộ để rơi xuống. Cả...” Lưỡi nó thè ra, liếm môi. “Cả thí nghiệm. Thử nghiệm trên người. Tất tần tật. Những thứ ngon lành cành đào.”

Dussander trợn mắt nhìn nó với vẻ ngẩn ngơ ngạc nhiên, cái cách bác sĩ thú y nhìn con mèo đẻ ra đàn con hai đầu. “Cậu đúng là quái vật,” lão khẽ nói.

Todd khịt mũi. “Theo như những cuốn sách tôi đọc để làm báo cáo, ông mới là quái vật đấy, thưa ông Dussander. Chứ tôi có là gì. Ông đưa họ vào trong lò, không phải tôi. Hai nghìn người một ngày ở Patin trước khi ông đến, sau khi ông tới, con số là ba nghìn, rồi ba nghìn rưỡi trước khi người Nga kịp ngăn ông lại. Himmler tán dương ông là chuyên gia năng suất, thậm chí còn trao huân chương cho ông. Thế mà ông gọi tôi là quái vật cơ đấy. Ôi trời ơi.”

“Tất cả chỉ là lời nói dối bẩn thỉu của Mỹ,” Dussander phản bác đầy gay gắt. Lão đặt ly xuống bàn đánh cạch, khiến bourbon sánh ra tay và rơi lên bàn. “Vấn đề không phải lỗi của ta, giải pháp cũng vậy. Ta nhận lệnh và chỉ thị, nên ta làm theo, thế thôi.”

Nụ cười của Todd càng lúc càng nở rộng; nó tựa điệu nhếch mép.

“Ờ, ta còn lạ gì cách đám người Mỹ bóp méo chuyện đó, Dussander lầm bầm. “Nhưng so với đám chính trị gia nước cậu, tiến sĩ Goebbels của chúng ta chẳng khác nào thằng oắt con ngồi nghịch sách tranh trong nhà trẻ. Bọn chúng ngoài miệng thì giả nhân giả nghĩa, nhưng cùng lúc, chúng giội bom napalm phừng phừng cháy lên bao đứa trẻ và cụ già thất thanh gào thét. Ở nước cậu, những kẻ phản đối quân dịch bị nhạo báng là thỏ đế, là phản chiến. Vì từ chối tuân theo mệnh lệnh mà họ bị tống giam hoặc bị đất nước này đày ải. Những người biểu tình phản đối chuyến phiêu lưu mạo hiểm lành ít dữ nhiều ở châu Á của đất nước này bị đánh đập ngay dưới đường. Những lính Mỹ giết chóc dân thường vô tội được tổng thống trao thưởng huân huy chương, được chào đón về nhà với diễu hành, với cờ hoa sau khi đâm chết bao trẻ em bằng lưỡi lê, đốt cháy bao bệnh viện. Chúng được chiêu đãi tiệc tối, tặng thưởng Chìa khóa Thành phố cùng những tấm vé xem các trận bóng chày chuyên nghiệp miễn phí.” Lão nâng ly về phía Todd. “Thắng làm vua, thua làm giặc. Kẻ thua bị xem là tội phạm chiến tranh vì tuân theo chỉ thị.” Lão uống rượu rồi húng hắng ho khiến gò má có đôi chút sinh khi trở lại.

Từ đầu chí cuối, Todd cựa quậy không yên, giống như vào buổi tối hôm đó, khi bố mẹ nó bàn về tin tức trên đài – bố bảo nó y như ông con Walter Klondike. Nó chẳng thèm quan tâm quan điểm chính trị của Dussander, giống như việc nó chỉ thấy ngán ngẩm trước câu chuyện cổ phiếu của lão. Quan điểm của cá nhân nó là người ta dựng lên chính trị để dễ bề làm trò. Giống như năm ngoái, nó muốn lần mò dưới váy của Sharon Ackerman. Sharon chê nó hư thân mất nết, trong khi nghe tông giọng con bé, nó thừa biết ý tưởng đó phần nào kích thích đối phương. Nó bèn bảo mai này khi lớn, nó muốn làm bác sĩ, thế là con bé cho nó sờ soạng. Chính trị là thế đấy. Nó muốn nghe chuyện các bác sĩ Đức tìm cách cho phụ nữ giao phối với chó, đặt những cặp song sinh vào tủ lạnh xem họ chết cùng lúc hay một trong hai sẽ cầm cự được lâu hơn, rồi cả trị liệu sốc điện, rồi cả phẫu thuật mà không gây mê, rồi cả những tay lính Đức hãm hiếp phụ nữ vô độ. Còn lại toàn dăm ba thứ dấm dớ vớ vẩn để lấp liếm những chuyện ngon lành sau khi kẻ khác xuất hiện và đặt dấu chấm hết cho nó.

“Nếu không tuân theo họ, ta chỉ có nước chết.” Dussander thở hổn hển, thân trên nghiêng tới ngả lui trên ghế khiến lò xo kèn kẹt. Quanh lão thoang thoảng mùi rượu. “Chưa kể lúc nào cũng có mặt trận Liên Xô rình rập, nicht wahr [21E] ? Lãnh đạo của chúng ta là đám điên, đúng thật, nhưng ai đời lại đi tranh cãi với kẻ điên bao giờ... nhất là khi kẻ điên nhất trong đám này lại được quỷ Satan phù hộ. Hắn thoát khỏi âm mưu ám sát đầy hoành tráng trong gang tấc. Những kẻ dàn trận bị siết cổ bằng dây đàn piano, từ từ chậm rãi. Cái chết ngập ngụa trong đau đớn tột độ của chúng đã được quay lại để giáo huấn cho tầng lớp ưu tú...”

“Đấy! Tuyệt vời!” Todd bốc đồng reo lên. “Ông có được xem bộ phim ấy không?”

“Có. Ta có xem. Tất cả chúng ta đều thấy chung cuộc của những kẻ ngần ngừ hoặc không biết nương theo chiều gió và đợi cho bão tan. Điều chúng ta làm lúc ấy là điều đúng đắn. Thời điểm ấy, nơi chốn ấy, đó là điều đúng đắn. Nếu là ta, ta cũng sẽ làm lại một lần nữa. Chỉ là...”

Lão cụp mắt nhìn xuống ly rượu đã rỗng không.

“... chỉ là ta không muốn nói về nó, hay thậm chí nghĩ về nó. Hành động của chúng ta là vì bản năng sống còn thôi thúc, mà sống còn vốn chẳng phải điều gì đẹp đẽ. Rất nhiều lần, ta đã mơ...” Lão chậm rãi rút một điếu thuốc từ hộp thuốc để trên ti vi. “Ừ. Ta đã nằm mơ suốt nhiều năm. Bóng tối, và âm thanh trong bóng tối. Động cơ máy kéo. Động cơ xe ủi. Báng súng đập vào bề mặt gì đó, có thể là đất đông cứng hoặc sọ người. Nào tiếng còi, tiếng báo động, tiếng súng lục đùng đoàng, tiếng la hét. Tiếng cửa toa xe chở gia súc ầm ì mở ra vào những chiều đông thấu xương.

“Và rồi, trong giấc mơ ấy, mọi âm thanh đều im bặt – bỗng giữa màn đêm, những đôi mắt chợt bừng mở, lóe lên tựa mắt dã thú trong rừng mưa nhiệt đới. Ta sống gần sát rừng suốt nhiều năm liền, ta nghĩ đó là lý do lúc nào ta cũng ngửi thấy mùi rừng, cảm nhận khung cảnh rừng sâu trong những cơn mơ. Khi tỉnh giấc, y như rằng mồ hôi ta lại vã ra như tắm, tim nện điên cuồng trong lồng ngực, tay đưa lên bịt mồm để ngăn cho tiếng thét không vang lên. Và rồi ta sẽ nghĩ: Giấc mơ ấy là hiện thực . Brazil, Paraguay, Cuba... những nơi ấy chỉ là giấc mơ. Trong hiện thực, ta vẫn đang ở Patin. Quân đội Liên Xô càng lúc càng gần. Có những kẻ trong đám bọn chúng vẫn nhớ năm 1943, chúng đã phải ăn xác chết đông cứng của người Đức để sống sót. Giờ thì chúng khát khao được uống máu lính Đức còn nóng hổi. Nhóc, cậu biết không, người ta đồn khi vừa đặt chân vào nước Đức, một số kẻ trong số chúng đã cắt cổ vài tù nhân rồi uống máu từ giày bốt. Bàng hoàng thức giấc, ta lại nghĩ: Công trình này phải tiếp tục, để không còn sót lại bằng chứng về những điều chúng ta đã làm nơi đây, hoặc có còn cũng thật ít ỏi, để thế gian này không phải tin những ác hiểm ấy đã thực sự xảy ra, vì suy cho cùng, thế gian này chẳng muốn tin. Ta nhủ thầm: Nếu muốn sống sót, chúng ta phải tiếp tục công trình này.

Todd lắng nghe lời lão kể đầy chăm chú và hào hứng. Chuyện này nghe hay ra phết, nhưng nó dám chắc sắp tới còn nhiều chuyện hay ho gấp vạn lần. Dussander chỉ cần cú hích nhẹ mà thôi. Ai chà, số nó may chán. Tầm tuổi lão ấy, nhiều người đã lẫn cả rồi.

Dussander rít thật sâu điếu thuốc. “Sau này, khi những giấc mơ không còn ám ảnh ta nữa, có những ngày ta tưởng mình vừa trông thấy những người ở Patin. Không phải lính gác hay những tay sĩ quan đồng nghiệp, mà lúc nào cũng là những người tù. Ta nhớ một buổi chiều nọ ở Tây Đức mười năm trước. Có một vụ tai nạn xảy ra trên cao tốc liên bang Autobahn. Giao thông ùn ứ trên mọi làn đường. Ta ngồi trong chiếc Morris, vừa nghe đài vừa đợi dòng xe cộ nhúc nhích. Ta nhìn sang phải. Ở làn xe bên cạnh có một chiếc Simca vô cùng cũ kỹ, người đàn ông ngồi sau tay lái giương mắt nhìn ta. Hắn ta tầm tuổi ngũ tuần, trông có vẻ ốm yếu. Trên má hắn hằn một vệt sẹo. Mái tóc bạc trắng, ngắn cũn, cắt ẩu tả. Thỉnh thoảng, ta lại lén liếc sang người đàn ông trong chiếc xe Simca ấy. Lần nào liếc nhìn, ta cũng thấy hắn dán mắt vào ta, khuôn mặt đơ ra không chút cử động, mắt lõm sâu trong hốc mắt. Bỗng ta đoán chắc người này đã từng ở Patin. Hắn ta từng ở đó, và hắn nhận ra ta.”

Dussander đưa bàn tay quệt mắt.

“Lúc đó đương mùa đông. Người đàn ông ấy đang choàng áo khoác. Nhưng ta dám chắc nếu ta bước ra khỏi xe, tiến lại chỗ hắn và bảo hắn cởi áo choàng, vén tay áo lên, ta sẽ trông thấy con số trên cánh tay hắn.

“Cuối cùng, dòng xe bắt đầu chuyển động trở lại. Ta chạy khỏi chiếc xe Simca. Nếu cơn ùn tắc kéo dài thêm mười phút nữa, ta nghĩ ta sẽ ra khỏi xe ô tô rồi lôi người đàn ông già nua ấy ra khỏi xe. Ta sẽ hành hung hắn ta, bất kể tay hắn ta có số hay không. Ta sẽ tẩn cho hắn một trận vì dám nhìn ta kiểu đó.

“Sau đó một thời gian, ta dứt áo ra đi khỏi nước Đức mãi mãi.”

“May cho ông đấy,” Todd bình phẩm.

Dussander nhún vai. “Đâu cũng thế cả thôi. Havana, Mexico City, Rome. Cậu biết không, ta ở Rome ba năm. Ta sẽ trông thấy một người đàn ông bên ly cappucino trân trân dõi theo ta trong quán cà phê... một phụ nữ trong sảnh khách sạn hiếu kỳ nhìn ta hơn là đọc cuốn tạp chí của mình... một tay phục vụ trong nhà hàng hết lần này đến lần khác liếc ta bất kể đang phục vụ thực khách nào. Dần dà, ta cứ có cảm giác người khác đang điều tra ta, để rồi khi đêm về, giấc mơ lại viếng thăm – những âm thanh ấy, khu rừng ấy, những con mắt ấy.

“Tuy nhiên, khi đến đất Mỹ, ta gạt nó ra khỏi đầu. Ta đi xem phim. Một tuần ta ra ngoài ăn một lần, lúc nào cũng ở tiệm đồ ăn nhanh sạch sẽ, sáng choang ánh đèn huỳnh quang. Ở nhà, ta hết chơi xếp hình, lại đọc tiểu thuyết – đa phần dở tệ – rồi xem ti vi. Đêm đến, ta uống cho đến khi buồn ngủ. Những giấc mơ không còn xuất hiện nữa. Khi bắt gặp ai đó nhìn mình trong siêu thị, thư viện hoặc tiệm bán thuốc lá, ta lại nghĩ hẳn là do ta nhìn giống ông nội của họ... hoặc người thầy năm xưa... hoặc người hàng xóm ở thị trấn họ đã rời bỏ cách đây vài năm.” Lão lắc đầu với Todd. “Bất kể chuyện gì đã xảy ra ở Patin, chúng xảy ra với kẻ khác. Chẳng phải với ta.”

“Tuyệt vời!” Todd reo lên. “Tôi muốn nghe tất tần tật chuyện đó.”

Mắt của Dussander nhắm nghiền, rồi chậm rãi mở ra. “Cậu không hiểu rồi. Ta không muốn nhắc lại chuyện đó.”

“Ông sẽ phải kể. Nếu ông không kể, tôi sẽ phanh phui danh tính của ông với tất cả mọi người.”

Dussander chằm chằm nhìn nó, mặt xám ngoét. “Ta biết mà, lão thốt lên, “rằng chẳng sớm thì muộn cũng đến bước hăm dọa.”

“Hôm nay tôi muốn nghe chuyện lò khí đốt,” Todd nói. “Cách ông nướng bọn họ sau khi họ đã chết ấy.” Nụ cười của nó rạng rỡ, ngời ngời, chói chang. “Nhưng ông mang răng giả vào rồi hẵng kể. Trông ông nhìn ổn hơn khi gắn hàm răng”

Dussander làm theo lời thằng nhóc. Lão kể cho Todd về lò khí đốt cho đến khi Todd phải về nhà ăn trưa. Mỗi lần lão cố tình nói chung chung, Todd đều cau mày thái độ ra mặt rồi hỏi lão những câu hết sức cụ thể để lèo lái lão theo lại hướng cũ. Vừa kể, Dussander vừa nốc rượu như hũ chìm. Lão không nở lấy một nụ cười. Chỉ có Todd là cười như được mùa. Todd cười đủ phần cho cả hai.

« Lùi
Tiến »