Nhà Tù Shawshank

Lượt đọc: 2419 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18

Chúng tôi đi thêm một cây số rưỡi nữa thì quyết định cắm trại qua đêm. Vẫn còn chút ánh sáng tàn ngày, nhưng chẳng ai muốn tận dụng. Cả đám mệt bã sau màn đụng độ ở bãi rác và sợ mất mật trên cầu sắt ray xe lửa, song tất cả không dừng lại ở đó. Chúng tôi đã đến Harlow, trong rừng. Đâu đó phía trước là xác một đứa trẻ, có lẽ thân thể đã nát bấy và bị ruồi bu đầy. Đến lúc này khéo có cả giòi bọ. Chẳng ai muốn bén mảng lại gần khi màn đêm đang trở tới. Tôi từng đọc đâu đó – hình như trong một câu chuyện của Algernon Blackwood thì phải – rằng hồn ma người chết lảng vảng quanh cái xác cho đến khi thi thể được chôn cất đàng hoàng theo thủ tục của nhà thờ, mà tôi không muốn nửa đêm tỉnh giấc và đối mặt với hồn ma sáng lờ nhờ đã lìa khỏi xác của Ray Brower, rên rỉ, lải nhải, lơ lửng trong bóng tối, khiến thông kêu xào xạc. Dừng ở đây, chúng tôi áng chừng mình còn cách cậu ta mười sáu cây số là ít, và tất nhiên, cả bốn đứa chúng tôi đều biết trên đời này chẳng có ma, nhưng mười sáu cây số là khoảng cách đủ xa trong trường hợp những gì chúng tôi biết sai bét.

Vern, Chris và Teddy gom củi rồi nhóm ngọn lửa trại nho nhỏ trên bề mặt rải than xỉ. Chris cào cây cỏ tạo vạt đất trống quanh ngọn lửa – rừng đang mùa khô hạn nên cậu quan niệm cẩn tắc vô áy náy. Trong lúc họ chuẩn bị củi lửa, tôi vót nhọn vài cái que rồi làm thứ mà anh Denny hay gọi là “Dùi Trống Tiên Phong” – đống xúc xích được đẩy về cuối đầu cành cây còn xanh. Cả ba người bọn họ vừa cười vừa chí chóe về tài đi rừng của bản thân (gần như bằng không; có một đội Nam hướng đạo sinh Castle Rock, nhưng đa phần đám trẻ chúng tôi chơi trong khu đất trống xem nó là tổ chức toàn những tên yếu nhớt), cãi cọ xem tốt hơn hết nên nấu đồ ăn trên lửa hay trên than (tranh cãi tốn công; chúng tôi quá đói, chẳng tài nào đợi nổi than), liệu rêu khô có làm mồi nhóm lửa được không, họ sẽ làm gì nếu dùng hết sạch diêm trước khi nhóm được lửa cháy đều. Teddy tuyên bố cậu có thể nhóm lửa bằng cách chà hai que củi vào nhau. Chris bảo cậu ta chỉ được cái chém gió thành bão. Họ không cần hì hụi nhóm lửa; quẹt que diêm thứ hai, Vern đã khiến đống que nhỏ và rêu khô bắt lửa. Trời tĩnh lặng, không có chút gió nào thổi tắt ánh sáng. Chúng tôi thay phiên nhau thổi ngọn lửa vừa nhen nhúm cho đến khi lửa bén vào những khối gỗ to bằng cổ tay chúng tôi lấy từ một cây bị đổ sâu trong rừng, cách đây chừng 30 mét.

Khi ngọn lửa đã bớt phừng lên, tôi cắm mấy cây xiên que Dùi Trống Tiên Phong thật chặt vào đất, chếch một góc so với ngọn lửa. Chúng tôi ngồi quanh, nhìn chúng lèo xèo, chảy mỡ và ngả màu nâu. Bụng chúng tôi ùng ục tám chuyện trước bữa tối.

Không tài nào đợi cho đến khi xúc xích chín hẳn, chúng tôi lấy mỗi người một cây, nhét nó vào bánh mì rồi giật cây xiên que lên khỏi mặt đất. Bên ngoài, chúng cháy thành than, bên trong thì lại sống nhăn, và ngon tuyệt cú mèo. Chúng tôi ngấu nghiên chén sạch rồi đưa tay chùi lớp dầu nhoe nhoét trên miệng. Chris mở ba lô, lôi ra hộp đựng băng cá nhân bằng thiếc (khẩu súng được nhét xuống tận dưới đáy ba lô, và vì cậu chưa kể với Vern và Teddy, tôi đoán đây là bí mật giữa hai chúng tôi). Cậu mở hộp rồi đưa cho mỗi đứa một điếu Winston nhăn nheo. Chúng tôi châm thuốc bằng những que củi cháy từ ngọn lửa, đoạn ngả ra sau, thấy mình như những kẻ dày gió dạn sương, nhìn khói thuốc bảng lảng bay vào ánh chạng vạng mềm mịn. Không ai trong chúng tôi hít vào vì chúng tôi có thể ho sặc sụa và điều đó đồng nghĩa nghe đám bạn trêu chọc. Với lại thật dễ chịu khi cứ rít thuốc và thổi ra thế này, nhích lại gần đống lửa để nghe tiếng lèo xèo (mùa hè năm ấy, tôi học được cách nhìn ra ai là kẻ mới tập tành hút thuốc; người chưa quen phun nước bọt nhiều lắm). Chúng tôi thấy thật vui. Chúng tôi hút thuốc lá đến tận đầu lọc rồi ném vào lửa.

“Đúng là chẳng có gì bằng làm một điếu sau khi ăn.” Teddy nói.

“Nhất trần đời luôn,” Vern đồng tình.

Dế bắt đầu râm ran trong ánh chiều nhá nhem se sắt. Tôi ngẩng đầu nhìn mảng trời lấp ló chỗ giao với đường ray và thấy sắc xanh đã ngả sang màu tím. Bóng dáng chạng vạng khiến tôi cảm thấy vừa u hoài vừa bình thản, nửa can đảm, nửa lừng khừng, cô đơn một cách khoan khoái.

Chúng tôi bước xuống khoảng đất bằng trong bụi cây bên cạnh đường đắp rồi trải chăn ra. Trong tầm một tiếng, chúng tôi vừa duy trì ngọn lửa vừa tám chuyện, những câu chuyện bạn chẳng thể nào nhớ ra khi bạn qua tuổi mười lăm và tìm tòi về những cô bạn khác phái. Chúng tôi tán phét ai là người vô duyên nhất Castle Rock, liệu Boston có thoát kiếp đội sổ năm nay hay không, và về mùa hè vừa qua. Teddy kể về lần cậu đi Bãi Biển Trắng ở Brunswick, một đứa nhóc bị đập đầu trong lúc nhảy xuống khỏi bệ đỡ để lặn và suýt chết đuối. Chúng tôi thảo luận chi tiết về ưu nhược của các giáo viên dạy chúng tôi. Cả bọn đồng tình thầy Brooks đúng là kẻ chết nhát nhất trường tiểu học Castle Rock – thầy sẽ rơm rớm nước mắt nếu chúng tôi lớn tiếng cãi lại thầy. Ngược lại, bà cô Cote (phát âm là Cody) – lại là kẻ xấu tính nhất mà Chúa ban xuống trần đời. Vern kể cậu ta nghe nói hai năm trước, cô từng đánh một đứa trẻ mạnh tay đến độ suýt chút nữa thì nó mù. Tôi nhìn Chris, tự hỏi không biết cậu có nói gì về cô Simons hay không, nhưng cậu chẳng hé răng lời nào, và cậu cũng không thấy tôi nhìn cậu – cậu đang nhìn Vern và nghiêm trang gật gù trước câu chuyện của Vern.

Chúng tôi không nhắc đến Ray Brower khi màn đêm đang dần buông xuống, nhưng tôi có nghĩ về cậu. Cái cách đêm đen trờ tới khu rừng có nét gì đó vừa khủng khiếp vừa lôi cuốn, nó bành trướng mà không bị đèn xe, đèn đường, đèn nhà, đèn huỳnh quang làm cho nao núng. Nó đến mà không có tiếng mẹ í ới gọi con mình ngừng chơi và đi vào nhà vì trời đã tối. Nếu bạn đã quen sống trong thị trấn, màn đêm phủ bóng xuống khu rừng có cảm giác tựa thảm họa thiên nhiên hơn là hiện tượng tự nhiên; nó dâng đầy như nước sông Castle dâng lên vào mùa xuân.

Và khi tôi nghĩ về thi thể của Ray Brower dưới ánh sáng này – hoặc dưới cái nhá nhem này – thứ tôi cảm nhận không phải cảm giác buồn nôn hay sợ hãi rằng cậu sẽ bất thình lình xuất hiện trước mặt chúng tôi, một con quái vật xanh xao, lải nhải liên hồi, cố đuổi chúng tôi đi trước khi chúng tôi phá bĩnh cậu – hay nói đúng hơn là phá thứ đó – yên nghỉ, mà là sự thương cảm đột ngột, đầy bất ngờ khi nghĩ tới cảnh cậu côi cút một mình, không chút phòng thủ trong bóng tối đang trở tới vị trí của chúng tôi trên quả địa cầu. Nếu thứ gì muốn ăn thịt cậu, nó sẽ thỏa sức mà ăn. Mẹ cậu ấy không có ở đó để ngăn chuyện ấy lại, bố cậu cũng thế, cả chúa Giê-su cùng thánh thần cũng đành bất lực. Cậu ấy chết rồi, chết mà lẻ loi một mình, bị hất văng khỏi đường ray, bay thẳng xuống mương, và tôi chợt nhận ra tôi không tài nào thôi nghĩ về chuyện này, đến độ tôi chực rơi lệ.

Thế nên tôi kể một câu chuyện về Le Dio, sáng tác ngay tại chỗ, chẳng hay lắm, và khi câu chuyện kết thúc theo mô típ của hầu hết câu chuyện về Le Dio đều, với cảnh một anh lính Mỹ cô độc sắp về với đất mẹ, trăn trối tiếng lòng yêu tổ quốc, nhớ nhung người thương ở quê nhà với chỉ huy trung đội với khuôn mặt buồn bã và trải đời, hình ảnh hiện lên trong tâm trí tôi không phải khuôn mặt sợ hãi, bợt bạt của anh binh nhất từ Castle Rock hay White River Junction mà là khuôn mặt của cậu thiếu niên đã chết, hai mắt nhắm nghiền, nét mặt sầu muộn, máu rỉ từ khóe miệng bên trái xuống tận cằm. Và sau lưng cậu, thay vì cảnh những hàng quán và nhà thờ đổ nát như quang cảnh tôi hình dung về Le Dio, tôi chỉ trông thấy khu rừng tăm tối và đường ray xe lửa đầy than xỉ nổi bật dưới bầu trời sao như một ụ đất chôn cất thời xa xưa.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 11 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »