Khoảng hai mươi phút trước khi Chris trèo lên bờ đắp ngồi bên cạnh chúng tôi, trời bắt đầu quang mây. Tia nắng mặt trời chiếu qua những kẽ hở. Trong bốn mươi lăm phút vừa qua, tưởng chừng màu xanh của bụi cây đã đậm hơn ba tông. Bùn dính trên người cậu ấy từ đầu xuống chân. Tóc cậu đóng bùn, lởm chởm dựng đứng. Phần duy nhất sạch sẽ trên cơ thể cậu là vòng tròn quanh mắt đã gột rửa cho trắng.
“Cậu nói đúng, Gordie ạ,” cậu ấy lên tiếng. “Chẳng ai có đặc quyền cuối cùng cả. Toàn pín nhỉ?”
Tôi gật đầu. Năm phút trôi qua. Không ai nói lời nào. Và tôi tình cờ nảy ra một suy nghĩ – trong trường hợp bọn chúng thật sự báo cảnh sát. Tôi quay lại bờ đắp, đến chỗ Chris đang đứng. Tôi khuỵu gối, tỉ mẩn dùng ngón tay vọc vào nước và cỏ.
“Cậu làm gì thế?” Teddy vừa hỏi vừa làm theo tôi.
“Tớ nghĩ nó ở bên trái cậu,” Chris chỉ.
Tôi kiếm ở đó, chừng một hai phút sau thì tìm ra cả hai vỏ đạn. Chúng lấp lánh dưới ánh mặt trời tinh khôi. Tôi đưa chúng cho Chris. Cậu gật đầu, đoạn nhét chúng vào túi quần jeans.
“Giờ mình đi,” Chris nói.
“Này, thôi nào!” Teddy la lối thống thiết. “Tớ muốn đem cậu ta đi!”
“Nghe này, đồ ngốc,” Chris nói, “nếu đem cậu ta về, chúng ta có thể phải vào trại cải tạo đấy. Giống như Gordie nói. Đám côn đồ kia có thể bịa bất cứ câu chuyện nào chúng muốn. Nếu chúng bảo bọn mình giết cậu ta thì sao? Cậu thấy thích không?”
“Tớ mặc kệ,” Teddy dằn dỗi. Đoạn cậu ngước nhìn chúng tôi với vẻ hy vọng vô lý. “Hơn nữa, cùng lắm chúng mình chịu đôi tháng cải tạo. Xem như đồng lõa. Ý tớ là, bọn mình mới có mười hai tuổi thôi, bọn họ không tống mình vào Shawshank đâu.”
Chris khẽ nói: “Nếu có tiền án, cậu không được nhập ngũ đâu, Teddy.”
Tôi đoán chắc đó chỉ là một lời nói dối trắng trợn – nhưng có vẻ đây không phải thời điểm nói ra điều này. Teddy chỉ ngây ra nhìn Chris hồi lâu, miệng run lẩy bẩy. Mãi lúc sau, cậu mới lắp bắp thốt lên nổi: “Thật à?”
"Hỏi Gordie đi.”
Cậu nhìn tôi đầy hy vọng.
“Cậu ấy nói đúng, tôi đáp, cảm thấy mình đúng là đồ tồi tệ đáng khinh. “Cậu ấy nói đúng đó, Teddy. Điều đầu tiên họ làm khi cậu xin tòng quân là kiểm tra lý lịch tư pháp của cậu.”
“Ôi Chúa ơi!”
“Chúng ta sẽ lê mông quay lại cầu sắt,” Chris nói. “Sau đó chúng ta rời khỏi đường ray và vòng vào Castle Rock theo hướng khác. Nếu ai hỏi mình đã ở đâu, chúng ta sẽ nói cả bọn đi cắm trại trên đồi Brickyard mà bị lạc.”
“Lão Milo Pressman biết chuyện đấy,” tôi nói. “Cả lão chủ tiệm trong chợ Florida nữa.”
“Chà, chúng ta chỉ cần nói lão Milo dọa bọn mình, thế nên cả đám quyết định đi lên đồi Brickyard.”
Tôi gật đầu. Nghe có lý. Nếu Vern và Teddy có thể nhớ đi theo kịch bản.
“Nhỡ đâu bố mẹ chúng ta gặp nhau thì sao?” Vern hỏi.
“Cậu cứ việc lo về chuyện đó nếu muốn,” Chris nói. “Bố tớ chắc vẫn xỉn quắc cần câu thôi.”
“Vậy đi thôi,” Vern chốt hạ, liếc mắt nhìn rặng cây ngăn cách chúng tôi và đường Back Harlow. Trông cậu như thể cậu sợ cảnh sát cùng một đám chó săn sẽ nhào ra bắt chúng tôi bất cứ lúc nào. “Đi luôn cho kịp.”
Cả đám đứng dậy, sửa soạn lên đường. Chim cất tiếng véo von như phát rồ, vui sướng với cơn mưa, ánh nắng, giun dế và có lẽ là với vạn vật trên thế gian. Chúng tôi quay người, như thể được giật bằng dây, nhìn Ray Brower.
Cậu ấy nằm đó, lại một lần nữa lẻ loi. Tay cậu buông thõng khi chúng tôi lật cậu lại ban nãy, và giờ, tay chân cậu giạng ra, như thể chào đón nắng mai. Trong khoảnh khắc, khung cảnh thi thể trông có vẻ ổn thỏa, tự nhiên hơn những khung cảnh mà người làm dịch vụ mai táng dựng lên cho khách viếng thăm. Rồi bạn nhìn thấy vết bầm, máu đóng trên cằm và dưới mũi, cả việc cái xác bắt đầu trương phềnh. Bạn thấy ruồi nhặng bắt đầu xuất hiện khi mặt trời ló dạng, bay quanh thi thể, biếng nhác vo ve. Bạn nhớ lại thứ mùi như mùi đánh rắm trong phòng kín. Cậu ấy trạc tuổi chúng tôi, cậu ấy chết rồi, và tôi chối bỏ suy nghĩ toàn bộ vụ việc là điều tự nhiên; tôi kinh hãi gạt nó đi.
“Được rồi,” Chris nói, cậu cố tình nói dứt khoát, thế mà giọng nói thoát ra khỏi họng cậu nghe như cước khô trên cây chổi cũ. “Hành quân thôi.”
Chúng tôi lục tục đi ngược lại con đường mình đã đến. Không ai nói năng gì. Tôi không biết các bạn mình thì sao, nhưng đầu óc tôi ngổn ngang suy nghĩ, chẳng còn nói nổi. Có những điều cứ lấn cấn trong đầu tôi về thi thể của Ray Brower – ngày ấy, chúng khiến tôi lấn cấn, đến tận giờ vẫn vậy.
Vết bầm tím ngắt một bên mặt, da đầu bị rách, mũi chảy máu. Nhưng giờ không còn thấy rõ nữa. Sau những cuộc ẩu đả trong quán rượu, người ta thê thảm hơn mà vẫn thản nhiên uống tiếp. Nhưng con tàu hẳn đã tông trúng cậu; còn không, tại sao giày lại văng khỏi chân như thế? Và tại sao người lái tàu không nhìn thấy cậu? Biết đâu con tàu va đập mạnh đến độ hất văng cậu ra xa nhưng không giết chết cậu? Tôi nghĩ nếu nhiều yếu tố hội tụ lại, điều đó có thể xảy ra. Phải chăng đoàn tàu đã tông cậu một cú rất mạnh khi cậu cố chạy khỏi đường ray? Va chạm và hất cậu bay lộn nhào, rơi xuống dải đất bị sạt lở? Phải chăng cậu đã thao thức và run lẩy bẩy trong đêm tối suốt nhiều giờ, không phải chỉ vì bị lạc mà còn mất phương hướng, mất mối dây liên kết với thế giới? Có lẽ cậu chết vì sợ. Một con chim gãy nát phần lông đuôi từng chết trên tay tôi theo cách đó. Cơ thể nó run rẩy và khẽ co giật, mỏ hết hả ra lại đóng, đôi mắt đen, sáng bừng nhìn tôi chăm chăm. Rồi cơ thể nó hết co giật, mỏ nó hé mở, cứng lại, hai con mắt màu đen mờ đục và mặc sự đời. Có lẽ Ray Brower cũng thế. Có lẽ cậu từ giã cõi đời này vì cậu sợ quá, chẳng còn ý chí sống tiếp.
Song còn một điều khác, tôi nghĩ đó mới là điều khiến tôi bận tâm hơn cả. Mục tiêu ban đầu của cậu ấy là đi hái việt quất. Nếu không lầm, tôi nhớ tin tức đăng cậu có mang theo bình đựng việt quất. Khi chúng tôi quay về, tôi đến thư viện tra cứu trong báo cho chắc, và những gì tôi nhớ là đúng. Cậu ấy đi hái dâu, có cầm theo bình hay xô gì đó. Nhưng lúc đó, chúng tôi không thấy thứ nào như vậy. Chúng tôi tìm thấy cậu ấy, thấy cả giày cậu mang. Hẳn cậu đã vứt nó đi trên quãng đường giữa Chamberlain và khoảng đất bùn lầy ở Harlow nơi cậu bỏ mạng. Có lẽ ban đầu, cậu đã ôm thật chặt nó trong tay, tựa hồ nó nối kết cậu với gia đình, với sự an toàn. Nhưng theo thời gian, nỗi sợ dần phình to, đi theo đó là cảm giác đơn côi một mình, chẳng có cơ hội được cứu sống ngoại trừ những gì cậu có thể tự làm, và khi nỗi sợ hãi lạnh lẽo xâm chiếm tâm hồn, có lẽ trong vô thức, cậu đã vứt nó trong rừng, một bên đường ray.
Tôi đã từng nghĩ đến chuyện quay lại tìm nó – bạn có thấy suy nghĩ ấy bệnh hoạn không? Tôi đã từng nghĩ đến chuyện lái chiếc xe Ford còn mới đến cuối đường Back Harlow, bước xuống xe trong buổi sáng mùa hè rực rỡ, một mình tôi thôi, vợ con tôi tít tắp tận một thế giới khác, nơi chỉ cần bật công tắc, ánh đèn sẽ chiếu sáng màn đêm. Tôi đã từng mường tượng chuyện sẽ ra sao. Lấy ba lô từ sau xe, để tạm lên cản sau đã chỉnh sửa theo ý tôi, trong lúc tôi cẩn thận cởi áo rồi cột quanh hông. Bôi kem chống côn trùng Muskol lên ngực và vai, sau đó băng qua khu rừng đến khu vực bùn lầy năm xưa, nơi chúng tôi đã tìm ra thi thể. Cỏ ở nơi đó có hóa thành màu vàng theo hình dạng cái xác không nhỉ? Tất nhiên là không, sẽ chẳng có dấu hiệu nào, nhưng bạn vẫn tự mình thắc mắc, và bạn nhận ra trang phục con người lý tính – một nhà văn mặc áo khoác vải nhung kẻ với hai miếng đắp bằng da trên khuỷu tay – và tuổi thơ tựa cổ tích vô tư lự chỉ cách nhau một tấm màng mỏng. Rồi trèo lên bờ đắp, giờ hẳn đã um tùm cỏ dại, sau đó chậm rãi bước dọc theo đường ray gỉ sét và tà vẹt mục ruỗng đến Chamberlain.
Đúng là màn tưởng tượng ngu ngốc. Một chuyến thám hiểm đi tìm xô đựng việt quất hai mươi năm tuổi, có lẽ đã bị ném sâu vào rừng, bị xe ủi đất cán bẹp để chuẩn bị chia lô hai nghìn mét vuông cất nhà, hoặc bị che lấp bởi cỏ dại hoặc bụi gai nên khuất dạng. Nhưng tôi cảm thấy chắc chắn nó vẫn còn, đâu đó trên đường ray đã ngừng hoạt động của Hãng Tàu Tây Nam Đệ Nhất, và thỉnh thoảng, thôi thúc đi tìm nó cứ trào dâng điên cuồng trong tôi. Nó thường xuất hiện vào sáng sớm, khi vợ tôi đang tắm, các con đang xem Người dơi, Scooby-Doo trên kênh 38 của đài Boston, và tôi có cảm giác mình y như cậu bé Gordon Lachance từng dạo chơi trên thế gian này, bước đi, nói chuyện, lắm lúc bò trên bụng như loài bò sát. Tôi nghĩ cậu bé ấy từng là tôi. Và suy nghĩ tiếp theo khiến tôi rùng mình như bị hắt nước lạnh vào người: Ý anh là cậu bé nào?
Nhâm nhi tách trà, nhìn ánh mặt trời xiên xiên qua ô cửa nhà bếp, nghe ti vi văng vẳng trong nhà, vòi sen ào ào xả nước, cảm nhận mắt mình giật giật cho thấy tối qua tôi đã uống bia quá trớn, tôi dám chắc tôi có thể tìm ra cái xô ấy. Tôi sẽ thấy kim loại sáng lên qua lớp gỉ sét, ánh mặt trời chói chang của mùa hè phản chiếu nó vào mắt tôi. Tôi sẽ đi xuống bờ đắp, gạt bỏ phần cỏ mọc đầy và quấn chặt quanh tay cầm, và rồi tôi sẽ... làm gì nhỉ? Có gì đâu, đơn giản là kéo nó ra khỏi thời gian. Tôi sẽ lật đi lật lại nó trong tay, vừa sờ nắn vừa tư lự, bàng hoàng trước việc người cuối cùng chạm vào nó đã nằm dưới mồ đằng đẵng năm tháng. Giả sử bên trong có lời nhắn thì sao? Cứu với, con bị lạc . Tất nhiên là chẳng có – mấy cậu con trai không mang theo giấy và bút chì để đi hái việt quất – nhưng cứ giả sử như vậy đi. Tôi hình dung sự bất ngờ mà tôi cảm thấy sẽ tối đen như nhật thực. Dẫu vậy, tôi đoán mấu chốt là việc cầm cái xô ấy bằng hai tay – biểu tượng cho thấy tôi còn sống cũng như cậu bé đã chết, bằng chứng tôi thật sự biết đó là cậu bé nào – cậu bé nào trong năm người chúng tôi. Cầm lấy nó. Đọc từng năm in hằn trên lớp gỉ sét và ghi dấu trên bề mặt xỉn màu. Cảm nhận nó, cố lý giải ánh nắng đã chiếu lên nó, những cơn mưa đã đổ xuống nó, lớp tuyết đã che lấp nó. Và tự hỏi tôi đã ở đâu khi những điều đó xảy ra với cái xô ở nơi cô đơn ấy, tôi ở đâu, làm gì, yêu ai, sống ra sao, ở đâu. Tôi sẽ cầm nó, đọc nó, cảm nhận nó... và nhìn khuôn mặt mình lấp ló phản chiếu. Bạn có hiểu không?