Nhà Tù Shawshank

Lượt đọc: 2449 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CÂU CHUYỆN MÙA ĐÔNG
PHƯƠNG PHÁP HÍT THỞ
Chương 1

Câu lạc bộ

Tôi phải thừa nhận tôi ăn vận vội vàng hơn bình thường vào buổi tối tuyết rơi gió thổi rét cóng ấy. Hôm ấy là ngày 23 tháng Mười hai năm 197-, và tôi đồ rằng một số thành viên khác của câu lạc bộ cũng làm thế. Taxi nổi tiếng khó bắt ở New York vào những đêm bão bùng, nên tôi gọi taxi có liên lạc hai chiều qua đài. Tôi gọi vào 5 giờ 30 phút để đăng ký xe vào lúc 8 giờ – vợ tôi nhướn mày nhưng không nói gì cả. Tôi đứng đợi dưới mái vòm tòa chung cư trên đường Số 58 Phía Đông, nơi Ellen và tôi sống từ năm 1946, từ 8 giờ kém 15, và khi taxi đến trễ năm phút, tôi sốt ruột mất kiên nhẫn đi tới đi lui.

Chiếc taxi đến nơi lúc 8 giờ 10 phút, tôi lên xe, mừng rỡ khi không phải chịu cảnh gió táp nên chẳng còn sức nổi cáu với người tài xế dù anh ta đáng phải chịu điều đó. Cơn gió ấy vô cùng ghê gớm, vốn dĩ nó là một phần của khối khí lạnh càn quét từ Canada ngày hôm trước. Nó huýt sáo, rền rĩ quanh cửa sổ xe, thỉnh thoảng còn dập tắt cả âm thanh của điệu nhảy salsa từ radio của tài xế và khiến chiếc xe taxi nhún nhảy. Nhiều cửa tiệm mở cửa nhưng vỉa hè đến cả những vị khách mua vào phút chót cũng chỉ lác đác. Những người phải ở ngoài nhăn nhỏ ra mặt, thậm chí đau thực sự.

Cả ngày hôm ấy, mưa gió đã hoành hành, và giờ tuyết lại bắt đầu rơi, ban đầu chỉ là lớp màng mỏng, đoạn vặn xoắn thành hình lốc xoáy trên con đường trước mặt chúng tôi. Tối đó, khi về nhà, tôi nghĩ về tổ hợp của tuyết, taxi, thành phố New York và thấy nhộn nhạo hơn hẳn... nhưng tất nhiên, lúc này, tôi chưa biết điều đó.

Góc đường Số Hai và Số Bốn mươi chín, một cái chuông Giáng sinh lớn rực rỡ sắc màu lơ lửng ở ngã tư như một hồn ba.

“Đêm nay khiếp quá,” người tài xế nói. “Thể nào ngày mai, nhà xác lại có thêm hai chục mống nữa cho mà xem. Que kem Bợm rượu vô gia cư. Thêm vài ba Que kem bà già lang thang nữa.”

“Có lẽ thế.”

Tài xế trầm ngâm suy nghĩ. “Chà, thế cho rảnh nợ,” cuối cùng, ông lên tiếng. “Ít bảo hiểm hơn nhỉ?”

“Tinh thần Giáng sinh của anh,” tôi nhận xét, “sâu sắc và dạt dào quá.”

Người tài xế tiếp tục đăm chiêu. “Thế ông là người theo đảng Tự do ủy mị à?” cuối cùng, ông ta cất tiếng hỏi.

“Tôi từ chối trả lời với lý do câu trả lời của tôi có thể khiến tôi phải chịu tội,” tôi đáp. Người tài xế hừ mũi như phàn nàn tại sao lúc nào mình cũng vớ phải mấy gã khách hàng tự cao tự đại... nhưng ông ta cũng im lặng.

Bác tài thả cho tôi xuống ở ngã tư đường Số Hai và Số Ba mươi lăm, tôi đi bộ được nửa dãy nhà đến câu lạc bộ, người chúi tới trước chống lại cơn gió rít, một tay mang găng giữ mũ trên đầu. Trong phút chốc, bao nhiêu sinh lực tưởng chừng đã lẩn lút sâu vào người tôi, chỉ còn là ngọn lửa xanh lập lòe với kích thước to bằng mồi lửa của bếp ga. Ở tuổi bảy mươi ba, người ta cảm nhận cái lạnh nhanh hơn mà sâu hơn. Đáng lý ra, ông ta nên ở nhà, ngồi trước lò sưởi... hoặc chí ít là ngồi trước đèn sưởi. Ở tuổi bảy mươi ba, máu nóng còn chẳng phải ký ức mà là báo cáo học thuật.

Sức gió đã thôi bạo liệt, nhưng tuyết khô như cát vẫn táp vào mặt tôi. Tôi mừng khi thấy các bậc tam cấp dẫn lên cánh cửa tòa nhà 249B đã được rải cát – là công của Stevens chứ chẳng còn ai trồng khoai đất này – Stevens thừa biết thuật giả kim của tuổi già: không phải biến chì thành vàng mà là xương thành thủy tinh. Mỗi lần nghiền ngẫm những điều đó, tôi lại càng tin rằng suy nghĩ của Chúa có nhiều điểm tương đồng với Groucho Marx.

Và rồi Stevens xuất hiện, giữ cửa mở, giây sau, tôi đã yên vị bên trong. Tôi đi dọc theo hành lang ốp gỗ dái ngựa, qua cánh cửa kép đang mở ba phần tư trên thanh ray, bước vào một thư viện kiêm phòng đọc kiêm quầy rượu. Căn phòng này khá tối, thảng hoặc ánh lên những vùng sáng từ đèn đọc sách. Thứ ánh sáng nồng ấm, dùng đục sáng lên trên sàn lát gỗ sồi, tôi có thể nghe thấy tiếng những khúc gỗ cáng lò tanh tách đều đều trong lò sưởi khổng lồ. Hơi ấm lan tỏa khắp phòng – chắc hẳn không có màn chào đón nào cho một người đàn ông hay một người đàn bà có thể bì được ngọn lửa trên lò sưởi. Một tờ báo lật loạt soạt – khô khốc, hơi mất kiên nhẫn. Hẳn đó là Johanssen, với tờ Wall Street Journal trên tay. Sau mười năm, ta có thể nhận ra sự hiện diện của ông đơn giản bằng cách ông đọc về cổ phiếu của mình. Thú vị... và theo một cách im lặng, đáng ngạc nhiên.

Stevens giúp tôi treo áo khoác, lẩm bẩm tối nay dơ bẩn quá; WCBS đang dự báo tuyết sẽ rơi mạnh trước khi trời sáng.

Tôi gật gù, đồng ý tối nay thật sự rất bẩn, đoạn lại đưa mắt nhìn căn phòng trấn cao rộng lớn ấy. Một đêm dơ bẩn, một ngọn lửa bập bùng... và một câu chuyện ma. Tôi bảo ở tuổi bảy mươi ba, máu nóng là một thứ thuộc về quá khứ à? Có lẽ là không đâu. Nhưng tôi cảm thấy lồng ngực tôi nóng ran trước suy nghĩ ấy... cái nóng ran không phải do ngọn lửa hoặc sự chào đón trang nghiêm, đáng tin cậy của Stevens.

Tôi nghĩ lý do là vì đến lượt McCarron kể chuyện.

Tôi đã ghé tòa nhà tọa lạc ở số 249B đường Số Ba mươi lăm Phía Đông suốt mười năm nay – không đến nỗi đều như vắt tranh nhưng cũng khá thường trực. Trong đầu, tôi luôn xem nó là một “câu lạc bộ của quý ông” căn nhà cổ xưa xinh xắn từ trước thời Gloria Steinem ấy. Nhưng ngay cả bây giờ, thậm chí tôi cũng không chắc nó có thật sự là vậy không, hoặc làm thế nào mà nó lại có mặt trên đời.

Vào đêm Emlyn McCarron kể chuyện – câu chuyện về Phương pháp Hít thở – có lẽ cả câu lạc bộ có cả thảy mười ba thành viên, nhưng chỉ có sáu người chúng tôi ra ngoài trong cái đêm lạnh lẽo, bão bùng ấy. Tôi còn nhớ thời trước, có những năm câu lạc bộ lúc nào cũng có ít nhất tám thành viên thường xuyên ghé qua, hoặc có những thời điểm có ít nhất hai mươi người, thậm chí nhiều hơn.

Tôi đoán có lẽ Stevens là người nắm rõ quá trình phát triển – một điều tôi dám chắc là Stevens đã có mặt ở đây từ buổi đầu, bất kể nó cách đây lâu đến nhường nào... và tôi tin rằng tuổi thật của Stevens già hơn vẻ ngoài của ông. Già hơn nhiều, rất nhiều là đằng khác. Ông nói giọng mang hơi hướng Brooklyn nhẹ, dẫu vậy, lúc nào ông cũng chuẩn xác đến khắc nghiệt và tỉ mẩn đến từng chi tiết, tựa thế hệ thứ ba của quản gia Anh. Sự dè dặt cũng là một phần điểm xuyết cho vẻ thu hút của ông, và nụ cười mỉm của Stevens là cửa đóng then cài. Tôi chưa bao giờ thấy hồ sơ gì của câu lạc bộ – đó là trong trường hợp ông lưu trữ. Tôi chưa bao giờ nhận biên lai thu hội phí – không có hội phí gì cả. Tôi chưa từng nhận cuộc gọi nào của thư ký câu lạc bộ – chẳng có cô thư ký nào, và ở số 249B đường Số Ba mươi lăm Phía Đông không có điện thoại. Không có hộp nào đựng bi trắng và bi đen. Và câu lạc bộ – nếu nó một câu lạc bộ – không bao giờ có tên.

Lần đầu tiên tôi đến câu lạc bộ (tôi phải tiếp tục gọi nó như thế) là dưới tư cách khách mời của George Waterhouse. Waterhouse đứng đầu công ty luật nơi tôi làm việc từ năm 1951. Đường công danh của tôi trong công ty – một trong ba công ty lớn nhất New York – đều đặn nhưng cực kỳ chậm chạp; tôi làm việc quần quật, chăm chỉ như một con lừa, tựa mũi núng tâm... nhưng tôi không phải kẻ có tài xuất chúng hay thần đồng gì. Tôi đã chứng kiến những người bắt đầu cùng lúc với tôi tiến thân như vũ bão trong khi tôi cứ tà tà mà đi – và tôi nhìn điều đó mà chẳng hề ngạc nhiên.

Waterhouse và tôi trao đổi dăm ba lời xã giao, dự bữa tiệc tối bắt buộc mà công ty tổ chức vào tháng Mười hằng năm, họp thêm vài lần đến mùa xuân năm 196-, khi ông ghé qua văn phòng của tôi vào đầu tháng Mười một.

Bản thân điều này vốn dĩ đã rất bất thường, và nó khiến tôi có những suy nghĩ đen tối (sa thải) đối trọng bởi những suy nghĩ phù phiếm hơn (thăng chức bất ngờ chẳng hạn). Chuyến thăm ấy hết sức lạ lùng. Waterhouse tựa vào cửa, chiếc chìa khóa Phi Beta Kappa lấp lánh trên áo vest, hòa nhã nói những câu chuyện chung chung – điều ông nhắc tới chẳng có vẻ gì nghiêm túc hay quan trọng. Thường thì tôi đợi ông nói những lời xã giao xong và đi thẳng vào vấn đề: “Giờ, về bản tóm tắt hồ sơ của Casey” hoặc “Chúng ta nhận được yêu cầu tìm hiểu về việc Thị trưởng bổ nhiệm Salkowitz vào...” Nhưng lần này có vẻ không có vụ án nào. Ông liếc nhìn đồng hồ, bảo ông rất vui khi được trò chuyện với tôi rồi cáo từ.

Tôi vẫn đang chớp mắt chưa hiểu đầu cua tai nheo gì thì ông quay người lại và thản nhiên cất tiếng: “Có một nơi thứ Năm nào tôi cũng ghé qua – một dạng câu lạc bộ. Toàn mấy ông già thôi, nhưng có nhiều người bầu bạn cũng vui. Họ có một hầm rượu hết sức tuyệt vời, trong trường hợp ông là người thích thưởng rượu. Thỉnh thoảng lại có người kể câu chuyện rất hay. Hay tối nào đó, ông đến thử không, David? Với tư cách là khách mời của tôi.”

Tôi lắp bắp đáp gì đó – đến giờ tôi cũng không chắc mình trả lời điều gì. Tôi quá đỗi ngạc nhiên trước lời đề nghị. Nghe qua câu nói, cứ tưởng ông nổi hứng bất chợt, song ánh mắt ông không có một chút nào gọi là nổi hứng bất chợt, đôi mắt Anglo-Saxon băng giá màu xanh dưới hàng lông mày rậm rì bạc trắng. Và nếu tôi không nhớ chính xác mình trả lời ra sao, thì đó là do bỗng dưng tôi cảm thấy chắc chắn lời đề nghị của ông – dù khó hiểu, rối như tơ và – chính là chủ đề chính mà tôi chực chờ ông nói tới.

Phản ứng của Ellen tối hôm đó vừa ngán ngẩm vừa hào hứng. Tôi đã làm việc cho Waterhouse, Carden, Lawton, Frasier và Effingham gần mười lăm năm, và một điều rõ như ban ngày là tôi không thể kỳ vọng vượt được vị trí tầm trung mà mình đang giữ hiện tại; vợ tôi chính là người diễn giải theo hướng đây là phương thức tiết kiệm chi phí mà công ty dùng để thay cho đồng hồ vàng.

“Mấy ông già ngồi kể chuyện thời chiến và chơi bài,” bà ấy bảo. “Một đêm như vậy và ông sẽ vui vẻ ngồi trong Thư viện Đọc cho đến khi họ cho ông về vườn nhận lương hưu, tôi đồ là thế... à tôi ướp đá sẵn hai chai Beck’s cho ông rồi đấy.” Đoạn bà trao tôi nụ hôn đằm thắm. Tôi đoán bà đã thấy nét gì đó trên gương mặt tôi – sau ngần ấy năm đầu gối tay ấp, vợ tôi như đi guốc trong bụng tôi.

Không có động tĩnh gì suốt mấy tuần sau đó. Khi tâm trí vẩn vơ nhớ lại lời đề nghị kỳ dị của Waterhouse – vô cùng kỳ dị khi người mở lời là người cả năm tôi gặp chưa tới chục lần, đồng thời là người một năm tôi chỉ gặp xã giao ở khoảng ba bữa tiệc, trong đó có một bữa tiệc công ty vào tháng Mười – tôi đoán tôi đã nhìn nhầm biểu cảm trong mắt ông, rằng thật ra ông chỉ mời lợi và đã quên bằng chuyện đó rồi. Hoặc hối tiếc về lời mời chẳng hạn — ái dà! Và rồi một xế chiều nọ, ông đến chỗ tôi, một ông cụ gần tuổi thất thập cổ lai hi mà vai vẫn rộng và vóc dáng còn rắn rỏi lắm. Tôi đang khoác áo ngoài, cặp táp kẹp giữa hai chân. Ông lên tiếng: “Nếu ông vẫn muốn làm một ly ở câu lạc bộ, mời ông đến vào tối nay nhé?”

“Chà... tôi...”

“Tốt lắm.” Ông nhét một mảnh giấy vào tay tôi. “Địa chỉ ở đây.”

Tối đó, ông đợi tôi ở chân bậc tam cấp, còn Stevens giữ cửa cho chúng tôi. Rượu ngon tuyệt vời, đúng như lời Waterhouse hứa hẹn. Ông chẳng tỏ vẻ sốt sắng “giới thiệu tôi với mọi người” – ban đầu tôi cứ tưởng hành động ấy là hợm hĩnh nhưng sau đó tôi rút lại suy nghĩ ấy – nhưng có hai ba thành viên đến giới thiệu bản thân với tôi. Một người trong số đó là Emlyn McCarron, lúc ấy ông cũng đã xế tuổi lục tuần. Ông chìa tay ra, tôi bắt tay ông chóng vánh. Da ông khô, sần sùi, thô ráp, tựa như da rùa. Ông hỏi tôi chơi bài bridge không nhưng tôi bảo mình không chơi.

“Hay lắm đấy ông ạ,” ông ta bảo. “Suốt thế kỷ này, trò chết toi ấy đã góp công bóp chết những cuộc trò chuyện đầy tri thức sau bữa tối hơn bất cứ thứ gì tôi có thể nghĩ ra.” Tuyên bố xong, ông bỏ vào không gian u tối của thư viện, nơi kệ sách tưởng chừng cứ cao đến vô hạn.

Tôi nhìn quanh tìm Waterhouse nhưng ông đã biến mất. Cảm thấy có chút khó chịu và vô cùng lạc lõng, tôi lang thang thong dong đến chỗ lò sưởi. Có lẽ tôi đã nói ban nãy, lò sưởi này có kích thước khổng lồ – rất khổng lồ ở một nơi như New York, nơi những người sống trong chung cư như tôi khó lòng hình dung nổi thứ bác ái to lớn nhường này chứ không chỉ khiêm tốn đủ để làm bắp nổ hay nướng bánh mì. Lò sưởi ở số 249B đường Số Ba mươi lăm Phía Đông đủ lớn để nướng nguyên một con bò đực. Không có mặt lò sưởi và có mái vòm bằng đá rắn chắc bo quanh lò. Ở chính giữa mái vòm là viên đá đỉnh vòm hơi lòi ra ngoài một chút. Nó nằm ngay tầm mắt của tôi, và dù tranh tối tranh sáng, tôi có thể đọc dòng chữ khắc trên đá một cách dễ dàng: Mấu chốt ở câu chuyện, không phải người kể chuyện.

“Của ông đây, David” Waterhouse cất tiếng từ đằng sau khuỷu tay làm tôi nhảy dựng. Hóa ra ông không để mặc tôi; ông chỉ đi đến một nơi chưa được khai phá để lấy thức uống. “Ông uống scotch và soda, đúng không?”

“Vâng. Xin cảm ơn, thưa ông Waterhouse...”

“George,” ông nói. “Ở đây cứ gọi tôi là George.”

“Vậy thì ông George,” tôi nói, dù có chút điên rồ khi trực tiếp gọi ông bằng tên. “Chuyện này là thế...”

“Nâng ly nào,” ông nói.

Chúng tôi uống rượu.

“Stevens là người đứng quầy rượu. Những thức uống ông ấy làm tuyệt hảo lắm. Ông ấy hay bảo kỹ năng ấy nhỏ nhưng thiết yếu.”

Ly scotch làm vợi bớt cảm giác mất phương hướng và lạc lõng của tôi (vợi bớt nhưng cảm giác thì vẫn còn đó – tôi đã tốn gần nửa tiếng đồng hồ nhìn chằm chằm vào tủ quần áo, nghĩ xem nên mặc gì; cuối cùng tôi mặc quần tây nâu sậm và áo khoác vải tuýt thô gần trùng màu quần, hy vọng tôi sẽ không bước vào một nhóm những vị hoặc là mặc toàn tuxedo, hoặc là mặc quần jeans xanh, áo sơ mi ca rô của L. L. Bean... có vẻ về phần áo xống, tôi đã không có bước đi nào dại dột). Một nơi mới, một tình huống mới khiến con người ta ý thức rất rõ từng hành động, dù nhỏ bé đến mức nào, và ở giây phút ấy, nâng ly rượu trên tay để làm cử chỉ uống chúc mừng nho nhỏ, tôi muốn chắc chắn mình không bỏ lỡ bất cứ thủ tục nào.

“Tôi có phải ký vào cuốn sổ khách quan nào không?” tôi hỏi. “Hoặc thứ gì đó tương tự?”

Trông ông có vẻ thoáng ngạc nhiên. “Chúng tôi không có thứ gì như vậy cả,” ông đáp. “Chí ít, tôi là không.” Ông đưa mắt liếc quanh căn phòng yên tĩnh, tối mờ. Johanssen loạt soạt lật tờ báo Wall Street Journal . Tôi thấy Stevens bước qua cánh cửa ở bên kia căn phòng, thoắt ẩn thoắt hiện trong áo lễ phục màu trắng. George để ly rượu lên chiếc bàn nhỏ rồi ném thêm khúc gỗ vào lửa. Những tia lửa tanh tách bay lên lỗ ống khói đen nhánh.

“Câu kia có nghĩa là gì nhỉ?” tôi chỉ về phía dòng chữ in trên viên đá đỉnh vòm. “Ông có ý tưởng gì không?”

Waterhouse đọc thật kỹ, như thể đây là lần đầu tiên ông đọc nó: MẤU CHỐT Ở CÂU CHUYỆN, KHÔNG PHẢI NGƯỜI KỂ CHUYỆN.

“Tôi đoán tôi có ý tưởng đấy,” ông nói. “Có lẽ ông cũng thế, nếu mai này ông quay lại đây. Phải, tôi nên nói ông sẽ có một hay hai ý tưởng mới đúng. Sớm muộn thôi. Cứ thong thả tận hưởng nhé, David.”

Ông bỏ đi. Và nghe ra thì thấy thật lạ lùng, nhưng dù bị bỏ lại để tự thân vận động trong một tình huống xa lạ, tôi lại rất tận hưởng khoảng thời gian ấy. Vốn dĩ tôi đã luôn thích sách vở, và ở đây thì có cả một kho tàng sách hay để nghiên cứu. Tôi chậm rãi bước đi giữa hai hàng kệ sách, nghiên cứu gáy sách kỹ lưỡng nhất có thể trong điều kiện thiếu ánh sáng, thỉnh thoảng rút ra một cuốn, có đoạn, tôi dừng lại để ngắm nhìn ngã tư Đại lộ Số hai qua khung cửa sổ hẹp. Tôi đứng đó, đưa mắt nhìn qua lớp kính phủ sương giá quanh rìa cảnh đèn tín hiệu ở ngã tư chuyển từ đỏ sang xanh, qua vàng rồi đỏ trở lại, và bất ngờ thay, tôi chợt cảm thấy lòng mình bình yên đến lạ lùng, hết sức dễ chịu. Cảm giác ấy không vồ vập vào; thay vào đó, nó gần như lén lút xâm chiếm. Ồ vâng , tôi có thể nghe thấy bạn lầm bầm, có lý quá cơ; nhìn đèn giao thông chuyển từ dừng sang đi thì ai cũng thấy bình yên.

Được rồi; tôi biết nó vô lý mà. Tôi công nhận với bạn điều đó. Dẫu vậy, cảm giác ấy vẫn hiện diện ở đó. Lần đầu tiên sau bao năm ròng, nó gợi cho tôi nhớ lại những đêm đông ở trang trại Wisconsin nơi tôi lớn lên: nằm trên giường trong căn phòng thông thống gió tầng trên, ghi dấu sự tương phản giữa tiếng gió tháng Một hun hút ngoài kia, tuyết khô như cát vù vù thổi dọc theo hàng rào tuyết kéo dài nhiều cây số, và hơi ấm của cơ thể tôi tỏa ra dưới hai lớp chăn bông.

Có nhiều cuốn sách luật nhưng chúng tương đối quái gở: Tôi nhớ có tựa sách là Hai mươi vụ chặt tứ chi và Bản án dưới luật pháp nước Anh. Ngoài ra có Các vụ án Thú cưng. Tôi có mở cuốn này ra, và không ngoài dự đoán, cuốn sách này viết về nội dung pháp lý học thuật về cách đưa luật vào giải quyết (lần này là luật pháp Hoa Kỳ) các vụ án có những khía cạnh quan trọng liên quan tới thú nuôi – tất tần tật, từ việc những con mèo nhà được thừa kế khoản tiền khổng lồ tới mèo gấm phá xích và làm một nhân viên bưu tá bị thương nặng.

Thư viện có bộ sách của Dickens, bộ sách của Defoe, vô vàn sách của Trollope; ngoài ra còn có một bộ tiểu thuyết – tổng cộng mười một cuốn – của một tác giả mang tên Edward Gray Seville. Tất cả được đóng gáy da màu xanh tuyệt mỹ, tên của nhà xuất bản được dập bằng vàng trên gáy sách là Stedham & Son. Tôi chưa bao giờ nghe tên của Seville hay của nhà xuất bản này. Ngày quyền tác giả của cuốn Seville đầu tiên - Anh em của Chúng tôi – là năm 1911. Ngày của cuốn cuối cùng, Kẻ phạm luật, là năm 1935.

Cách ngăn kệ đựng bộ sách của Seville hai dãy là số khổ lớn trưng bày hướng dẫn từng bước cho những tín đồ đam mê sản phẩm lắp ghép Erector Set. Cạnh đó là một cuốn sổ khổ lớn khác, trưng bày những cảnh quay huyền thoại từ các bộ phim nổi tiếng. Mỗi bức hình choán hết cả trang, và đối diện, ở trang bên cạnh là những bài thơ tự do về khung cảnh tương ứng hoặc lấy cảm hứng từ khung cảnh này. Ý tưởng thật ra không quá đặc sắc, nhưng những thi nhân được trình bày thì vô cùng đặc sắc – Robert Frost, Marianne Moore, William Carlos Williams, Wallace Stevens, Louis Zukofsky và Erica Jong, đó mới chỉ là một vài cái tên. Xem được nửa cuốn, tôi thấy một bài thơ của Algernon Williams trình bày bên cạnh bức ảnh nổi tiếng của Marilyn Monroe đứng trên nắp cống tàu điện ngầm và cố giữ không cho váy tốc lên. Bài thơ mang tựa đề “Chuông ngân” với những dòng thơ đầu như sau:

Hình dạng tấm váy

- ta có thể nói -

tựa hình quả chuông

Hai chân nàng, quả lắc

Sau đó còn vài câu nữa. Bài thơ không dở, nhưng chắc chắn không phải một trong những tác phẩm hay nhất hoặc nằm trong tốp của Williams. Tôi có thể đánh giá như thế vì những năm vừa qua, tôi đã đọc rất nhiều thơ của Algernon Williams. Tuy nhiên, tôi không tài nào nhớ ra ông có bài thơ nào viết về Marilyn Monroe (thật sự là thế; ngay cả khi tách rời với bức hình, bài thơ cũng khảng khái tuyên bố điều đó – kết bài, Williams viết: Chuông ngân tên bóng hồng:/ Marilyn , ma belle). Kể từ đó tôi cố tìm kiếm bài thơ nhưng vẫn chưa tìm thấy... tất nhiên điều này chẳng có nghĩa gì. Thơ không giống như tiểu thuyết hay ý kiến pháp lý; chúng giống với lá vàng hơn, và bất cứ tuyển tập nào mang tên Tuyển tập Đầy đủ Gì gì đó chắc chắn đều là nói dối. Những bài thơ thường vô tình thất lạc dưới ghế xô pha – đó là một trong những nét thu hút của chúng, cũng là một trong những lý do giúp chúng trường tồn theo tháng năm. Nhưng...

Một lúc sau, Stevens mang ly scotch thứ hai đến (lúc này, tôi đã an vị trên ghế của mình với một tập thơ của Ezra Pound trong tay). Ly rượu ngon y như ly đầu. Vừa nhấm nháp rượu, tôi vừa trông thấy hai trong số những thành viên có mặt, George Gregson và Harry Stein (Harry đã mất được sáu năm vào đêm Emlyn McCarron kể cho chúng tôi nghe câu chuyện Phương pháp Hít thở), rời khỏi phòng qua cánh cửa kỳ lạ cao chưa tới một mét. Nếu trên đời có cánh cửa Alice Xuống Hố Thỏ thì đây chính là nó. Họ để ngỏ cánh cửa, và liền sau khi họ rời khỏi thư viện, tôi nghe thấy tiếng banh bi da lanh canh khe khẽ.

Stevens đi ngang, hỏi tôi có muốn uống thêm một ly scotch nữa không. Tôi đành từ chối dù thật tâm rất tiếc. Ông gật đầu. “Rất tốt, thưa ngài.” Nét biểu cảm trên mặt ông không thay đổi, nhưng tôi lại có một cảm giác lạ thường là bằng cách nào đó, tôi khiến ông hài lòng.

Một lát sau, tiếng cười rộ lên khiến tôi giật mình khỏi trang sách. Ai đó vừa ném túi bột hóa chất vào trong lửa, làm ánh lửa rực rỡ màu sắc trong thoáng chốc. Tôi lại nghĩ về thời thơ ấu... nhưng không phải theo cái cách hoài niệm mùi mẫn, bâng khuâng. Tôi thấy mình nhất thiết phải nhấn mạnh điều đó, chẳng rõ tại sao. Tôi nghĩ về những lần mình từng làm điều tương tự thuở bé, nhưng ký ức ấy mạnh mẽ, dễ chịu và không nhuốm màu hối tiếc.

Tôi thấy đa số mọi người đã kéo ghế quây quần thành vòng bán nguyệt trước lò sưởi. Stevens chuẩn bị đĩa đầy ụ xúc xích ngon lành, nóng hôi hổi từ khi nào. Harry Stein quay lại từ cánh cửa dẫn-xuống hố-thỏ, giới thiệu bản thân với tôi hối hả nhưng dễ chịu. Gregson vẫn ở trong phòng bi da, dựa trên âm thanh thì ông đang tập đánh.

Sau thoáng lưỡng lự, tôi cũng nhập hội. Một câu chuyện được kể ra – nội dung không mấy thú vị. Người kể chuyện là Norman Stett, và dù mục đích của tôi không phải là kể lại nó ở đây, có lẽ bạn sẽ hiểu tôi nhận xét ra sao về chất lượng câu chuyện nếu tôi bảo với bạn nội dung là về một người đàn ông chết đuối trong bốt điện thoại.

Khi Stett – hiện cũng không còn trên đời – kể xong, có người bảo, “Đáng lý ông phải để dành câu chuyện này cho Giáng sinh, Norman ạ.” Tiếng cười khúc khích vang lên, dù tất nhiên tôi chẳng hiểu. Chí ít lúc đó thì chưa.

Đến lượt Waterhouse cất tiếng, và dẫu nằm mơ cả nghìn năm, tôi cũng không tài nào tưởng tượng nổi một Waterhouse như thế. Một cựu sinh viên trường Yale, thành viên của Phi Beta Kappa, tóc bạc, mặc bộ vest ba mảnh, người đứng đầu của công ty luật lớn đến độ nó thiên về doanh nghiệp hơn là một công ty – ông Waterhouse ấy đã kể câu chuyện về người giáo viên bị mắc kẹt trong nhà xí. Nhà xí nằm đằng sau trường học chỉ có một phòng nơi cô đứng lớp, và cái ngày bàn tọa của cô bị kẹt vào một trong hai bồn cầu của nhà xí tình cờ lại là ngày nhà xí được hạt Anniston lên lịch di dời để đóng góp vào cuộc triển lãm Cuộc Sống Xưa ở New England được tổ chức tại Trung tâm Center ở Boston. Người giáo viên im như thóc suốt quãng thời gian người ta đưa nhà xí lên xe tải thùng lửng rồi dời nó xuống; cô này quá bẽ bàng vì ngượng và kinh hãi, Waterhouse cho hay. Và khi cánh cửa nhà xí văng xuống làn đường vượt xe trên Tuyến số 128 dẫn ở Somerville vào giờ cao điểm...

Nhưng tôi xin giữ bí mật câu chuyện này và những câu chuyện khác theo sau nó; tối nay, chúng không phải câu chuyện của tôi. Stevens canh thời điểm mang ra một chai brandy không chỉ ngon mà đạt đến độ cực phẩm. Chai rượu được chuyền tay nhau, đoạn Johanssen nâng ly – hoặc ly được nâng lên, hoàn toàn có thể nói vậy: Mấu chốt là câu chuyện chứ không phải người kể.

Chúng tôi uống vì câu chuyện.

Không lâu sau, mọi người lần lượt ra về. Chưa khuya lắm; còn chưa đến nửa đêm; nhưng tôi để ý khi ta bước từ tuổi ngũ tuần sang lục tuần, định nghĩa “trễ” càng lúc càng trở nên sớm hơn. Trông thấy Waterhouse đưa tay vào chiếc áo bành tô mà Stevens đang giơ lên cho ông, tôi tự nhủ đây hẳn là ám hiệu dành cho mình. Tôi thấy thật lạ lùng khi Waterhouse ra về mà không nói lời nào với tôi (dù đây rõ ràng là điều ông đang làm; nếu tôi đi cất cuốn sách của Pound lên kệ và quay lại trễ bốn mươi giây, ông đã đi mất rồi), nhưng bản thân việc đó cũng chẳng lạ hơn những sự kiện xảy ra vào buổi tối hôm ấy là bao.

Tôi bước ra ngay sau ông, và Waterhouse liếc quanh, tựa hồ ngạc nhiên khi thấy tôi – tưởng chừng ông vừa giật mình tỉnh giấc sau khi thiếp ngủ. “Đi chung taxi chứ?” ông hỏi, như thể chúng tôi chỉ tình cờ gặp nhau trên con đường lộng gió vắng tanh này.

“Cảm ơn ông” tôi đáp. Lời cảm ơn tôi gửi đến ông không chỉ dừng ở lời đề nghị đi chung taxi, và tôi tin rằng giọng nói của tôi thể hiện rất rõ điều này, nhưng ông chỉ gật đầu như thể ý tôi chỉ có thể. Một chiếc taxi bật đèn còn trống chậm rãi chạy trên đường – những người như George Waterhouse dường như luôn may mắn bắt được taxi cả những đêm New York lạnh căm hoặc tuyết rơi khốn khổ, khi bạn dám thể trên khắp đảo Manhattan chẳng có chiếc taxi nào – ông bèn vẫy nó.

Yên vị trong chiếc xe ấm áp, công tơ mét tích tắc đo lường hành trình của chúng tôi, tôi bảo với ông tôi thích câu chuyện ông kể nhường nào. Tôi nói từ mười tám tuổi đến giờ, tôi mới được trận cười sảng khoái và vô tư đến thế, đấy không phải lời tâng bốc mà là sự thật.

“Ồ? Được ông nói thế thì tốt quá.” Giọng ông lịch thiệp mà lạnh băng. Tôi xìu xuống, cảm thấy má mình nóng bừng. Người ta không cần nghe tiếng rầm mới biết cửa đã đóng.

Khi taxi dừng lại ở góc quanh ngay trước chung cư của tôi, tôi cảm ơn ông lần nữa, và lần này, ông thể hiện thêm chút nồng ấm. “Báo gấp gáp như vậy mà ông vẫn đến, tốt lắm,” ông nói. “Nếu thích thì mời ông lại ghé chơi. Đừng đợi lời mời; ở hai-bốn-chín-B, chúng tôi chẳng bày vẽ khách sáo đâu. Nghe kể chuyện thì thứ Năm là hợp nhất, nhưng câu lạc bộ tối nào cũng mở cửa.”

Vậy tôi xem mình đã có tư cách hội viên được không nhỉ?

Câu hỏi đã ở đầu môi. Tôi toan cất tiếng; bởi có vẻ cần phải hỏi cho rõ. Tôi đang nghiền ngẫm câu hỏi, nghe nó vang lên trong đầu (theo cái cách tẻ nhạt của dân luật) để xem câu từ mình sử dụng phù hợp chưa – biết đâu tôi thẳng thừng quá – thì Waterhouse cho xe chạy tiếp. Giây sau, chiếc taxi đã bon bon trên đường hướng đến công viên. Tôi tần ngần đứng trên vỉa hè một lát, viền áo bành tô lật phật vào ống khuyển, miên man nghĩ: Ông ấy biết mình sắp sửa hỏi câu ấy – ông ấy biết nên mới cố tình nói tài xế chạy xe đi trước khi mình kịp lên tiếng. Đoạn tôi tự nhủ điều đó rõ là quái gở – thậm chí là hoang tưởng. Đúng là quái gở. Nhưng nó cũng là sự thật. Tôi cứ việc nhạo báng bao nhiêu tùy thích; có nhạo báng chăng nữa cũng chẳng thay đổi được điều cơ bản đó.

Tôi chậm rãi bước đến cửa tòa nhà rồi vào trong.

Giấc ngủ có mười phần thì Ellen đã say ngủ sáu phần khi tôi ngồi xuống giường để cởi giày. Bà xoay người lại rồi ậm ừ hỏi câu gì đó tít sâu trong họng. Tôi bảo vợ mình ngủ tiếp.

Bà ấy lại cất tiếng gì đó. Lần này, nghe có vẻ rõ ràng hơn: “Thế nào ông?”

Trong khoảnh khắc, tôi lưỡng lự, tay đang tháo dở khuy áo. Và trong chóng vánh, tôi đã mường tượng viễn cảnh rõ như ban ngày: Nếu kể với bà ấy, tôi sẽ không bao giờ trông thấy bên kia cánh cửa nữa.

“Cũng ổn,” tôi đáp. “Mấy ông già kể chuyện chiến tranh ấy mà.”

“Tôi biết ngay.”

“Nhưng không tệ lắm. Chắc tôi sẽ quay lại. Nó có thể giúp cho tôi trong công ty.”

“Công ty kia đấy,” bà khẽ trêu tôi. “Ông đúng là mượn gió bẻ măng”

“Nồi nào vung nấy đấy bà ạ,” tôi đáp lại nhưng vợ tôi đã thiếp đi. Tôi cởi đồ, tắm rửa, lau người, mặc đồ bộ... rồi thay vì đi ngủ như lý ra tôi nên làm (lúc đó đã qua 1 giờ đêm), tôi choàng áo rồi làm thêm một chai Beck’s. Tôi ngồi ở bàn bếp, thong thả uống, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, về phía đại lộ Madison lạnh lẽo hun hút, chìm trong suy nghĩ. Đầu tôi vẫn hơi ong ong do lượng rượu nạp vào buổi tối hôm nay – đối với tôi, uống như thế là rất nhiều. Nhưng cảm giác ấy không hề khó chịu, và tôi không có cảm giác hôm sau, mình sẽ bị say nguội.

Suy nghĩ hiện lên trong đầu khi Ellen hỏi thăm về buổi tối cũng nực cười như cái suy nghĩ chớm nở trong tôi về George Waterhouse khi taxi thả tôi xuống rồi lăn bánh – có gì sai trái khi kể với vợ mình về buổi tối hoàn toàn vô hại ở câu lạc bộ ngột ngạt dành cho phái mạnh của cấp trên... và ngay cả khi kể cho vợ tôi là điều không hay chăng nữa, ai sẽ biết tôi đã kể kia chứ? Không, suy nghĩ ấy nực cười và hoang tưởng chẳng kém gì những suy tư trước đó... và trái tim tôi bảo với tôi, nó cũng đúng đến từng chi tiết.

Ngày hôm sau, tôi gặp George Waterhouse trong hành lang nối giữa phòng Kế toán và Thư viện. Gặp ư? Nói đúng hơn là đi ngang qua. Ông gật đầu chào tôi rồi đi tiếp mà chẳng nói gì... như bao năm qua ông vẫn làm thế.

Cả ngày hôm ấy, bụng tôi quặn đau liên tục. Đó là điều duy nhất có thể thuyết phục tôi rằng buổi tối hôm ấy thật sự đã xảy ra.

Ba tuần trôi qua. Bốn tuần... rồi năm tuần. Không có lời mời thứ hai từ Waterhouse. Đơn giản là tôi không phù hợp; không đủ tư cách. Hoặc chí ít đó là những gì tôi tự nhủ với bản thân. Suy nghĩ ấy làm tôi nao núng và xuống tinh thần. Rồi chuyện sẽ dần nguôi ngoai, không cửa vào lòng tôi nữa, mọi điều thất vọng đều thế mà. Nhưng khi nhớ lại đêm ấy, tôi lại nghĩ đến những khoảnh khắc dị thường nhất – vũng ánh sáng lẻ loi của đèn thư viện, tĩnh tại, lặng lẽ và có gì đó thật văn minh; mùi bìa da nồng trên những ngăn kệ hẹp. Trên tất cả, tôi nghĩ đến việc mình đứng cạnh khung cửa sổ hẹp ngắm nhìn tinh thể băng tuyết chuyển từ màu xanh sang vàng, sang đỏ. Tôi nghĩ về sự bình an mà mình đã cảm thấy.

Cũng trong năm tuần ấy, tôi đến thư viện mượn bốn tập thơ Algernon Williams (tôi có ba tập còn lại và đã kiểm tra nội dung); một trong số chúng đề nội dung là Tuyển tập thơ Đầy đủ. Tôi có dịp đọc lại một số bài thơ mình ưa thích năm xưa, nhưng tôi không tìm ra bài thơ mang tên “Chuông ngân” trong tập thơ nào.

Một công đôi chuyện, nhân chuyến đến Thư viện Công cộng New York, tôi tiện thể kiểm tra danh mục tác giả để tìm các tác phẩm hư cấu của nhà văn mang tên Edward Gray Seville. Một tiểu thuyết kỳ bí của nữ nhà văn mang tên Ruth Seville là điều gần nhất tôi tìm ra.

Nếu thích thì mời ông lại ghé qua. Đừng đợi lời mời...

Tất nhiên tôi vẫn chờ đợi lời mời; ngày xửa ngày xưa, cụ thân sinh dạy tôi không răm rắp tin lời những người mở miệng mời lấy lệ “anh cứ ghé qua bất cứ lúc nào” hoặc “cửa lúc nào cũng mở chào đón anh.” Ở đây, tôi không thấy mình cần một tấm thẻ chạm khắc được anh người hầu mặc chế phục, tay cầm đĩa mạ vàng, mang đến tận cửa nhà, tôi không có ý đó, nhưng tôi vẫn muốn cái gì đó, ngay cả khi nó chỉ là một lời mời bất chợt: “Tối nào ông ghé qua nhé, David? Hy vọng chúng tôi không làm ông phát chán. Kiểu vậy.

Nhưng đến cả lời mời ấy cũng chẳng có, tôi bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc hơn về việc quay lại bất chấp – suy cho cùng, thỉnh thoảng, người ta muốn bạn ghé qua bất cứ lúc nào; tôi đoán ở đâu đó, có cánh cửa lúc nào cũng mở; và các bà tôi không phải khi nào cũng đúng.

Đừng đợi lời mời...

Tóm lại, đó là lý do đưa đẩy vào ngày 10 tháng Mười hai năm ấy, tôi lại mặc áo khoác vải tuýt thô ráp, quần nâu sậm và tìm thêm cà vạt đỏ bầm. Tôi nhớ tối hôm ấy, tim tôi đập mạnh hơn bình thường.

“George Waterhouse cuối cùng đã mở lời mời ông quay lại à?” Ellen hỏi. “Quay lại cái chuồng lợn hợm hĩnh nghĩ mình thượng đẳng sao?”

“Đúng vậy,” tôi nói, nghĩ đây là lần đầu tiên trong ít nhất chục năm tôi nói dối bà ấy... và rồi tôi nhớ ra, sau buổi gặp đầu tiên, tôi đã trả lời khi bà hỏi han về buổi tối bằng một lời nói dối. Tôi đã bảo Mấy ông già kể chuyện chiến tranh.

“Chà, khéo lại đề cập chuyện thăng chức ấy chứ,” bà nói... dù không hy vọng nhiều. Cũng nên chỉ ra rằng bà nói mà không tỏ ý chì chiết gì cả.

“Ở đó còn nhiều chuyện kỳ lạ hơn kìa,” tôi nói rồi hôn tạm biệt.

“Ụt ịt,” bà nói khi tôi đi ra cửa.

Cuốc taxi đêm ấy sao dài lê thê. Trời lạnh, đứng gió và đầy sao. Chiếc xe dòng Checker khiến tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé khi ngồi bên trong, tựa đứa trẻ lần đầu tiên nhìn ngắm thành phố. Lồng ngực tôi phập phồng hào hứng khi chiếc taxi dừng trước tòa nhà đá cát kết nâu – cảm giác đơn giản mà trọn vẹn. Nhưng sự hào hứng đơn thuần là nét quý giá của cuộc đời vụt mất mà ta không để ý, để rồi khi lớn tuổi thêm, tìm lại được cảm giác ấy luôn là điều bất ngờ, tựa hồ tìm thấy một hai sợi tóc đen mắc trên lược sau nhiều năm tóc bạc trắng.

Tôi trả tiền taxi, xuống xe và đi về phía bốn bậc tam cấp dẫn đến cửa. Vừa bước lên, hào hứng vón cục thành e sợ (người già quen cảm giác này hơn). Chính xác thì tôi đang làm gì ở đây?

Cánh cửa đóng bằng gỗ sồi dày cui, và trong mắt tôi, nó kiên cố chẳng kém gì cửa của pháo đài trong lâu đài ngày xưa. Tôi không thấy chuông cửa nào, cũng không thấy vòng sắt để gõ cửa, cũng chẳng có màn hình quan sát nào kín đảo lắp dưới mái hiên, và tất nhiên là chẳng có ông Waterhouse nào đứng đợi để dẫn tôi vào. Dừng chân ở cuối bậc tam cấp, tôi nhìn quanh. Đường Số Ba mươi lăm phía Đông bỗng chốc tối tăm, lạnh lẽo và đe dọa hơn. Những phiến đá cát kết nâu chợt đầy vẻ bí hiểm, tựa hồ đang giấu giếm những bí ẩn tốt nhất không nên điều tra. Cửa sổ trông như những con mắt.

Đằng sau một trong những khung cửa sổ kia, một người đàn ông hoặc đàn bà nào đó đang ủ mưu giết người , tôi bâng quơ nghĩ mà lạnh cả sống lưng. Ủ mưu giết người... hoặc đã xuống tay rồi.

Bỗng bất thình lình, cửa mở ra và Stevens đứng đó.

Tôi như trút được đá tảng trong lòng. Tôi cho rằng mình không phải típ người tưởng tượng thái quá – chí ít là trong hoàn cảnh bình thường – nhưng suy nghĩ ban nãy rõ nét tựa lời tiên tri. Nếu không liếc nhìn mắt của Stevens, có lẽ tôi đã lảm nhảm thành tiếng. Đôi mắt ông không biết tôi. Trong mắt ông, tôi hoàn toàn xa lạ.

Lại có thêm một khoảnh khắc rõ nét như tiên tri; tôi mường tượng cụ thể đến từng chi tiết buổi tối của mình. Ba tiếng ngồi ở quầy rượu yên tĩnh. Ba ly scotch (có lẽ là bốn) để xoa dịu cảm giác ngượng ngùng khi dại dột đến nơi mình không được mời. Sự bẽ bàng mà lời khuyên của mẹ tôi cố tránh – cùng với việc biết rằng tôi đã đi quá giới hạn.

Tôi hình dung mình sẽ chếnh choáng đi về nhà, nhưng không tốt lành gì. Tôi sẽ ngồi thu lu suốt cuốc taxi chứ chẳng tận hưởng nó qua lăng kính hào hứng và mong chờ tựa trẻ thơ kia. Tôi tưởng tượng mình sẽ nói với Ellen, Bổn cũ soạn lại... Waterhouse lại kể câu chuyện ông ấy thắng ván bài nên giành được bít tết sườn chữ T cho Tiểu đoàn Số Ba... rồi họ chơi bài một đô la một điểm, bà có tin được không?... Đi lần nữa à?... Cũng còn tùy, nhưng có lẽ tôi không đi nữa đâu . Và câu chuyện sẽ chấm dứt tại đó. Với ngoại lệ là cảm giác bẽ bàng của tôi.

Tôi thấy toàn bộ viễn cảnh này trong đôi mắt trống rỗng của Stevens. Rồi đôi mắt ấm lên. Ông thoáng mỉm cười rồi cất tiếng: “Ông Adley! Mời ông vào. Để tôi cất áo khoác cho ông.”

Tôi bước lên bậc tam cấp, Stevens đóng cánh cửa đằng sau tôi. Đứng trong không gian ấm áp này, cánh cửa đem lại cảm giác khác biệt biết bao! Ông cầm lấy áo khoác tôi đi mất. Tôi thoáng đứng trong hành lang nhìn bóng mình phản chiếu qua tấm gương lớn, một người đàn ông sáu mươi ba tuổi với gương mặt quá hốc hác so với tuổi trung niên. Thế nhưng bóng hình ấy vẫn khiến tôi hài lòng.

Tôi tiến vào thư viện.

Johanssen đang ngồi đọc tờ báo Wall Street Journal. Trong một hòn đảo ánh sáng khác, Emlyn McCarron ngồi đánh cờ với Peter Andrews. Từ ngày ấy đến giờ, McCarron lúc nào trông cũng như xác chết, mũi của ông hẹp, tựa lưỡi dao. Andrews thì to lớn, vai xuôi, tính nóng như lửa. Bộ râu quai nón màu gừng nâu chấm xuống áo vest ông mặc. Mặt đối mặt qua bàn cờ khảm với những quân cờ chạm khắc bằng ngà và gỗ mun, trông họ như hai bức tượng của người da đỏ: chim ưng và gấu.

Waterhouse cũng có mặt ở đó, chau mày đọc tờ Times của ngày hôm ấy. Ông liếc lên, gật đầu chào tôi mà chẳng có vẻ ngạc nhiên, rồi lại dán mắt vào tờ báo.

Stevens chủ động mang cho tôi một ly scotch.

Tôi đem ly rượu vào dãy kệ sách và lại thấy bộ sách màu xanh hấp dẫn, lạ lùng kia. Đêm đó, tôi bắt đầu đọc tác phẩm của Edward Gray Seville. Tôi đọc từ cuốn đầu mang tên Anh em của Chúng tôi. Tính từ ngày đó, tôi đã đọc toàn bộ, và tôi cho rằng đây là mười một cuốn tiểu thuyết hay nhất thế kỷ.

Gần cuối buổi tối, một – và chỉ một – câu chuyện được kể, Stevens mang brandy đến cho mọi người. Sau khi câu chuyện kết thúc, mọi người đứng dậy, chuẩn bị ra về. Stevens cất tiếng từ cánh cửa đôi nối ra hành lang. Giọng ông trầm và dễ chịu nhưng vang vọng:

“Vậy vị nào sẽ kể cho chúng ta nghe câu chuyện vào Giáng sinh nhỉ?”

Mọi người dừng việc mình đang làm rồi đưa mắt nhìn quanh. Họ rì rầm bàn tán và cười vui.

Vẫn giữ nụ cười trên môi nhưng hết sức nghiêm túc, Stevens vỗ tay hai cái như giáo viên tiểu học đang ổn định trật tự lớp học. “Nào, thưa các vị – ai sẽ chuẩn bị câu chuyện đây?”

Peter Andrews, người đàn ông vai xuôi và bộ râu màu gừng, hắng giọng. “Tôi có vài chuyện gần đây khá bận tâm. Hiềm nỗi tôi không rõ nó có đúng không; liệu nó...”

“Như vậy là được rồi,” Stevens ngắt lời và tiếng cười rộ lên thêm. Mọi người thân thiện vỗ lưng Andrews. Cơn gió lạnh hun hút thốc vào hành lang khi các vị khách bước ra ngoài.

Và rồi Stevens xuất hiện, tựa như ma thuật, cầm áo khoác cho tôi. “Buổi tối tốt lành, thưa ông Adley. Hết sức hân hạnh.”

“Các vị thật sự hẹn gặp vào đêm Giáng sinh à?” vừa hỏi, tôi vừa cài áo. Tôi hơi tiếc mình sẽ phải bỏ lỡ câu chuyện của Andrew, nhưng chúng tôi đã chốt kế hoạch lái xe đi Schenectady để nghỉ lễ với chị gái của Ellen.

Stevens tỏ vẻ vừa kinh ngạc vừa lấy làm thú vị cùng lúc. “Không hề,” ông đáp. “Giáng sinh là dịp người đàn ông nên ở bên gia đình mình. Đêm đó là dịp đặc biệt. Ông có đồng ý không?”

“Hẳn là có.”

“Chúng tôi luôn tổ chức gặp vào thứ Năm trước lễ Giáng sinh. Thật ra, năm nào cũng vậy, đó là đêm mọi người gần như luôn đến rất đông”

Tôi để ý ông không sử dụng từ hội viên – là ngẫu nhiên? Hay đang tránh né có dụng ý?

“Rất nhiều câu chuyện đã được kể trong gian phòng chính, thưa ông Adley, nội dung trên trời dưới biển, từ hài hước đến bi kịch, từ mỉa mai đến mùi mẫn. Nhưng vào thứ Năm trước lễ Giáng sinh, câu chuyện được kể luôn có nội dung huyền bí. Theo như trí nhớ của tôi, trước giờ đã luôn như thế.”

Chí ít điều này lý giải cho lời nhận xét tôi nghe thấy vào lần đầu tiên ghé qua nơi này, đại ý là đáng lý Norman Stett nên để dành câu chuyện ông kể cho dịp Giáng sinh. Tôi chực hỏi thêm vài câu, nhưng tôi thấy sự cẩn trọng ánh lên trong mắt Stevens. Nó không phải lời cảnh báo rằng ông sẽ không trả lời câu hỏi của tôi; mà đúng hơn, nó là lời cảnh báo rằng tốt nhất tôi không nên hỏi nhiều.

“Còn gì nữa không, thưa ông Adley?”

Trong sảnh chỉ còn hai người chúng tôi. Tất cả mọi người đều đã ra về. Bất chợt hành lang tối hẳn, khuôn mặt dài của Stevens nhợt nhạt hơn, môi bầm hơn. Mẩu gỗ nổ lốp đốp trong lò sưởi và ánh lửa đỏ trong thoáng chốc quét qua sàn gỗ bóng láng. Tôi nghĩ tôi nghe thấy một cú va chạm trơn tru từ căn phòng nào đó chưa được khám phá. Tôi không thích âm thanh ấy. Không thích chút nào.

“Không” tôi nói, giọng không vững lắm. “Tôi đồ là không”

“Vậy xin chúc ông ngủ ngon,” Stevens nói, và tôi băng qua thềm. Tôi nghe thấy cánh cửa nặng nề đóng lại sau lưng. Tôi nghe thấy ổ khóa xoay. Và rồi tôi bước về phía ánh đèn của đại lộ Số ba, không ngoảnh lại nhìn do phần nào thấy sợ, như thể tôi sẽ trông thấy một thứ ma quỷ đáng sợ nào đó đang sánh bước bên cạnh, hoặc liếc thấy bí mật nào đó nên chôn vùi. Đến góc đường, trông thấy taxi còn trống, tôi bèn vẫy xe.

“Lại thêm chuyện thời chiến à?” tối đó, Ellen hỏi. Bà đang nằm trong giường với cuốn tiểu thuyết Philip Marlowe, người tình duy nhất bà ưa thích.

“Cũng có một, hai câu chuyện thời chiến” tôi đáp và treo áo khoác. “Nhưng phần lớn thời gian, tôi ngồi đọc sách thôi.”

“Khi ông không ụt ịt cùng họ.”

“Ừ, đúng rồi. Khi tôi không ụt ịt.”

“Ông nghe thử này: ‘Lần đầu tiên tôi trông thấy Terry Lennox, anh ta say bí tỉ trong chiếc Rolls-Royce Silver Wraith ngoài hiên quán Vũ công,’ ” Ellen đọc. “Khuôn mặt anh trẻ măng, nhưng tóc thì bạc trắng. Nhìn đôi mắt là đủ biểu anh đã say quắc cần câu, nhưng ngoài điểm đó ra, trông anh cũng như bao thanh niên tuấn tú trong bộ tuxedo vung tiền như nước vào tụ điểm vốn chỉ phục vụ cho mục đích bòn rút ấy. Nghe hay nhỉ? Là...”

“Tạm biệt Đằng đẵng, ” tôi vừa nói vừa cởi giày. “Cứ ba năm, bà lại đọc cho tôi nghe đoạn này mà. Nó là một phần vòng đời của bà rồi.”

Bà nhăn mũi với tôi. “Ụt ịt.”

“Cảm ơn bà,” tôi đáp.

Vợ tôi trở lại với cuốn sách. Tôi đi vào bếp lấy một chai Becks. Khi tôi quay lại, bà đã để cuốn sách Tạm biệt Đằng đẵng lên khăn trải giường rồi chăm chú nhìn tôi. “David, ông tính tham gia câu lạc bộ này à?”

“Tôi nghĩ là có thể... nếu tôi được mời.” Tôi thấy không thoải mái. Có lẽ tôi vừa nói dối vợ mình lần nữa. Nếu ở số 249B đường Số Ba mươi lăm phía Đông có thứ gọi là tư cách hội viên thì tôi đã là hội viên rồi.

“Được vậy thì mừng quá,” bà nói. “Bao lâu nay ông vẫn luôn cần thứ như thế. Tôi nghĩ có khi ông còn chẳng ý thức được điều này, nhưng quả thật là ông cần nó lắm. Tôi có Ủy ban Cứu trợ, Ủy ban Quyền Phụ nữ và Hiệp hội Sân khấu. Nhưng ông luôn cần một thứ gì đó. Có lẽ là bạn bè để cùng trải qua tuổi xế chiều.”

Tôi bước đến giường, ngồi cạnh vợ mình và cầm cuốn tiểu thuyết Tạm biệt Đằng đẵng lên. Ấn bản này có bìa mềm, mới toanh. Tôi còn nhớ mình đã mua bản bìa cứng nguyên gốc làm quà sinh nhật cho Ellen. Vào năm 1953. “Mình già chưa nhỉ?” tôi hỏi bà.

“Tôi nghi là rồi,” bà nói cười rạng rỡ với tôi.

Đặt sách xuống, tôi chạm vào ngực vợ mình. “Quá già cho điều này sao?”

Bà đoan trang kéo khăn trải giường lên... rồi vừa khúc khích cười, bà vừa dùng chân đá chúng xuống sàn. “Lên nhạc đi nào,” Ellen nói, “tám phách một nhịp.” [57E]

“Ụt à ụt ịt,” tôi bảo, đoạn cả hai chúng tôi cùng phá lên cười.

Thứ Năm trước lễ Giáng sinh đã đến. Buổi tối hôm ấy cũng như bao buổi tối khác, nhưng có hai ngoại lệ đáng chú ý. Số người tham dự đông hơn, có lẽ phải đến mười tám người. Và trong không gian có một cảm giác hào hứng sắc bén, khó tả. Johanssen chỉ liếc sơ qua tờ báo Wall Street Journal rồi nhập hội McCarron, Hugh Beagleman và tôi. Chúng tôi ngồi gần cửa sổ, tán gẫu linh tinh, cuối cùng hăng say – đồng thời hài hước – bàn về chủ đề xe ô tô tiền chiến.

Giờ ngẫm lại, có lẽ còn một khác biệt thứ ba – Stevens đã pha chế cocktail trứng sữa. Món cocktail rất dễ uống, nhưng cũng nóng bừng với rượu rum và gia vị. Thức uống được phục vụ trong tô pha lê Waterford trông như tác phẩm điêu khắc bằng băng, và rượu với bao nhiêu thì tiếng rì rầm trò chuyện càng sống động bấy nhiêu.

Đưa mắt nhìn về phía góc phòng canh cánh cửa nhỏ dẫn vào phòng bi da, tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy Waterhouse và Norman Stett đang ném thẻ bài bóng chày vào một thứ trông như mũ chóp cao bằng da hải ly thật. Cả hai đang cười rộ.

Mọi người đi tới đi lui, tụm năm tụm ba. Càng lúc càng khuya... và rồi vào cái giờ thông thường, mọi người sẽ túc tắc bước ra cửa chính đi về, tôi thấy Peter Andrews ngồi trước đống lửa, tay cầm một cái túi không nhãn mác, to cỡ phong bì đựng hạt giống. Ông ném nó vào lửa mà không buồn mở ra xem, và giây sau, ngọn lửa bắt đầu bập bùng rực rỡ mọi màu sắc trên quang phổ – và tôi thề còn có cả những màu ngoài quang phổ nữa – trước khi biến thành màu vàng trở lại. Người ta kéo lê ghế xôn xao. Đằng sau vai của Andrews, tôi có thể thấy viên đá đỉnh vòm khắc câu: MẤU CHỐT Ở CÂU CHUYỆN, KHÔNG PHẢI NGƯỜI KỂ CHUYỆN.

Stevens ý tứ đi qua giữa chúng tôi, dọn ly uống cocktail và thay bằng ly uống brandy. Có tiếng lầm rầm “Giáng sinh an lành” và “Kỳ nghỉ viên mãn, Stevens,” và lần đầu tiên, tôi thấy người ta đưa tiền cho ông – chỗ này ý nhị đưa nhau tờ mười đô, chỗ kia là tờ trông như năm mươi đô, ghế bên kia, tôi lại trông thấy tờ một trăm đô.

“Cảm ơn, ông McCarron... ông Johanssen... ông Beagleman...” Tiếng thì thầm khe khẽ, lịch thiệp vang lên.

Tôi đã sống ở New York đủ lâu để biết lễ Giáng sinh là lễ hội tiền bo; chút gửi gắm cho anh bán thịt, cô thợ bánh, ông thợ làm nến – chưa kể người trông cửa, người quản lý tòa nhà, lao công đến vào thứ Ba và thứ Sáu. Cũng biết là cần thiết, nhưng tôi chưa gặp ai thuộc tầng lớp của mình không thấy điều này là phiền hà... nhưng nay, tôi không hề cảm thấy thái độ miễn cưỡng ấy. Mọi người đều sẵn lòng gửi tiền, thậm chí còn rất thiết tha... và bỗng dưng, chẳng vì lý do gì (ở tòa nhà 249B này, suy nghĩ thường bất chợt ùa đến như vậy đấy), tôi nghĩ về cậu bé hỏi Scrooge vào buổi sáng Giáng sinh London lạnh lẽo, tĩnh lặng: “Sao kia? Con ngỗng to bằng cháu được không?” Còn Scrooge khúc khích cười giòn tan: “Một chú bé đến là thông minh! Thật là chú bé ấn tượng” [58E]

Tôi tìm thấy ví của mình. Nhét đằng sau mấy bức hình của Ellen mà tôi giữ trong ví luôn có tờ năm mươi đô la phòng trường hợp khẩn cấp. Khi Stevens đưa tôi ly rượu Brandy, tôi tuồn tờ tiền vào tay ông một cách dứt khoát... dù tôi không phải người giàu có gì.

“Giáng sinh vui vẻ nhé, Stevens,” tôi nói.

“Cảm ơn ông. Chúc ông điều tương tự.”

Ông phục vụ rượu brandy cho quan khách, nhận tiền tri ân và lui về sau. Giữa câu chuyện của Peter Andrews, tôi có liếc quanh một lần và trông thấy ông đứng cạnh cánh cửa đôi, bóng người cao to mập mờ, cứng rắn và lặng im.

“Hiện tại tôi là luật sư, như hầu hết các vị đều biết,” Andrews cất tiếng sau khi nhấm nháp ngụm rượu trong ly, hắng giọng rồi lại uống ngụm nữa. “Tôi mở văn phòng ở đại lộ Công viên trong suốt hai mươi hai năm vừa qua. Nhưng trước đó, tôi là trợ lý luật sư cho một công ty luật hoạt động ở Washington, D.C. Một đêm tháng Bảy, tôi được yêu cầu ở lại tới tối để lập cho xong danh sách dẫn nguồn vụ án trong bản tóm tắt hồ sơ không dính dáng gì đến câu chuyện này. Nhưng rồi một người đàn ông bước vào – khi đó, ông là một trong những thượng nghị sĩ Quốc hội Hoa Kỳ nổi danh nhất, về sau ông suýt nữa trở thành tổng thống. Áo của ông dính đầy máu, hai mắt lồi ra trong hốc mắt.

“Tôi muốn nói chuyện với Joe, ông yêu cầu. Các vị biết đấy, Joe ở đây là Joseph Woods, người đứng đầu của công ty tôi, một trong những luật sư riêng có tầm ảnh hưởng nhất Washington, và là bạn thân của vị thượng nghị sĩ này.

“Ông ấy đi về nhiều tiếng trước rồi, tôi đáp. Xin nói với quý vị, tôi sợ đến thất kinh hồn vía – trống ông ta cứ như người vừa gặp tai nạn xe ô tô khủng khiếp hoặc có thể là vừa đâm chém ở đâu về. Và nhìn thấy gương mặt ông – gương mặt tôi đã nhìn thấy trên báo hoặc trên chương trình Đàm thoại với Báo giới – bê bết máu me, một bên má co giật dưới đôi mắt hoang dại... tất cả càng khiến tôi hãi hùng hơn. “Tôi có thể gọi cho ông ấy nếu ông...” tôi lóng ngóng cầm lấy điện thoại, cuống cuồng muốn chuyển cái trách nhiệm từ trên trời rớt xuống này cho người khác. Nhìn ra sau ông ta, tôi có thể thấy vết chân dính máu dây ra thảm.

“Tôi phải nói chuyện với Joe ngay lập tức, ông lặp lại như thể chưa nghe thấy lời tôi nói. “Trong cốp xe của tôi có một thứ... tôi phát hiện ở Virginia. Tôi đã bắn nó, đâm nó nhưng không tài nào giết được nó. Nó không phải con người, tôi không giết được.

“Ông ta khúc khích cười... rồi cười ha hả... cuối cùng là gào thét. Và ông ta vẫn gào thét cho đến khi tôi nối máy được với ông Woods và yêu cầu ông tới đây, vì Chúa, tới đây nhanh nhất có thể...”

Mục đích của tôi ở đây không phải để thuật lại câu chuyện của Peter Andrews. Hay thẳng thắn mà nói, tôi không chắc tôi dám kể nó ra. Vắn tắt thì câu chuyện này gớm ghiếc tới mức mấy tuần sau đó, tôi nằm mơ thấy nó, và có lần hai vợ chồng đang ăn sáng thì Ellen nhìn tôi từ bên kia bàn, hỏi sao bỗng dưng giữa đêm, tôi lại hết toáng “Đầu hắn! Đầu hắn bị chôn dưới đất mà vẫn nói chuyện kia!”.

“Chắc tôi nằm mơ gì đó,” tôi bảo. “Giấc mơ mà sau đó mình không nhớ nổi nội dung.

Nhưng tôi đưa mắt nhìn xuống tách cà phê ngay lập tức, và tôi nghĩ Ellen biết lúc ấy, tôi nói dối.

Một ngày tháng Tám năm sau đó, đang làm việc trong Thư viện Đọc thì tôi được gọi. Là George Waterhouse. Ông hỏi tôi có lên văn phòng ông được không. Lên đến nơi, tôi trông thấy Robert Carden và Henry Effingham đều có mặt ở đó. Trong khoảnh khắc, tôi còn tưởng tôi sắp bị buộc tội vì hành động ngu xuẩn hay thiếu sót tệ hại nào đó.

Đoạn Carden vòng qua chỗ tôi và nói: “George cho rằng đã đến lúc đưa ông lên vị trí luật sư thành viên cấp dưới, David ạ. Chúng tôi tán thành.”

“Sẽ giống như thể ông là thành viên Thanh Thương Hội già nhất thế giới,” Effingham nhoẻn cười, “nhưng đó là lộ trình ông phải đi qua, David ạ. Nếu may mắn, chúng tôi sẽ đưa ông lên vị trí luật sư thành viên toàn quyền trước Giáng sinh.”

Tối đó, tôi không nằm mơ thấy ác mộng. Ellen và tôi ra ngoài ăn tối, uống hơi quá, ghé vào một phòng trà nhạc jazz mà gần sáu năm nay, chúng tôi không lui tới, lắng nghe người nghệ sĩ da đen mắt xanh tuyệt vời mang tên Dexter Gordon thổi kèn đến gần hai giờ sáng. Sáng hôm sau, chúng tôi thức giấc, bụng sôi ùng ục, đầu ong ong, chưa hoàn toàn tin nổi những sự kiện vừa xảy ra. Một trong số các sự kiện là lương của tôi đã leo lên mốc tám nghìn đô la một năm, trong khi vợ chồng tôi đã thôi kỳ vọng thu nhập của tôi tăng vọt từ trước đó rất lâu.

Mùa thu năm ấy, công ty cử tôi đi công tác ở Copenhagen trong sáu tuần, và khi quay về, tôi được biết John Hanrahan, một vị khách quen ở số 249B đã qua đời vì ung thư. Mọi người quyên góp tiền cho vợ ông, bởi bà bị bỏ lại trong hoàn cảnh khá bi đát. Tôi được giao nhiệm vụ tính tổng số tiền – được quyên góp hoàn toàn bằng tiền mặt – và chuyển nó thành séc thủ quỹ. Số tiền vượt hơn mười nghìn đô la. Tôi trao tờ séc cho Stevens và đoán ông đã gửi thư đi.

Trái đất tròn, Arlene Hanrahan tình cờ là thành viên Hiệp hội Sân khấu cả Ellen, và một thời gian sau, Ellen kể với tôi Arlene nhận được tờ séc vô danh trị giá mười nghìn bốn trăm đô la. Viết trên cuống séc là lời nhắn nhủ ngắn gọn, không rõ nghĩa: Bằng hữu của chồng bà – ông John quá cố.

“Đó chẳng phải điều tuyệt vời nhất trên đời mình từng nghe sao?” Ellen hỏi tôi.

“Không phải,” tôi nói. “nhưng nằm trong tốp mười. Có còn dâu không, bà Ellen?”

Năm tháng trôi qua. Tôi phát hiện một dãy phòng tầng trên ở số 249 – một phòng sáng tác, một phòng ngủ thỉnh thoảng khách ngủ lại (mặc dù sau tiếng va chạm đánh thịch mà tôi nghe thấy – hoặc tưởng tượng mình nghe thấy – cá nhân tôi cho rằng đi thuê khách sạn xịn còn tốt hơn), một phòng tập thể dục nhỏ nhưng trang bị đầy đủ, cùng một bồn tắm hơi. Ngoài ra còn một căn phòng dài và hẹp chạy dọc theo chiều dài của tòa nhà và có hai dãy bowling.

Cũng trong những năm ấy, tôi đọc lại các tác phẩm của Edward Gray Seville và phát hiện một nhà thơ hết sức tuyệt vời – có lẽ là ngang ngửa Ezra Pound và Wallace Stevens – mang tên Norbert Rosen. Theo như thông tin trên bìa gập một trong ba tuyển tập thơ của ông trên giá sách, ông sinh ra vào năm 1924 và mất mạng ở Anzio. Cả ba tuyển tập thơ của ông đều được xuất bản bởi Stedham & Son, New York và Boston.

Tôi nhớ mình đã đến Thư viện Công cộng New York vào một chiều xuân rực rỡ trong khoảng thời gian này (năm bao nhiêu thì tôi không nhớ rõ) và yêu cầu tham khảo ấn phẩm Literary Market Place trong hai mươi năm qua. Ấn phẩm này được xuất bản hằng năm, với kích thước bằng cuốn danh bạ điện thoại của thành phố lớn, vì lẽ này mà tôi cho rằng nhân viên phòng tham khảo khá khó chịu với tôi. Nhưng tôi vẫn kiên trì và nghiên cứu từng cuốn thật cẩn thận. Dù ấn phẩm LMP này nổi tiếng liệt kê mọi nhà xuất bản, bất kể lớn nhỏ ở Hoa Kỳ (ngoài ra còn có đại diện, biên tập và nhân viên câu lạc bộ sách), tôi tìm mà không thấy tên của Stedham & Son. Một năm sau đó – hoặc có lẽ là hai năm sau – tôi tình cờ trò chuyện với một nhà buôn sách cổ, tôi bèn hỏi ông về nhà xuất bản này, song ông cũng bảo chưa nghe thấy bao giờ.

Tôi nghĩ đến chuyện hỏi Stevens, song nhìn thấy lời cảnh báo ánh lên trong mắt ông, tôi gạt thắc mắc ấy đi.

Và năm tháng trôi qua cùng những câu chuyện.

Giai thoại, như từ mà Stevens hay dùng. Giai thoại hài hước, giai thoại tìm thấy và lạc mất tình yêu, giai thoại về điều trăn trở. Phải, có cả vài câu chuyện thời chiến, dù nội dung không phải những gì Ellen tưởng tượng khi bà gợi ý.

Tôi nhớ như in câu chuyện của Gerard Tozeman – kể về một căn cứ hoạt động của Mỹ trúng phải pháo quân Đức bốn tháng trước khi thế chiến thứ hai kết thúc, khiến toàn bộ mọi người có mặt đều mất mạng, ngoại trừ Tozeman.

Lathrop Carruthers, vị tướng Mỹ mà mọi người cho rằng hẳn là điên hết chỗ nói (lão ta chịu trách nhiệm cho mười tám nghìn người thiệt mạng – mạng người rẻ rúng còn hơn bạn hay tôi thả đồng hai mươi lăm xu vào máy hát tự động), đang đứng trên tấm bản đồ ở tuyến đầu khi quả pháo rơi xuống. Lão ta đang trình bày chiến dịch tấn công từ bên sườn rõ điên rồ – giống như các chiến dịch mà Carruthers đã đề ra, chiến dịch chỉ thành công ở duy nhất một khía cạnh: nó sẽ thành công vang dội trong việc tạo ra các góa phụ mới.

Và khi màn bụi tan đi, Gerard Tozeman, choáng váng và điếc đặc, máu chảy ra từ mũi, hai tai, khóe mắt, hai tinh hoàn của ông sưng lên do lực của cơn rung chấn, bước đến chỗ thi thể của Carruthers trong lúc tìm đường ra khỏi lò mổ mới cách đây vào phút còn là tổng cục đầy đủ nhân sự. Ông nhìn thi thể của vị tướng... đoạn bắt đầu hét toáng lên và cười ha hả. Đôi tai bị sang chấn của ông không nghe thấy tiếng hét, nhưng nó giúp cho đội ngũ y sĩ biết có người còn sống trong cảnh hoang tàn ấy.

Carruthers vẫn còn lành lặn sau vụ nổ... chí ít, Tozeman nói, nó không như những gì người lính từ trận chiến xa xưa hình dung về khái niệm không lành lặn – những người đứt lìa cánh tay, cụt chân, chột mắt; những người phổi co quắt lại vì khí độc. Không, ông nói, cái xác không hề bị như thế. Mẹ của lão ta sẽ nhận ra con mình ngay. Nhưng tấm bản đồ… tấm bản đồ ban nãy Carruthers đứng bên trên, cầm que kim loại chỉ trỏ khi pháo ném xuống.

Chẳng biết bằng cách nào mà nó dính sát vào mặt lão ta. Tozeman bất giác nhận ra mình đang chằm chằm nhìn một khuôn nắn theo mặt người chết vằn vện gớm ghiếc. Nào là bờ biển lởm chởm đá của Bretagne trên hàng lông mày xương xẩu của Lathrop Carruthers. Nào là con sông Rhine chảy như vết sẹo màu xanh trên má trái. Nào là những tỉnh trồng nho ủ rượu ngon nhất thế giới nhăn nhúm, rúm ró trên cằm của lão. Nào là vùng Saar bao quanh cổ họng của lão như thòng lọng treo cổ... và in hằn trên nhãn cầu trợn trừng là chữ VERSAILLES.

Đó là câu chuyện Giáng sinh năm 197-.

Tôi còn nhớ rất nhiều câu chuyện, nhưng chúng không có phận sự gì ở đây. Nói cho đúng thì câu chuyện của Tozeman cũng vậy... nhưng đó là “giai thoại Giáng sinh” đầu tiên mà tôi nghe ở số 249B, và tôi không cưỡng được mong muốn kể lại nó. Và rồi vào thứ Năm sau lễ Tạ ơn năm ấy, khi Stevens vỗ tay để kêu gọi sự chú ý của mọi người và hỏi ai có thiện ý kể câu chuyện Giáng sinh cho mọi người, Emlyn McCarron làu bàu: “Tôi nghĩ tôi có một câu chuyện rất đáng để kể. Kể ngay hoặc không bao giờ; chẳng chóng thì chày, Chúa sẽ bắt tôi im mồm mãi mãi.”

Bao năm đến 249B, tôi chưa một lần nghe thấy McCarron kể chuyện. Và có lẽ đó là lý do tại sao tôi gọi taxi sớm đến thế, và tại sao khi Stevens mời sáu người bọn tôi, những kẻ can đảm ra ngoài đường trong buổi đêm lạnh cắt da cắt thịt hun hút gió món cocktail trứng sữa, tôi cảm thấy lòng rộn ràng hào hứng. Mà không chỉ có tôi; tôi thấy sự hào hứng ấy xuất hiện trên mặt của những người còn lại.

McCarron, già nua, khô héo và chai sạn, ngồi trong chiếc ghế to lớn cạnh bếp lửa, đôi tay sần sùi cầm túi bột. Ông ném nó vào lửa, và chúng tôi nhìn ánh lửa bập bùng sặc sỡ trước khi trở lại màu vàng. Stevens phục vụ rượu brandy cho chúng tôi, còn chúng tôi trao cho ông chút tấm lòng dịp Giáng sinh. Trong nghi lễ hằng năm ấy, có lần, tôi từng nghe thấy tiếng xu lẻ leng keng từ tay người gửi qua tay người nhận; dịp khác, tôi đã nhác thấy tờ tiền một nghìn đô la trong ánh lửa bập bùng. Trong cả hai trường hợp, tiếng thì thầm của Stevens đều y như nhau: trầm thấp, lịch thiệp và hoàn toàn đúng mực. Có lẽ trên dưới mười năm đã trôi qua kể từ lần đầu tôi đến 249B với George Waterhouse; mặc dù thế gian bên ngoài đã đổi thay rất nhiều, nơi đây vẫn không hề đổi khác, và tưởng chừng Stevens không già đi dù chỉ một tháng, hoặc thậm chí một ngày.

Ông lùi vào bóng tối, và trong khoảnh khắc, tĩnh lặng vẹn toàn đến mức chúng tôi có thể nghe thấy tiếng nhựa sôi lên, xèo xèo khẽ chảy ra từ những khúc gỗ đang cháy trên lò sưởi. Emlyn McCarron nhìn vào đống lửa, tất cả chúng tôi đưa mắt nhìn theo. Đêm ấy, ngọn lửa mạnh đến lạ thường. Tôi như bị thôi miên trước khung cảnh ngọn lửa – giống như những người thượng cổ tổ tiên chúng ta từng bị thôi miên bởi ngọn lửa, mặc gió lồng lộng rít gào ngoài hang động lạnh lẽo phương Bắc.

Cuối cùng, vẫn nhìn vào lửa, khẽ rướn người tới trước sao cho cẳng tay của ông đặt lên đùi và hai tay đan vào nhau, hững hờ giữa hai đầu gối, McCarron cất tiếng.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 11 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »