Nhà Tù Shawshank

Lượt đọc: 2450 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

Phương pháp Hít thở

Tôi đã gần tám mươi tuổi, có nghĩa là tôi sinh ra khi vừa bước sang thế kỷ mới. Cả đời mình, tôi đã gắn liền với một tòa nhà đứng gần như đối diện với Madison Square Garden; tòa nhà ấy trông như một nhà tù đồ sộ xám xịt – tựa hồ bước ra từ tác phẩm Hai kinh thành — song thực chất nó là bệnh viện, như hầu hết các vị đều biết. Đây chính là Bệnh viện Tưởng niệm Harriet White. Nơi này được đặt theo tên người vợ đầu của bố tôi – Harriet White, bà bắt đầu làm công việc điều dưỡng từ lúc Cánh đồng Cừu trong Công viên Trung tâm vẫn còn cừu thật thong dong gặm cỏ. Bức tượng tạc theo bà vững chãi trên bệ trong khoảng sân trước tòa nhà, và nếu bất cứ ai trong số các vị từng trông thấy nó, các vị có thể tự hỏi làm thế nào mà một người phụ nữ với gương mặt nghiêm nghị và không khoan nhượng như thế lại làm công việc mềm mỏng ấy. Câu khẩu hiệu chạm khắc dưới chân tượng sau khi đã loại bỏ những thứ màu mè hoa mỹ bằng tiếng Latin, lại càng ngột ngạt hơn: Không có dễ chịu nếu không có đớn đau, do đó ta định nghĩa sự cứu rỗi qua lầm than. Nếu các vị quan tâm... hoặc dù không quan tâm chăng nữa, thì đó là câu của Cato!

Tôi được sinh ra trong tòa nhà bằng đá xám xịt ấy vào ngày 20 tháng Ba năm 1900. Năm 1926, tôi trở về đấy làm thực tập. Hai mươi sáu tuổi mới chỉ là tuổi vừa đủ để bắt đầu dấn thân vào thế giới y khoa, nhưng tôi đã trải qua khoảng thời gian thực tập hết sức thực tiễn ở Pháp, vào cuối thế chiến thứ hai, khi cố băng bó bộ ruột bể nát vào trong ổ bụng bị bắn toang hoác, mặc cả mua morphine ở chợ đen, nhiều khi đã bị pha trộn và lắm lúc nguy hiểm.

Thế hệ các bác sĩ sau thế chiến thứ hai như chúng tôi là những kẻ dạn dày sương gió, đã từng trực tiếp phẫu thuật, và hồ sơ các trường y lớn cho thấy rất ít sinh viên bị đào thải trong khoảng thời gian năm 1919 đến năm 1928. Chúng tôi già hơn, kinh nghiệm hơn, vững vàng hơn. Chúng tôi có khôn ngoan hơn không? Tôi không rõ… nhưng hẳn là chúng tôi đa nghi hơn. Chẳng có những điều mùi mẫn mà quý vị đọc trong mấy tiểu thuyết y khoa nổi tiếng như lăn đùng ra ngất hay nôn mửa khi khám nghiệm tử thi lần đầu đâu. Sau trận Belleau Wood thì không, trận chiến nơi những con chuột mẹ nuôi cả ổ chuột con trong bộ lòng mề đã nổ tung của những chiến sĩ bị bỏ mặc cho thối rữa nơi đất khách quê người. Chúng tôi đã bỏ lại tất cả màn nôn mửa và ngất xỉu đằng sau lưng rồi.

Bệnh viện Tưởng niệm Harriet White cũng là thành tố lớn trong một biến cố xảy ra với tôi chín năm sau khi tôi thực tập ở đó – và đây chính là câu chuyện tôi muốn kể cho các vị quan khách vào buổi tối hôm nay. Nghe xong, có lẽ các vị sẽ nghĩ đây không phải giai thoại nên được kể vào dịp Giáng sinh (dù cảnh cuối cùng xảy ra vào đêm trước Giáng sinh), nhưng dù nó hết sức khủng khiếp, nó cũng thể hiện cho tôi thấy sức mạnh kỳ diệu của giống loài với số phận nghiệt ngã, bi đát chúng ta. Từ câu chuyện ấy, tôi thấy sự tuyệt vời của ý chí chúng ta... đồng thời sức mạnh ghê gớm, đen tối.

Thưa các vị, bản thân việc sinh nở là điều khủng khiếp với rất nhiều người; thời nay đang thịnh phong trào các ông bố có mặt lúc con cái mình sinh ra, và mặc dù phong trào này khiến nhiều phái mạnh mang theo cảm giác tội lỗi mà theo tôi họ không đáng phải chịu đựng (nhiều người phụ nữ biết mà xoáy sâu vào cảm giác tội lỗi ấy một cách gần như cay nghiệt), nhìn chung, sinh nở là một việc lành mạnh, tốt cho sức khỏe. Vậy mà tôi đã thấy nhiều người đàn ông rời khỏi phòng sinh mà mặt cắt không còn giọt máu, lảo đảo thiếu điều té ngã, tôi đã thấy nhiều người ngất như bé gái, choáng ngợp trước tiếng thét và máu me. Tôi nhớ có một ông bố đã bình tĩnh phụ giúp ca sinh... nhưng lại hoảng loạn gào thét khi đứa con trai hoàn toàn khỏe mạnh của anh ta chui vào thế giới này. Đôi mắt của đứa trẻ sơ sinh đang mở, tạo cảm giác như thể nó đang nhìn ngắm xung quanh... và rồi đôi mắt ấy dừng lại nơi người bố.

Sinh nở là điều tuyệt vời, thưa các vị, nhưng tôi chưa bao giờ cho rằng nó là điều đẹp đẽ – dù có phóng trí tưởng tượng hết cỡ. Tôi nghĩ nó bạo tàn quá đỗi, không thể xem là đẹp được nữa. Tử cung người phụ nữ cũng giống một cỗ máy. Khi thụ thai, cỗ máy ấy được bật lên. Ban đầu, nó gần như im lìm... nhưng khi chu trình sáng tạo chạm gần cực điểm của việc sinh nở, cỗ máy cứ thế rổ lên thật nhanh, thật mạnh. Tiếng thì thầm khe khẽ của nó biến thành tiếng rầm rì đều đặn, rồi tiếng động chuyển sang ầm ì, cuối cùng là tiếng gào rú đáng sợ. Một khi động cơ ấy được bật lên, mọi người mẹ sắp hạ sinh đều hiểu sinh mạng cô ta đang chịu sự kiểm soát. Hoặc là cô ta để đứa trẻ chào đời, làm cỗ máy tắt đi, hoặc cỗ máy ấy cứ thế nện to hơn, mạnh hơn, nhanh hơn, cho đến khi nó vỡ tung, giết chết cô ta trong máu thịt và đau đớn.

Đây là một câu chuyện về sinh nở, thưa quý vị, vào cái đêm mà hai nghìn năm nay, chúng ta đã kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giê-su.

Tôi bắt đầu hành nghề y vào năm 1929 – một năm tệ hại để khởi sự bất cứ điều gì [59E] . Nhờ ông nội cho mượn một khoản tiền nhỏ, tôi may mắn hơn rất nhiều bạn bè đồng liêu, nhưng tôi vẫn phải giật gấu vá vai suốt bốn năm sau đó.

Đến năm 1935, tình hình mới sáng sủa chút đỉnh. Tôi xây dựng được lượng bệnh nhân ổn định và được Bệnh viện Tưởng niệm White giới thiệu cho một số bệnh nhân ngoại trú. Vào tháng Tư năm ấy, tôi tiếp một bệnh nhân mới, một phụ nữ trẻ mà tôi sẽ gọi là Sandra Stansfield — đây là cái tên gần với tên thật của cô này nhất. Cô là một phụ nữ da trắng trẻ măng, khai tuổi của mình là hai mươi tám. Sau khi khám cho cô, tôi đoán tuổi thật của cô phải trẻ hơn ba đến năm tuổi so với lời cô nói. Cô có mái tóc vàng, mảnh khảnh và cao so với thời ấy – khoảng 1 mét 7. Dung mạo của cô khá xinh xắn, nhưng theo một cách khắc khổ gần như lãnh đạm. Đường nét gương mặt cô rõ ràng và cân đối, đôi mắt tinh anh... miệng cô thể hiện sự kiên quyết như khuôn miệng bằng đá của Harriet White trên bức tượng đối diện Madison Square Garden. Tên cô điền trên phiếu khai không phải Sandra Stansfield mà là Jane Smith. Khám xong, tôi đưa ra kết luận cô đã có thai được hai tháng. Cô không đeo nhẫn cưới.

Sau khi kiểm tra sơ bộ – nhưng trước khi có kết quả khám thai – y tá của tôi, Ella Davidson, nói: “Cô gái hôm qua ấy à? Jane Smith phải không? Cái tên đấy mà không phải giả thì tôi đi đầu xuống đất.”

Tôi đồng tình. Thế nhưng tôi vẫn rất phục cô gái ấy. Cô không thể hiện những hành vi thường thấy như lưỡng lự, băn khoăn, đỏ mặt, bù lu bù loa. Cô ấy thẳng thắn và dứt khoát. Ngay cả cái tên giả của cô cũng phục vụ mục đích tiện lợi chứ không phải vì nhục nhã. Cô chẳng buồn cố gắng bịa cái tên nghe có vẻ thật một chút như “Betty Rucklehouse” hoặc chơi trội bằng cái tên “Ternina DeVille.” Ông yêu cầu tên để điền vào phiếu khai chứ gì, dường như cô nói, vì đó là luật. Vậy thì tên đây; nhưng thay vì tin đạo đức nghề nghiệp của một người tôi không biết thì tôi thà tin bản thân còn hơn. Nếu ông không phiền.

Ella khụt khịt và nói vài lời nhận xét – “mấy cô thời nay” và “xem trời bằng vung” – nhưng bà ấy là người tốt, và tôi không nghĩ bà ấy có ác ý mà chỉ nói chiếu lệ vậy thôi. Bà ấy và tôi đều biết bất kể hoàn cảnh nữ sản phụ kia ra sao, cô không phải dạng gái làng chơi lăng loàn, lang chạ với đủ thành phần. Không; “Jane Smith” chỉ đơn giản là một cô gái trẻ cực kỳ nghiêm túc, quyết tâm cao độ – có lẽ một từ yếu đuối như “chỉ đơn giản” không phù hợp để miêu tả cô ấy. Tình hình của cô không mấy hay ho (không biết các vị còn nhớ không, ngày xưa người ta hay nói “rơi vào chuyện phá quấy” để chỉ khó khăn, giờ có vẻ rất nhiều phụ nữ trẻ dùng công cụ nạo phá để ra khỏi chuyện phá quấy), và cô gái ấy muốn vượt qua chuyện này với tất cả nhân phẩm và tự tôn cô gom góp được.

Một tuần sau buổi hẹn đầu tiên, cô đến tái khám. Đó là một ngày như đào mọng lúc xuân vừa chớm nở. Tiết trời mát mẻ, thiên không mang sắc xanh dịu, làn gió mơn man thoảng thứ mùi ấm áp, khó tả bằng lời, dường như đó là lời nhắn nhủ của mẹ thiên nhiên rằng bà cũng đang bước vào chu kỳ đơm hoa kết trái. Đó là ngày chúng ta ước mình không vướng bận bởi trách nhiệm, ta có thể ngồi đối diện bóng hồng – ở đảo Coney chẳng hạn, hoặc trên Vách Đá Palisades đối diện sông Hudson với giỏ mây cắm trại trên tấm vải ca rô cùng bóng hồng đội mũ rộng vành màu trắng và váy dài không tay xinh xắn như tiết trời hôm ấy.

Bộ váy của “Jane Smith” có tay nhưng vẫn xinh xắn chẳng kém gì tiết trời; một chiếc váy vải lanh trắng phong cách viền nâu. Cô mang giày cao gót nâu, găng tay trắng cùng mũ quả chuông hơi lỗi mốt – đó là dấu hiệu đầu tiên tôi thấy cô không phải người giàu có.

“Cô đang có thai,” tôi nói. “Tôi nghĩ cô cũng không nghi ngờ gì điều này, đúng không?”

Tôi thầm nghĩ nếu nước mắt có rơi thì sẽ rơi bây giờ.

“Không” cô nói, hoàn toàn điềm tĩnh. Lệ hoen trên mi cô cũng hiếm hoi như mây đen nơi chân trời hôm ấy. “Nhìn chung, tôi rất ổn.”

Có một khoảng lặng giữa hai chúng tôi.

“Khi nào tôi dự sinh?” sau đó, cô hỏi với tiếng thở dài gần như vô thanh. Đó là tiếng người đàn ông hoặc đàn bà phát ra trước khi cúi người nâng món đồ nặng.

“Đứa bé sẽ sinh ra vào Giáng sinh,” tôi nói. “Tôi áng ngày 10 tháng Mười hai, nhưng có thể dao động hai tuần trước sau.”

“Được rồi.” Cô thoáng lưỡng lự rồi dứt khoát. “Ông có thể săn sóc cho tôi lúc đó không? Dù tôi không kết hôn?”

“Có,” tôi đáp. “Với một điều kiện.”

Cô chau mày, và trong khoảnh khắc ấy, khuôn mặt cô trông giống y hệt Harriet White. Có lẽ mọi người sẽ nghĩ cái chau mày của một cô gái áng chừng hai mươi ba tuổi chẳng có gì ghê gớm, nhưng đây là ngoại lệ. Cô đã sẵn sàng rời khỏi đây, và dù phải trải qua toàn bộ quá trình nhục nhã này với một bác sĩ khác, cô cũng không nao núng.

“Điều kiện đó là gì” cô lịch sự hỏi, đúng mực, không quá lố.

Bỗng dưng tôi chỉ muốn cụp mắt xuống để tránh đôi mắt màu nâu lục nhạt cương nghị của cô, nhưng tôi vẫn cố không rời mắt. “Tôi nhấn mạnh việc biết tên thật của cô. Chúng ta có thể tiếp tục lo liệu công việc bằng tiền mặt nếu cô muốn, và tôi có thể yêu cầu bà Davidson xuất hóa đơn cho cô bằng cái tên Jane Smith. Nhưng nếu chúng ta sắp sửa đi qua bảy tháng tới cùng nhau, tôi mong muốn có thể gọi cô bằng cái tên được cô sử dụng để trả lời trong các mặt khác của cuộc sống.

Tôi kết thúc bài diễn thuyết ngắn và có phần cứng nhắc, nhìn cô suy tính. Tôi cứ tưởng cô sẽ đứng dậy, cảm ơn tôi đã dành thời gian rồi quay gót bỏ đi. Nếu điều đó xảy ra, tôi sẽ cảm thấy thất vọng lắm. Tôi quý cô gái này. Thậm chí, tôi còn thích cái cách cô thẳng thắn đối diện với vấn đề thông thường sẽ khiến chín mươi trên một trăm phụ nữ trở thành những kẻ nói dối vụng về, không đứng đắn, sợ hãi bởi đồng hồ đang sống trong người mình, nhục nhã vì tình trạng của mình, đến độ đưa ra một kế hoạch lý trí là điều không thể.

Tôi đoán rất nhiều thanh niên ngày nay sẽ thấy tình trạng tinh thần ấy lố bịch, dị hợm, thậm chí khó tin. Người ta mong ngóng thể hiện đầu óc mình cởi mở, họ cho rằng một người phụ nữ không đeo nhẫn cưới nên được quan tâm săn sóc gấp đôi người có đeo nhẫn. Các vị có lẽ còn nhớ một thời lịch sử khác hẳn – các vị có lẽ còn nhớ ngày trước, điều đúng đắn và thói đạo đức giả gộp lại với nhau khiến tình hình khó khăn muôn trùng với một người phụ nữ đang “rơi vào chuyện phá quấy.” Ngày ấy, một người phụ nữ có chồng và đang mang thai là một người phụ nữ rực rỡ, đoan chắc vào vị thế của mình và tự hào hoàn thành những gì cô cho là thiên chức mà Chúa đưa cô hạ phàm để thực hiện. Một người phụ nữ không chồng mà lại mang thai là hạng đàn bà điểm đàng trong mắt người đời và đáng là hạng đàn bà điểm đàng trong mắt của cô ta. Như lời Ella Davidson nói, họ là loại phụ nữ “dễ dãi”, và thế giới ngày ấy, “dễ dãi” không phải điều được người đời tha thứ. Những người phụ nữ ấy phải lén lút sinh con ở thị trấn khác, thành phố khác. Nhiều người uống thuốc hay nhảy lầu. Có người lại đến chỗ những bác sĩ chui với đôi tay dơ bẩn để nạo phá thai hoặc tự tay mình làm điều đó; trong những năm tháng làm bác sĩ, tôi đã chứng kiến bốn người phụ nữ chết vì mất máu trước mắt mình do thủng tử cung – trong một trường hợp, lỗ thủng được gây ra bởi miệng chai Dr Pepper lởm chởm được cột vào cán cây chổi nhỏ. Hiện giờ, chúng ta thấy thật khó tin những chuyện như thế đã xảy ra, nhưng thực tế là vậy đấy, thưa các vị. Thực tế, chúng là vậy đấy. Nói trắng ra, một cô gái trẻ khỏe mà rơi vào trường hợp này thì chẳng khác nào địa ngục trần gian.

“Thôi được,” cuối cùng, cô lên tiếng. “Ông nói có lý. Tên tôi là Sandra Stansfield.” Dứt lời, cô chìa tay ra. Có phần ngạc nhiên, tôi bắt tay cô. Tôi khá mừng là Ella Davidson không thấy cảnh này. Dù có thấy, bà ấy cũng sẽ không nói gì, nhưng cà phê cả tuần sau sẽ đắng ngắt mất.

Cô gái mỉm cười – tôi tưởng tượng mình đã sửng sốt ra mặt – và nhìn tôi cương trực. “Tôi hy vọng chúng ta có thể là bạn, thưa bác sĩ McCarron. Lúc này đây, tôi rất cần một người bạn. Tôi thấy khả sợ hãi.

“Tôi có thể hiểu điều đó, và tôi sẽ cố làm bạn cô trong tầm khả năng, thưa cô Stansfield. Hiện tại, tôi có thể làm gì cho cô không?”

Cô mở túi xách rồi lấy ra tập giấy và cây bút mua ở tiệm đồ giá rẻ. Lật tập giấy ra, cầm sẵn bút, cô ngước nhìn tôi. Trong một khoảnh khắc kinh hoàng, tôi cứ tưởng cô sẽ hỏi tên và địa chỉ của bác sĩ phá thai. Đoạn cô cất tiếng: “Tôi muốn biết tôi ăn gì là tốt nhất. Ý tôi là tốt cho đứa bé”

Tôi phá lên cười giòn. Cô nhìn tôi ngạc nhiên.

“Thứ lỗi cho tôi — chỉ là trông cô cử như đang xử lý công việc vậy.”

“Có lẽ thế,” cô nói. “Chẳng phải đứa trẻ này là một phần công việc của tôi rồi sao, bác sĩ McCarron?”

“Vâng. Tất nhiên là phải. Tôi có một tập tài liệu trao tặng tất cả các sản phụ mình phụ trách. Nội dung bàn về chế độ ăn uống, cân nặng, uống rượu bia, hút thuốc và rất nhiều điều khác. Xin đừng cười khi đọc nó. Cô mà cười là tôi tổn thương lắm đấy, vì tôi đã tự tay soạn nó.”

Thế là tôi đưa cho cô – dù thành thật mà nói, nó giống tập sách mỏng hơn là tập tài liệu, về sau, nó là tư liệu để tôi phát triển thành cuốn sách Hướng dẫn Thực hành về Mang thai và Sinh nở. Từ ngày ấy, tôi đã rất hứng thú với sản khoa và phụ khoa rồi – đến giờ vẫn thế – mặc dù thời xưa, đây không phải ngành để đi chuyên khoa trừ khi anh quen biết rất nhiều tai to mặt lớn trong phố chính. Mà dẫu có biết chăng nữa, cũng mất khoảng mười đến mười lăm năm để xây dựng tên tuổi vững vàng. Phải đến lúc đứng tuổi, tôi mới trưng bảng hiệu hành nghề nên lúc nào tôi cũng tự nhủ mình không được phung phí thời gian. Tôi bằng lòng với việc sẽ được gặp rất nhiều sản phụ mang thai trong niềm hạnh phúc vô bờ bến và giúp họ mẹ tròn con vuông suốt quá trình hành nghề. Và tôi cứ thể chăm chỉ làm việc; lần gần đây nhất, tôi đếm mình đã đỡ đẻ cho hơn hai nghìn đứa trẻ – số lượng đủ ngồi kín năm chục lớp học.

Tôi cập nhật các tài liệu về sản khoa nhiều hơn ở bất cứ mảng đa khoa nào khác. Các đánh giá của tôi rất cứng rắn và nhiệt huyết với ngành nên tôi tự viết sổ tay chứ không phát cho họ những thông tin cũ rích thường được dúi vào tay các bà mẹ trẻ ngày ấy. Tôi sẽ không trình bày toàn bộ những ý kiến lạc hậu ấy — chúng ta sẽ ở đây cả đêm mất — mà chỉ xin nhắc một vài điều.

Ngày trước, các bà mẹ sắp hạ sinh được khuyên phải ngồi yên một chỗ càng nhiều càng tốt, và họ tuyệt đối không nên đi bộ quãng đường dài để phòng ngừa nguy cơ sảy thai hoặc “ảnh hưởng bẩm sinh”. Hiện giờ, chúng ta đều biết sinh con là một công việc hết sức vất vả, và lời khuyên như vậy cũng giống như nói một cầu thủ bóng đá chuẩn bị cho trận đấu quan trọng bằng cách ngồi yên nhiều nhất có thể để không mất sức! Một lời khuyên vàng ngọc khác mà rất nhiều bác sĩ sử dụng là bảo các bà mẹ thừa cân mức trung bình hút thuốc lá... hút thuốc lá! Lý do của việc này được câu khẩu hiệu quảng cáo thời trước trình bày trọn vẹn. “Làm điếu Lucky thay vì ăn đồ ngọt.” Nhiều người tưởng rằng bước qua thế kỷ 20, chúng ta cũng nước vào một kỷ nguyên lý lẽ và ánh sáng y tế, nhưng họ không hề hay biết ngành y lắm lúc mất trí ra sao. Có lẽ như thế cũng đúng; tóc họ sẽ bạc trắng mất.

Tôi đưa cho Stansfield tập tài liệu, cô bèn dồn hết tập trung đọc nó trong năm phút. Tôi xin phép hút tẩu thuốc thì cô lặng thinh gật đầu, chẳng buồn ngẩng lên. Cuối cùng, khi cô ngẩng lên, một nụ cười mỉm xuất hiện trên bờ môi cô. “Ông có phải là người theo chủ nghĩa quá khích không, thưa bác sĩ McCarron?” cô hỏi.

“Tại sao cô lại hỏi thế? Vì tôi khuyên sản phụ nên chịu khó đi lại khi có công chuyện thay vì dùng tàu điện ngầm vừa nồng nặc mùi khỏi vừa xóc sao?”

“Vitamin trước sinh, dù tôi còn chẳng biết chúng là gì... khuyến khích bơi lội... và bài tập hít thở! Bài tập hít thở là gì thế?”

“Bài này về sau mới làm, và không – tôi không phải người theo chủ nghĩa quá khích. Không hề. Tôi là người đang bị lố năm phút giờ khám cho bệnh nhân kế tiếp.”

“Ối! Tôi xin lỗi.” Cô vội vàng đứng dậy, nhét tập tài liệu vào túi.

“Không có gì.”

Cô khoác áo choàng mỏng, nhìn tôi với đôi mắt nâu lục nhạt thẳng thắn. “Không,” cô nói. “Ông không phải người theo chủ nghĩa quá khích. Tôi nghĩ ông khá là... dễ chịu? Đó có phải từ tôi muốn dùng không nhỉ?”

“Tôi hy vọng nó làm cô vừa lòng” tôi nói. “Tôi thích từ ấy. Cô cứ nói chuyện với bà Davidson, bà sẽ cho cô lịch hẹn. Tôi mong sẽ gặp lại cô vào đầu tháng sau.”

“Bà Davidson của ông khá khó chịu với tôi.”

“Ồ, tôi dám chắc không có điều đó đâu.” Nhưng trước giờ, tôi nói dối không giỏi lắm, và không khí nồng ấm giữa hai chúng tôi chợt vụt mất. Tôi không tiễn cô ra đến cửa phòng khám. “Cô Stansfield?”

Cô quay lại nhìn tôi với ánh mắt thắc mắc đầy lãnh đạm.

“Cô có định giữ đứa bé không?”

Cô thoáng cân nhắc rồi mỉm cười – một nụ cười bí hiểm mà tôi chắc chắn chỉ có các sản phụ mới biết. “Ô có chứ,” cô đáp rồi bước ra ngoài.

Tính đến cuối ngày hôm ấy, tôi đã chữa cho cặp song sinh bị ngộ độc thường xuân giống nhau, chích một mụn nhọt, gắp móc kim loại ra khỏi mắt thợ hàn, giới thiệu một trong những bệnh nhân lớn tuổi nhất sang bệnh viện Tưởng niệm White khám vì khả năng cao bị ung thư. Đến lúc ấy, tôi đã quên bằng chuyện của Sandra Stansfield. Ella Davidson nhắc tôi nhớ đến cô khi lên tiếng:

“Có lẽ cô ấy trông vậy mà không phải gái làng chơi.”

Tôi ngẩng đầu từ hồ sơ bệnh nhân vừa khám. Nãy giờ tôi mải nhìn hồ sơ, bụng dấy lên cảm giác chán ghét vô dụng mà đa số các bác sĩ đều có khi họ biết họ đã vắt hết sức lực nhưng vô dụng, thầm nghĩ chắc tôi phải kiếm một con dấu riêng cho các hồ sơ này – có điều thay vì ghi KHOẢN PHẢI THU hoặc ĐÃ THANH TOÁN ĐẦY ĐỦ hoặc ĐÃ CHUYỂN BỆNH NHÂN thì nó chỉ đơn giản ghi là ÁN TỬ. Khéo phải bổ sung thêm hình đầu lâu xương chéo ở trên, giống như nhãn các lọ thuốc độc.

“Sao kia?”

“Cô Jane Smith của ông đấy. Sau buổi khám sáng nay, cô ấy làm một điều vô cùng kỳ quặc.” Đầu và miệng của bà Davidson kết hợp lại cho biết bà có cái nhìn thiện cảm với điều kỳ quặc ấy.

“Điều gì thế?”

“Khi tôi đưa phiếu hẹn, cô ấy bảo tôi cộng tất cả chi phí lại. Tất cả chi phí. Bao gồm cả phí đỡ đẻ và nằm bệnh viện.”

Đúng là kỳ quặc thật. Các vị hãy nhớ bối cảnh là năm 1953, vậy mà cô Stansfield thể hiện mình là một phụ nữ hết sức độc lập. Hay cô ấy là người giàu có, thậm chí rất dư dả là đằng khác? Tôi không nghĩ vậy. Bộ váy, đôi giày và găng tay của cô đều rất thanh lịch, nhưng cô không mang trang sức – ngay cả phụ kiện thời trang cũng không. Chưa kể, chiếc mũ cô đội hết sức lỗi thời.

“Bà có làm vậy không?” tôi hỏi.

Bà Davidson nhìn tôi như thể đầu óc tôi có vấn đề. “Tôi có làm không ấy à? Có chứ sao không! Và cô ấy thanh toán toàn bộ. Bằng tiền mặt.”

Chi tiết cuối cùng rõ ràng khiến bà Davidson ngạc nhiên nhất (tất nhiên là ngạc nhiên một cách cực kỳ dễ chịu) nhưng tôi lại không bất ngờ chút nào. Một điều các cô Jane Smith trên đời này không thể làm là viết séc.

“Cô ấy lôi cuốn sổ ngân hàng từ trong ví, mở ra, đếm đúng số tiền rồi bỏ lên bàn tôi,” bà kể tiếp. “Đoạn cô cất biên lai vào chỗ để tiền mặt ban nãy, bỏ sổ ngân hàng vào ví rồi chào tạm biệt. Tốt quá chứ lị, khi xét tới việc chúng ta đã phải trầy vị tróc vảy mới đòi được những kẻ mang danh đàng hoàng thanh toán hóa đơn!”

Tôi có phần hơi thất vọng. Tôi không vui khi cô Stansfield hành động như thế, khi bà Davidson hài lòng và tự mãn với màn sắp xếp kia, cũng không vui với chính mình, vì lý do nào đó mà cả ngày ấy và bây giờ, tôi vẫn chưa xác định nổi. Nó khiến tôi thấy mình nhỏ mọn.

“Nhưng hiện tại có lẽ cô này chưa thanh toán chi phí nằm viện phải không?” Tôi hỏi – điều này nhỏ nhặt đến nực cười, chẳng đáng để xoáy vào, nhưng ở phút giây ấy, tôi chỉ tìm được mỗi điều đó để thể hiện cơn hờn oán và nỗi bực dọc nhuốm màu lý thủ của tôi. “Suy cho cùng, chúng ta chưa biết cô ấy sẽ ở lại đây bao lâu. Hay bà lại đang xem quả cầu pha lê đấy, Ella?”

“Tôi cũng nói với cô ấy như vậy, cô ấy bèn hỏi trong một ca sinh phức tạp, trung bình người ta nằm viện đây bao lâu. Tôi bảo sáu ngày. Không phải như vậy sao, bác sĩ McCarron?”

Tôi buộc phải công nhận điều bà nói là đúng.

“Cô ấy nói mình sẽ thanh toán cho sáu ngày, rồi nếu sau này nằm viện lâu hơn, cô ấy sẽ trả phần phát sinh, và nếu...”

“... nếu thời gian nằm viện ngắn hơn, chúng ta hoàn lại tiến cho cô ấy,” tôi mệt mỏi nói. Tôi nhủ thầm trong đầu: Cô gái chết tiệt này! — đoạn tôi phá lên cười. Cô ấy có gan lắm. Không ai phủ nhận được điều đó. Gan đủ kiểu.

Bà Davidson cũng nhẹ nhõm nhoẻn cười... và giờ đây, khi tuổi già lẩm cẩm, cứ khi nào tôi liều lĩnh tin rằng mình biết từng đường đi nước bước một người nào đó, tôi lại cố nhớ đến nụ cười ấy. Trước ngày hôm ấy, tôi dám đem cả mạng sống mình ra cá tôi sẽ không bao giờ trông thấy bà Davidson, một trong những người phụ nữ “công dung ngôn hạnh” nhất mà tôi biết, sẽ nở nụ cười trìu mến khi nghĩ đến cô gái đang mang thai ngoài giá thú như thế.

“Gan ấy à? Tôi chịu đấy bác sĩ. Nhưng cô ấy làm chủ chính mình. Đó là điều chắc như đinh đóng cột.”

Một tháng trôi qua, cô Stansfield xuất hiện đúng giờ hẹn, cứ thế bước ra từ dòng người ồ ạt, đông như mắc cửi là New York ngày ấy và cũng chính là New York bây giờ. Cô mặc chiếc váy xanh trông thật mới mẻ, gợi lên cảm giác hết sức đặc biệt, có một không hai, mặc dù rõ ràng là nó được lấy ra từ dãy chục cái mẫu mã y như nhau. Đôi giày cao gót của cô không hợp với chiếc váy; chúng là đôi màu nâu mà tôi thấy cô mang lần trước.

Tôi kiểm tra cho cô hết sức cẩn thận và kết luận tình trạng của cô hoàn toàn bình thường. Nghe tôi nói vậy, cô có vẻ hài lòng lắm. “Tôi đã tìm được vitamin trước sinh rồi, thưa bác sĩ McCarron.”

“Vậy à? Thế thì tốt quá.”

Đôi mắt cô ánh lên tinh ranh. “Dược sĩ lại bảo tôi không nên uống.”

“Chúa cứu tôi khỏi đám lấy chày giã thuốc” tôi nói, cô đưa lòng bàn tay lên miệng, khúc khích cười – cử chỉ ấy tựa trẻ con, vô tư không chút vẩn đục. “Tôi chưa gặp dược sĩ nào không phải một tay bác sĩ vỡ mộng. Và ủng hộ chủ nghĩa cộng hoà. Vitamin trước sinh còn mới nên chúng bị nghi ngờ thôi. Thể cô có làm theo lời khuyên của ông ấy không?”

“Không, tôi làm theo lời ông. Ông mới là bác sĩ của tôi.”

“Cảm ơn cô.”

“Có gì đâu mà.” Cô nhìn thẳng vào tôi, nụ cười đã tắt. “Bác sĩ McCarron này, khi nào bụng tôi mới lộ ra nhỉ?”

“Tôi áng chắc phải đến tháng Tám. Hoặc tháng Chín, nếu cô lựa chọn trang phục... ừm, rộng rãi.”

“Cảm ơn bác sĩ.” Cô cầm lấy túi xách nhưng không đứng lên ngay. Tôi thầm nhủ cô muốn nói chuyện... nhưng không biết nên bắt đầu từ đâu hay mở lời thế nào.

“Tôi đoán cô là người đi làm phải không?”

Cô gật đầu. “Vâng. Tôi đi làm.”

“Tôi có thể hỏi cô làm ở đâu không? Nếu cô không muốn tôi...”

Cô cất tiếng cười – nụ cười khô khốc, chẳng có gì hài hước, khác một trời một vực với nụ cười chân thật. “Tôi làm trong trung tâm thương mại. Chứ một người phụ nữ chưa chồng còn làm việc ở đâu trong thành phố nữa? Tôi bán nước hoa cho những quý bà mập phì dùng dầu xả cho tóc rồi ra tiệm uốn tóc thành sóng ngón tay.”

“Cô sẽ làm việc bao lâu nữa?”

“Cho đến khi tình thế nhạy cảm của tôi bị phát hiện. Tôi đoán họ sẽ yêu cầu tôi nghỉ việc để tôi không khiến những bà khách mập phệ ấy phật lòng. Bị một phụ nữ có thai mà lại không đeo nhẫn cưới phục vụ, khéo có khi mấy bà ấy sốc đến thẳng tóc ấy chứ.”

Bất thình lình, mắt cô rớm lệ. Môi cô bắt đầu run lên, tôi vội lấy khăn mùi xoa. Nhưng nước mắt không lã chã rơi, dù chỉ một giọt. Nước mắt cô lưng tròng trong một khắc, rồi cô chớp lia lịa. Môi cô mím chặt... đoạn giãn ra. Cô quyết không để mất kiểm soát cảm xúc của mình... và cô đã thành công. Diễn biến tâm trạng ấy quả là đáng nể.

“Tôi xin lỗi,” cô nói. “Bác sĩ đối xử với tôi tốt quá. Tôi sẽ không đáp lại tấm lòng của ông bằng một câu chuyện hết sức bình thường đâu.”

Cô đứng dậy, tôi đứng dậy theo.

“Tôi không phải người lắng nghe kém,” tôi nói, “và tôi có thời gian. Bệnh nhân tiếp theo của tôi hủy hẹn rồi.”

“Thôi ạ,” cô nói. “Cảm ơn ông, nhưng thôi.”

“Được rồi,” tôi đáp. “Nhưng có một điều nữa.”

“Vâng?”

“Tôi không làm việc theo chính sách để bệnh nhân của mình – bất kể là ai – chi trả cho dịch vụ trước khi hưởng trọn dịch vụ ấy. Tôi hy vọng nếu cô.... nói sao nhỉ, nếu cô cảm thấy muốn... hoặc phải...” tôi lúng búng nói được nửa câu thì im lặng.

“Tôi đã ở New York được bốn năm, thưa bác sĩ McCarron, và tính tôi vốn tiết kiệm. Sau tháng Tám – hoặc tháng Chín – tôi sẽ phải xoay xở trên khoản tiền tiết kiệm của mình cho đến khi có thể đi làm trở lại. Số tiền ấy không nhiều, và thỉnh thoảng, khi đêm về, tôi thấy sợ hãi.”

Cô nhìn tôi cương nghị với đôi mắt nâu lục nhạt tuyệt mỹ.

“Tôi thấy tốt hơn — an toàn hơn – khi trả cho đứa bé trước. Trước tất cả mọi thứ. Vì đó là vị trí của trong suy nghĩ của tôi, và vì, về sau, ham muốn sử dụng số tiền ấy có thể trở nên quá lớn.”

“Được rồi,” tôi nói. “Nhưng xin hãy nhớ rằng tôi xem khoản tiền này là trả trước chứ chưa tính toán sổ sách. Nếu cô cần thì cứ nói.”

“Và để con rồng trong người bà Davidson thét ra lửa ấy à?” Anh tinh nghịch đã xuất hiện trở lại trong mắt cô. “Tôi không nghĩ vậy đâu. Và giờ, bác sĩ...”

“Cô định làm việc lâu nhất có thể luôn à? Cổ đến mức tối đa sao?”

“Vâng, tôi buộc phải làm vậy. Sao thế?”

“Tôi nghĩ tôi sẽ phải hù cô chút đỉnh trước khi cô đi,” tôi nói.

Mắt cô mở to ra một chút. “Đừng làm vậy,” cô nói. “Tôi đã đủ sợ rồi.”

“Đó chính xác là lý do tại sao tôi phải trình bày. Cô ngồi xuống đi, cô Stansfield.” Thấy cô cử tần ngần đứng đó, tôi bèn nói thêm: “Xin cô.”

Cô lưỡng lự ngồi xuống.

“Cô đang ở trong một tình thể tiến thoái lưỡng nan và hết sức khó xử,” tôi nói từ góc bàn làm việc của mình. “Cô hành xử với tình thế ấy khéo léo đến đáng kinh ngạc.”

Cô toan cất tiếng nhưng tôi khoát tay ra hiệu cho cô im lặng.

“Như thế rất tốt. Tôi rất tôn trọng cô vì điều đó. Nhưng tôi không muốn chứng kiến cô làm tổn thương đến đứa bé trong bụng vì bất cứ nỗi lo nào về tình trạng tài chính. Tôi có một nữ bệnh nhân dù tôi đã khuyên bảo hết lời nhưng cứng đầu quấn đai quanh bụng hết tháng này sang tháng khác, cái thai càng lớn thì lại quấn càng chặt. Cô ta là một phụ nữ khó chịu, ngu xuẩn hết thuốc chữa, và tôi đồ rằng suy cho cùng, thật lòng cô ta chẳng muốn đứa trẻ cho lắm. Tôi không tán thành những lý thuyết về tiềm thức mà ngày nay, người ta hay đem ra bàn luận lúc chơi mạt chược, nhưng trong trường hợp tán thành, tôi sẽ nói cô bệnh nhân ấy – hoặc phần nào đó trong cô ta – đang tìm cách giết chết đứa trẻ”

“Vậy cô ta có giết chết con mình không?”

“Không, không hề. Nhưng đứa trẻ sinh ra bị thiểu năng. Rất có thể ngay từ đầu đứa trẻ đã bị thiểu năng rồi, tôi không nói khác đi được – chúng ta biết rất ít ỏi về nguyên nhân gây ra tình trạng ấy. Song rất có thể cô ta là người đã gây ra nó.”

“Tôi hiểu ý ông rồi,” cô trầm giọng đáp. “Ông không muốn tôi... quấn để giấu bụng cố làm việc thêm một tháng hay sáu tuần. Tôi thừa nhận suy nghĩ ấy đã vụt qua trong đầu tôi. Nên... cảm ơn ông đã hù dọa tôi.”

Lần này tôi đưa cô ra cửa. Tôi những muốn hỏi cô liệu cô còn nhiều – hay còn ít – tiền tiết kiệm, và cô còn cách bờ vực bao xa. Đó là câu hỏi cô sẽ không trả lời; bản thân tôi thừa biết điều đó. Nên tôi chỉ chào tạm biệt và bông đùa một chút về vitamin. Cô ra về. Và suốt cả tháng sau đó, vào những khoảnh khắc quái lạ, tôi lại bất giác nghĩ về cô ấy, rồi...

Đến đây, Johanssen cắt ngang câu chuyện của McCarron. Họ là bạn cũ, thành thử tôi đoán điều đó cho ông cái quyền thắc mắc câu hỏi đã xuất hiện trong đầu tất cả chúng tôi.

“Ông yêu cô này à, Emlyn. Nội dung câu chuyện có phải là thể không, nào là đôi mắt, nụ cười của cô ấy, nào là ông nghĩ về ấy vào những khoảnh khắc quái lạ?”

Tôi cứ tưởng McCarron sẽ lấy làm khó chịu khi bị chen ngang, nhưng không. “Ông có quyền hỏi câu đấy,” ông nói, đoạn ngừng lại, nhìn vào ngọn lửa. Tưởng chừng ông suýt nữa đã ngủ thiếp đi. Đoạn một mắt gỗ khô lách tách cháy bùng lên, khiến tia lửa bập bùng cuộn xoáy bay lên ống khói, McCarron nhìn quanh, đầu tiên ông nhìn Johanssen, đoạn nhìn chúng tôi.

“Không, tôi không yêu cô ấy. Những điều tôi vừa nói về cô nghe giống những điều một người đàn ông đang rơi vào lưới tình sẽ để ý – nào mắt, nào váy, nào nụ cười.” Ông châm tẩu thuốc bằng hộp quẹt đặc biệt dành cho tẩu mà ông mang thủ bên mình, để lửa bén cho đến khi có lớp than ở đầu tẩu. Đoạn ông gạt đóng bật lửa, thả nó vào túi áo khoác, phà ra làn khói thuốc chầm chậm bảng lảng trên đầu tựa lớp màng thoảng hương thơm.

“Tôi ngưỡng mộ cô ấy. Chỉ có thể mà thôi. Và lòng ngưỡng mộ ấy lớn dần theo mỗi lần cô đến khám. Tôi đoán có lẽ một số vị sẽ cảm thấy đây là câu chuyện tình yêu do hoàn cảnh đưa đẩy. Điều này hoàn toàn sai lầm. Cô ấy kể cho tôi nghe hoàn cảnh của mình chừng nửa năm sau đó, và khi nghe xong, tôi cho rằng các vị sẽ đồng ý câu chuyện ấy hết sức bình thường như lời cô ấy đã nói. Cô khăn gói lên chốn phồn hoa đô hội như hàng nghìn cô gái khác; xuất thân của cô là một thị trấn nhỏ...

... ở Iowa hay Nebraska. Hoặc có thể là Minnesota cũng nên – giờ tôi chẳng nhớ rõ nữa rồi. Thời trung học, cô tham gia đóng kịch ở trường và hoạt động sân khấu trong thị trấn nhỏ của mình – cô nhận được lời khen ngợi trong tuần san địa phương, tác giả là một nhà phê bình kịch nghệ có bằng tiếng Anh từ trường cao đẳng Bò và Thức ăn Gia súc – thế rồi cô lên New York để thử theo đuổi nghiệp diễn xuất.

Cô đối diện với việc này một cách thực tế – thực tế trong chừng mực một tham vọng phi thực tế cho phép. Cô kể với tôi cô đến New York vì cô không tin vào ý kiến bất thành văn của tạp chí điện ảnh – rằng bất cứ cô gái nào đến Hollywood cũng có thể trở thành ngôi sao, rằng hôm nay, cô có thể nhấm nháp soda ở Tiệm thuốc Schwab’s, sang ngày mai, cô có thể diễn trước mặt tài tử Gable hay MacMurray. Cô nói cô đến New York vì cô nghĩ rằng ở đó, cô dễ lách một chân vào cánh cửa hơn... và tôi nghĩ, vì lĩnh vực sân khấu chính thống thu hút cô hơn phim nói.

Cô kiếm được việc bán nước hoa trong một trung tâm thương mại lớn và theo học các lớp diễn xuất. Cô thông minh và nung nấu quyết tâm cao độ – ý chí của cô tựa sắt thép, không gì xoay chuyển nổi – nhưng suy cho cùng, cô cũng là con người với hỉ nộ ái lạc. Cô cũng biết cô đơn. Cô đơn theo cách có lẽ chỉ những cô gái trẻ lẻ bóng mới chân ướt chân ráo từ thị trấn nhỏ vùng Trung Tây mới hiểu. Nhớ nhà không phải cảm xúc lúc nào cũng đẹp đẽ, hoài niệm và mơ hồ, dù bằng cách nào đó, chúng ta hay hình dung về nó như vậy. Nỗi nhớ nhà có thể tựa lưỡi dao bén ngót, không chỉ quay quắt nơi lồng ngực mà khiến ta quặn thắt trong lòng. Nó thực sự có thể thay đổi cách ta nhìn nhận thế giới; những khuôn mặt ta thấy trên đường không chỉ dửng dưng mà còn xấu xí... thậm chí hiểm ác. Nhớ nhà là một nỗi đau, nỗi đau của cái cây bị nhổ bật rễ.

Cô Stansfield, dù đáng ngưỡng mộ là thế, dù quyết tâm là thế, cũng không miễn nhiễm với cảm giác ấy. Và chuyện gì đến cũng phải đến, chẳng cần tôi kể ra. Có một chàng trai trẻ trong lớp diễn xuất. Hai người bọn họ hẹn hò vài lần. Cô không yêu anh ta, nhưng cô cần một người bạn. Đến lúc cô nhận ra anh vĩnh viễn không phải người như thế, đã xảy ra hai rắc rối xảy ra. Rắc rối về tình dục. Cô phát hiện mình có thai. Cô nói với chàng trai, anh ta bảo sẽ ở bên cô và “hành xử đáng mặt đàn ông” Một tuần sau, anh ta đã biến mất khỏi phòng trọ, không để lại địa chỉ gì. Đó là lúc cô đến chỗ tôi.

Vào tháng thứ tư, tôi giới thiệu cô Stansfield Phương pháp Hát thở – ngày nay nó được gọi là Phương pháp Lamaze. Các vị có lẽ hiểu, vào thời đấy, chưa ai biết đến tiếng tăm bác sĩ Lamaze.

“Vào thời đấy” – tôi để ý cụm từ này xuất hiện hết lần này đến lần khác. Tôi rất xin lỗi vì điều này nhưng tôi không dùng không được – một phần rất lớn những điều tôi vừa kể và sắp sửa kể cho các vị thành ra như vậy là vì nó xảy ra “vào thời đấy.”

Vậy nên... “vào thời đấy,” tức bốn mươi lăm năm trước, đến phòng đỡ đẻ trong bất cứ bệnh viện lớn nào ở Mỹ chẳng khác nào đến nhà thương điên. Sản phụ khóc lóc như điên như dại, sản phụ gào thét ước gì họ chết đi cho rồi, sản phụ la hét mình không thể chịu nổi đau đớn này, sản phụ gào xin Chúa tha thứ cho lỗi lầm của họ, sản phụ tuôn ra một tràng chửi bậy và những từ tục tĩu mà các đức ông chồng và bố ruột không hề nghĩ họ biết. Tất cả những điều này được mọi người chấp nhận, mặc dù đa phần các phụ nữ khác trên thế giới sinh nở trong im lặng, chỉ có vài tiếng rên gồng làm ta liên tưởng đến những công việc nặng nhọc.

Rất tiếc nhưng phải nói rằng bác sĩ chính là người phải chịu trách nhiệm một phần cho sự hoảng loạn ấy. Những câu chuyện mà sản phụ nghe từ bạn bè và họ hàng từng vượt cạn cũng góp phần. Tin tôi đi: khi các vị nghe người khác bảo trải nghiệm ấy sẽ đau đớn thì nó sẽ đau đớn thật. Đa phần đau đớn nằm ở tâm trí, và khi một sản phụ đã ăn sâu vào đầu tư tưởng sinh nở là hành động đau đớn đến cùng cực – khi cô ấy nghe thông tin này từ mẹ, chị gái, những người bạn đã kết hôn, rồi cả bác sĩ – sản phụ ấy đã chuẩn bị tinh thần để chịu đau đớn cùng cực.

Dù chỉ mới sáu năm hành nghề, tôi đã quen với việc thấy các sản phụ tìm cách xử trí với tình thế lưỡng nan: thứ nhất, họ có thai và phải lên kế hoạch lâm bồn, nhưng còn một điều nữa – điều mà đa phần bọn họ cứ đinh ninh là sự thật – rằng họ đã bước chân vào trũng bóng chết . Nhiều người còn cố sắp xếp chuyện cá nhân để nếu họ có qua đời, chồng của họ sẽ đủ sức gà trống nuôi con.

Giờ không phải thời điểm và nơi chốn thích hợp để làm một bài giảng về sản khoa, nhưng các vị nên biết suốt quãng thời gian dài trước “thời đấy,” việc sinh nở từng là việc vô cùng nguy hiểm ở các nước phương Tây. Cuộc cách mạng trong quy trình y khoa bắt đầu vào khoảng năm 1900 đã giúp hành trình vượt cạn an toàn hơn rất nhiều, nhưng chỉ có rất ít bác sĩ trình bày điều này cho các sản phụ. Có Chúa mới biết lý do tại sao. Xét tới yếu tố này, có gì ngạc nhiên khi hầu hết các phòng sinh nở đều giống như Khu Số Chín của bệnh viện tâm thần Bellevue? Khi thời khắc đó đến, những người phụ nữ khốn khổ ấy phải trải qua quá trình mà họ chỉ được giải thích hết sức sơ sài vì xã hội ngày ấy câu nệ đầy cổ hủ; những người phụ nữ phải chịu đựng động cơ sinh đẻ của mình chạy hết công suất. Họ choáng ngợp bởi sự ngạc nhiên và kỳ thú, song họ lại ngay lập tức lý giải nó là nỗi đau không vượt qua nổi, và đa phần họ còn tưởng mình sắp sửa chết trong thống khổ.

Trong quá trình nghiên cứu tài liệu về chủ đề mang thai, tôi phát hiện nguyên lý sinh nở im lặng và Phương pháp Hít thở. La hét chỉ tổ tiêu tốn phần năng lượng đáng lý nên được dùng để đẩy đứa trẻ ra, nó khiến sản phụ thở quá nhanh, mà thở quá nhanh khiến cơ thể rơi vào trạng thái khẩn cấp – tuyến thượng thận chạy hết cỡ, nhịp hô hấp và mạch tăng cao – trong khi hoàn toàn không cần thiết. Phương pháp Hít thở vốn có mục đích giúp người mẹ tập trung chú ý vào nhiệm vụ hiện tại và đương đầu với cơn đau bằng cách sử dụng các nguồn lực vốn có của cơ thể.

Thời điểm đó, phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Châu Phi; ở Mỹ, người da đỏ Shoshone, Kiowa và Micmac đều sử dụng nó; người Eskimo xưa nay luôn sử dụng; nhưng, như các vị có thể đoán ra, đa phần bác sĩ phương Tây không quan tâm đến phương pháp ấy. Một đồng nghiệp của tôi — một bác sĩ hết sức thông minh – đã trả bản tài liệu thai sản đánh máy cho tôi vào mùa xuân năm 1931 với dòng gạch đỏ chạy hết phần Phương pháp Hít thở. Ngoài lễ, ông nguệch ngoạc ghi nếu muốn biết thêm về “mê tín dị đoan của bọn mọi đen” thì ông sẽ ghét vào quầy báo và mua ấn phẩm Chuyện kỳ dị !

Chà, tôi không bỏ phần này ra khỏi tập tài liệu như ông đề nghị, nhưng tôi thu được kết quả khá lẫn lộn từ phương pháp này – nói cho công minh là thế. Có những sản phụ đã dùng nó hết sức thành công. Có những sản phụ tưởng chừng nắm bắt rất tốt nguyên lý của phương pháp nhưng lại hoàn toàn mất kỷ luật ngay khi tình trạng co bóp dạ con mạnh mẽ và nặng nề hơn. Đa phần các trường hợp, tôi thấy toàn bộ ý tưởng bị xuyên tạc và bóp méo bởi những người bạn và họ hàng tuy có ý tốt nhưng chưa bao giờ nghe qua phương pháp nên không thể nào tin rằng nó thật sự có hiệu quả.

Phương pháp này dựa trên ý tưởng tất cả các quá trình sinh nở nhìn chung tương đối giống nhau, dù nếu xét từng chi tiết thì mỗi ca sinh lại mỗi khác. Có bốn giai đoạn: chuyển dạ co thắt, giữa chuyển dạ, sinh con và sổ nhau thai. Các cơn co thắt xảy ra khi cơ vùng bụng và vùng chậu co cứng hẳn lại, sản phụ thường trải qua giai đoạn này bắt đầu từ tháng thứ sáu. Rất nhiều phụ nữ mang thai lần đầu gặp tình trạng khá khủng khiếp, ví dụ như quặn thắt ruột, nhưng tôi nghe nói nó sạch sẽ hơn nhiều – một cảm giác vật lý rất mạnh, có thể chuyển thành cơn đau giống chuột rút. Nếu sử dụng Phương pháp Hít thở, sản phụ sẽ hít vào thành chuỗi ngắn, có tính toán rồi thở ra khi cô ta cảm thấy cơn co thắt sắp xuất hiện. Mỗi lần thở sẽ phà ra đánh phù, như thể ta đang thổi kèn theo phong cách của Dizzy Gillespie.

Trong giai đoạn giữa chuyển dạ, các cơn co thắt đau đớn hơn cứ mười lăm phút lại xuất hiện một lần, sản phụ chuyển sang hít vào những hơi dài sau đó thở ra những hơi dài – giống cách vận động viên chạy marathon thở khi vào chặng cuối. Cơn co thắt càng mạnh thì nhịp hít vào – thở ra càng dài. Trong tập tài liệu của mình, tôi gọi quá trình này là “lướt sóng”

Giai đoạn cuối cùng mà chúng ta cần quan tâm ở đây được tôi gọi với cái tên “đầu máy xe lửa” và ngày nay, các bác sĩ hướng dẫn phương pháp Lamaze thỉnh thoảng lại gọi nó là giai đoạn hít thở “tu tu xình xịch”. Giai đoạn chuyển dạ cuối cùng thường đi kèm những cơn đau thường được mô tả là sâu và đờ đẫn. Xuất hiện cùng chúng là thôi thúc không tài nào cưỡng nổi về phía người mẹ để đẩy đứa trẻ ra ngoài. Thưa các vị, đây chính là điểm mà cỗ máy vừa tuyệt vời vừa đáng sợ kia đạt đến đỉnh cao. Cổ tử cung giãn nở hết mức. Đứa trẻ bắt đầu hành trình di chuyển xuống đường sinh, và nếu các vị có dịp nhìn trực diện vào giữa hai chân người mẹ, các vị sẽ thấy thóp trên đầu đứa trẻ chỉ cách bên ngoài vài xen ti mét. Sản phụ sử dụng Phương pháp Hít thở lúc này sẽ bắt đầu hít vào và thở ra thành những nhịp ngắn và nhanh giữa hai môi, không thở đầy phổi, không thở nhanh, nhưng có thể nói đây là thở hổn hển một cách có kiểm soát. Nó giống tiếng trẻ con tạo ra khi bắt chước đầu máy xe lửa hơi nước.

Tất cả các hành động này tác động tốt lên cơ thể – lượng ô xi của người mẹ được giữ ở mức cao mà không đẩy cơ thể vào trạng thái khẩn cấp, bản thân người mẹ vẫn ý thức và nhanh nhạy, có thể hỏi và trả lời câu hỏi, có thể làm theo hướng dẫn. Nhưng tất nhiên, chính kết quả về mặt tinh thần của Phương pháp Hít thở còn quan trọng hơn. Người mẹ cảm thấy mình đang chủ động tham gia vào việc sinh ra đứa trẻ – rằng phần nào, cô đang dẫn dắt quá trình ấy. Cô thấy mình nắm quyền kiểm soát trải nghiệm... và kiểm soát đau đớn.

Các vị có thể hiểu toàn bộ quy trình này hoàn toàn phụ thuộc vào trạng thái tâm lý của sản phụ. Phương pháp Hít thở hết sức yếu thế, hết sức mỏng manh, và nếu tôi chứng kiến nhiều thất bại khi sử dụng phương pháp này thì tôi sẽ giải thích chúng như sau – sản phụ có thể được bác sĩ thuyết phục, nhưng rồi cô ta sẽ xuôi theo họ hàng mình, những người giơ tay lên kinh hoàng khi nghe đến phương pháp ngoại đạo như thế.

Nhìn từ góc độ này, chí ít cô Stansfield là sản phụ lý tưởng. Cô không có bạn bè hay người thân bàn ra tán vào để cô nghi ngờ Phương pháp Hít thở (dù thẳng thắn mà nói, tôi xin bổ sung tôi đồ rằng chẳng ai có thể lung lạc bất cứ điều gì một khi cô đã ra quyết định) sau khi cô đã đặt niềm tin vào nó. Và quả thật, cô tin tưởng phương pháp này.

“Nó hơi giống tự kỷ ám thị phải không?” cô hỏi tôi vào lần đầu tiên chúng tôi thảo luận về phương pháp.

Tôi đồng tình đầy hứng thú. “Chính xác! Nhưng cô không được để điều đó khiến cô nghĩ rằng đây chỉ là mẹo vặt hoặc nghĩ nó sẽ làm cô thất vọng khi mọi chuyện khó khăn.”

“Tôi không hề nghĩ như thế. Tôi rất biết ơn ông. Tôi sẽ luyện tập chăm chỉ, thưa bác sĩ McCarron.” Phương pháp Hít thở được sáng tạo vì típ sản phụ như cô ấy, và khi bảo với tôi cô sẽ luyện tập, cô đã làm đúng như thế. Tôi chưa từng thấy ai đón nhận một ý tưởng với lòng nhiệt thành đến vậy... nhưng tất nhiên, Phương pháp Hít thở lại đặc biệt thích hợp với tính cách của cô. Trên đời này có hàng triệu đàn ông và phụ nữ dễ bị sai khiến, dù rằng rất nhiều người như vậy là người tốt. Tuy nhiên, lại có những người quyết tâm làm chủ tay lái đời mình, và cô Stansfield là một trong số đó.

Tôi không hề nói quá khi bảo cô hoàn toàn tiếp nhận Phương pháp Hít thở... và tôi nghĩ câu chuyện vào ngày cuối cùng cô làm việc ở trung tâm thương mại nơi cô bán nước hoa và mỹ phẩm là minh chứng cho luận điểm ấy.

Cái ngày cô ngừng công việc cuối cùng cũng đến vào tháng cuối tháng Tám. Cô Stansfield là một phụ nữ trẻ thanh mảnh trong tình trạng sức khỏe bình thường, và tất nhiên, đây là đứa con đầu lòng của cô. Các bác sĩ sẽ bảo với quý vị một phụ nữ như thế sẽ không “lộ” sau năm hay sáu tháng mang thai... và rồi, một ngày nọ, bỗng dưng mọi thứ lộ ra hết.

Cô đến để kiểm tra định kỳ tháng vào ngày đầu tháng Chín, cất tiếng cười u hoài rồi kể với tôi cô phát hiện Phương pháp Hít thở còn công dụng khác nữa.

“Là gì thế?” tôi hỏi.

“Nó ăn đứt việc đếm đến mười khi ta đang nổi điên với người khác,” cô nói. Đôi mắt nâu lục nhạt rưng rưng. “Dù người khác nhìn ta như thể ta là kẻ tâm thần khi ta bắt đầu thổi phù phù phà phà.

Cô kể với tôi đầu đuôi câu chuyện. Thứ Hai tuần trước, cô đi làm như bình thường, và tất cả những gì tôi có thể nghĩ là sự chuyển tiếp đột ngột, đầy kỳ thủ từ một phụ nữ trẻ mảnh mai sang một phụ nữ trẻ rõ ràng đang có bầu – và sự chuyển tiếp ấy thật sự có thể bất thình lình như ngày sang đêm ở vùng nhiệt đới – đã xảy ra vào cuối tuần. Hoặc có thể quản lý của cô ấy đã chốt hạ rằng nghi ngờ của bà ta không phải chỉ là nghi ngờ nữa.

“Tôi muốn gặp cô trong văn phòng vào giờ nghỉ,” người phụ nữ này, một bà mang tên Kelly nào đấy, đã lạnh lùng nói. Trước đó, bà ta khá thân thiện với cô Stansfield. Bà đã khoe cho cô xem bức hình chụp hai đứa con học trung học, rồi có lần, cả hai còn trao đổi công thức nấu ăn với nhau. Bà Kelly lúc nào cũng hỏi cô có gặp “anh chàng nào tốt” hay chưa. Nhưng lòng tốt và sự thân thiện ấy đã biến mất. Và cô Stansfield kể với tôi, khi bước vào văn phòng của bà Kelly vào giờ nghỉ, cô biết điều gì sẽ xảy ra.

“Cô gặp rắc rối rồi,” người phụ nữ trước đó rất tốt bụng cộc lốc nói.

“Vâng” cô Stansfield đáp. “Nhiều người gọi chuyện đó như vậy.”

Má của bà Kelly chuyển sang màu gạch cũ. “Đừng có tỏ ra khôn lỏi với tôi, cô gái trẻ,” bà nói. “Nhìn bụng của cô, tôi thấy cô đã khôn lỏi gấp nhiều lần thiên hạ rồi đấy.”

Vừa nghe cô kể chuyện, tôi vừa có thể hình dung cảnh hai người bọn họ – cô Stansfield, đôi mắt nâu lục nhạt trực diện nhìn chăm chăm vào bà Kelly, hoàn toàn bình thản, nhất quyết không quay đi, hay khóc lóc, hay thể hiện sự nhục nhã theo bất cứ cách nào. Tôi cho rằng cô có quan điểm về vấn đề cô đang mắc phải thực tế hơn nhiều so với bà quản lý có hai đứa con đã lớn tướng và đức ông chồng đáng kính chủ tiệm cắt tóc bỏ phiếu cho đảng Cộng hòa.

“Tôi phải nói cô chẳng có vẻ gì là xấu hổ về cách cô lừa dối tôi!” Bà Kelly tức tối thốt lên.

“Tôi chưa bao giờ lừa dối bà. Tôi chưa từng nhắc gì đến chuyện tôi có thai cho đến ngày hôm nay.” Cô nhìn bà Kelly đầy tò mò. “Sao bà có thể nói tôi lừa dối bà?”

“Tôi đã đưa cô về nhà!” Bà Kelly rít lên. “Tôi mời cô ăn tối... với các con trai của tôi.” Bà nhìn cô Stansfield đầy căm ghét.

Đến lúc này, máu nóng trong người cô Stansfield bắt đầu bốc lên. Cô kể với tôi cả đời mình, cô chưa bao giờ cảm thấy tức giận đến thế. Cô không hề hay biết mình sẽ phải đối mặt với phản ứng ra sao khi bí mật bại lộ, nhưng giống như bất cứ quý vị nào ở đây đều có thể chứng thực, khác biệt giữa lý thuyết hàn lâm và ứng dụng thực tế đôi lúc lớn đến choáng váng.

Nắm chặt tay trong lòng, cô Stansfield nói: “Nếu đang bóng gió tôi đã từng hoặc sẽ thử tìm cách quyến rũ con trai bà, thì đó là điều bẩn thỉu và nhơ nhớp nhất tôi từng nghe trên đời.”

Đầu bà Kelly ngửa ra sau như thể vừa lãnh trọn một cú tát. Màu gạch cũ rút khỏi hai má của bà ta, chỉ để lại hai chấm nhỏ hây hây. Hai người phụ nữ nhìn nhau đằng đằng nộ khí qua bàn làm việc vương vãi mẫu thử nước hoa trong một căn phòng thoảng mùi hoa. Cô Stansfield kể phút giây ấy có cảm giác dài đến vô tận.

Đoạn bà Kelly giật mở ngăn kéo và lấy ra tờ séc màu da bò. Gắn kèm với nó là tờ giấy thông báo bị sa thải màu hồng chói lóa. Nhe răng như gắn từng chữ, bà nói: “Với hàng trăm cô gái nhà lành đang tìm việc trong thành phố này, tôi không nghĩ rằng chúng tôi cần hạng gái hư thân trắc nết như cô làm nhân viên đâu, thưa cô.”

Cô kể với tôi chính cái từ “thưa cô” khinh khỉnh cuối câu đã khiến cơn tức giận chợt bốc lên đầu cô. Giây sau, bà Kelly há hốc mồm, trợn mắt khi cô Stansfield bắt đầu thở theo điệu “đầu máy xe lửa” qua hàm răng nghiến chặt, với hai tay vẫn khóa chặt vào nhau như mắt nối của dây xích bằng thép, chặt đến độ cô bị bầm tím (vết bầm đã mờ đi nhưng vẫn có thể thấy rõ khi tôi gặp cô vào ngày 1 tháng Chín).

Có lẽ đây không phải chuyện cười, nhưng tôi đã phá lên cười khi hình dung cảnh ấy, và cô Stansfield cũng cười theo. Bà Davidson ló đầu nhìn - chắc là để bảo chúng tôi không hít khí cười — rồi đi ra.

“Tôi chẳng nghĩ được gì ngoài làm như thế,” cô Stansfield kể, vẫn cười nắc nẻ, tay đưa khăn mùi xoa lên lau mắt. “Vì lúc ấy, tôi đã thấy cảnh mình vươn tay tới gạt những lọ nước hoa mẫu – tất tần tật – khỏi bàn của bà ta cho chúng rơi xuống mặt sàn xi măng không trải thảm. Tôi không chỉ nghĩ trong đầu đâu, mà tôi thực sự thấy cảnh này đấy! Tôi thấy chúng bể tan tành trên sàn và khiến căn phòng nồng nặc mùi nước hoa hổ lốn đến độ người thanh lọc không khí phải tới xử lý.

“Tôi sắp sửa làm như thế; không gì có thể ngăn tôi lại. Đoạn tôi bắt đầu điệu thở ‘đầu máy xe lửa, và mọi chuyện ổn thỏa hẳn. Tôi đã có thể nhận tờ séc, giấy thông báo bị sa thải, sau đó đứng dậy rời khỏi đó. Tôi không thể cảm ơn bà ta – đành chịu thôi, tôi đang bận làm đầu máy xe lửa mà!”

Chúng tôi lại cười nắc nẻ, đoạn cô nghiêm nghị.

“Chuyện đã qua rồi, giờ thậm chí tôi còn cảm thấy có chút thương hại bà ta nữa kìa – nói thế nghe có vẻ tự cao tự đại quá không nhỉ?”

“Không hề. Tôi nghĩ cảm thấy vậy là điều rất đáng ngưỡng mộ là đằng khác.”

“Tôi có thể cho ông xem một thứ tôi dùng tiền bồi thường mất việc để mua không, thưa bác sĩ McCarron?”

“Vâng, nếu cô muốn.”

Cô mở túi rồi lấy ra cái hộp nhỏ. “Tôi mua nó ở tiệm cầm đồ,” cô kể. “Với giá hai đô la. Và đó là lần duy nhất trong suốt cơn ác mộng này, tôi cảm thấy nhục nhã và dơ bẩn. Như vậy có lạ không kia chứ?”

Cô mở hộp rồi đặt lên bàn để tôi có thể nhìn thấy bên trong. Tôi không ngạc nhiên trước thứ hiện ra trước mắt. Đó là một cái nhẫn cưới bằng vàng giản dị.

“Tôi sẽ làm điều cần làm,” cô nói. “Tôi đang ở nơi mà bà Kelly hẳn sẽ gọi là một nhà trọ đàng hoàng. Chủ nhà trọ của tôi rất tốt bụng và thân thiện... nhưng bà Kelly cũng từng rất tốt bụng và thân thiện. Tôi đoán bà sẽ yêu cầu tôi đi khỏi đó bất cứ lúc nào, và tôi đồ rằng nếu tôi nhắc tới tiền thuê trọ còn dư của tôi hoặc khoản tiền cọc tôi trả lúc chuyển vào, bà ấy sẽ cười vào mặt tôi.”

“Cô gái trẻ đáng mến của tôi ơi, như thể là phạm pháp. Tòa án và luật sư sẽ giúp cô trả lời những…”

“Tòa án là câu lạc bộ của đàn ông” cô nói, “còn lâu họ mới bỏ công bỏ sức giao du với một người phụ nữ trong tình thế của tôi. Có thể tôi sẽ lấy lại được tiền của mình, có thể không. Dù trường hợp nào đi nữa, chi phí, rắc rối và sự... sự khó chịu... chẳng đáng bốn mươi bảy đô la đâu. Mà ngay từ ban đầu, tôi chẳng nên nhắc chuyện này với ông. Nó chưa xảy ra, có khi chẳng xảy ra cũng nên. Nhưng từ giờ, trong mọi trường hợp, tôi sẽ thực tế nhất có thể.”

Cô ngẩng đầu lên, ánh mắt lóe sáng nhìn thẳng vào tôi.

“Tôi đã nhắm tới một phòng trọ ở Ngôi Làng để phòng hờ. Nó nằm ở tầng ba, nhưng sạch sẽ, rẻ hơn chỗ tôi đang ở đến năm đô la một tháng” Cô lấy chiếc nhẫn ra khỏi hộp. “Tôi đã đeo thứ này khi chủ nhà trọ cho tôi xem phòng.”

Cô đeo nó vào ngón thứ ba tay trái, khẽ bĩu môi kinh tởm, một cử chỉ mà tôi cho rằng cô không hề ý thức. “Đấy. Giờ thì tôi là phu nhân Stansfield. Chồng tôi là một tài xế xe tải thiệt mạng trên tuyến Pittsburgh-New York. Thật buồn. Nhưng tôi không còn là ả lăng loàn hư thân nữa, con tôi cũng không phải đứa cặn bã nữa.”

Cô ngẩng đầu lên nhìn tôi, một lần nữa rưng rưng nước mắt. Tôi trông thấy một giọt nước lưng tròng, rơi xuống má cô.

“Xin cô,” tôi buồn rầu lên tiếng và vươn tay qua bàn để nắm lấy tay cô. Nó rất, rất lạnh. “Đừng như vậy.”

Cô lật ngửa bàn tay – là tay trái – trong tay tôi rồi nhìn chiếc nhẫn. Cô mỉm cười, nụ cười ấy chua chát như mật và giấm, thưa quý vị. Thêm một giọt nước mắt rơi xuống – nhưng chỉ vậy mà thôi.

“Khi tôi nghe những kẻ hoài nghi nói rằng thời của ma thuật và kỳ diệu đã nằm lại sau lưng chúng ta, có lẽ tôi sẽ biết họ nhầm to, bác sĩ McCarron nhỉ? Chỉ cần mua một cái nhẫn trong tiệm cầm đồ với giá hai đô la và chiếc nhẫn ấy ngay lập tức xóa tan cái mác cặn bã và lang chạ, như thế không là ma thuật chứ là gì? Thứ ma thuật rẻ tiền.”

“Cô Stansfield... Sandra, nếu tôi có thể... nếu cô cần giúp đỡ, nếu tôi làm được bất cứ điều gì...”

Cô rút tay khỏi tôi — nếu tôi nắm tay phải của cô chứ không phải tay trái, có lẽ cô sẽ không làm như vậy. Tôi đã nói với các vị tôi không yêu cô ấy, nhưng trong khoảnh khắc đó, tôi có thể đã yêu cô; tôi đã suýt phải lòng cô ấy. Có lẽ nếu tôi nắm lấy tay phải của cô thay vì bàn tay đeo nhẫn, và nếu cô cho phép tôi nắm tay cô lâu hơn dù chỉ một chút, cho đến khi hơi ấm của tôi truyền sang cô, có lẽ tôi đã yêu cô rồi.

“Ông là một người tốt bụng, bác ái, ông đã làm rất nhiều điều cho tôi và đứa bé... Phương pháp Hít thở của ông là thứ ma thuật tốt hơn chiếc nhẫn đáng ghét này bội phần. Suy cho cùng, nó đã giúp tôi không bị tống vào tù vì tội cố ý phá hoại đấy thôi?”

Sau đó một lát, cô rời khỏi phòng khám, tôi đi đến cửa sổ nhìn cô rảo bước xuống đường đến đại lộ Số năm. Chúa ơi, phút giây ấy, tôi ngưỡng mộ cô ấy quá! Trông cô thật mỏng manh, thật trẻ trung, với bụng bầu lộ rõ – nhưng chẳng có gì rụt rè hay ngần ngừ nơi cô. Cô không vội vội vàng vàng; cô đĩnh đạc bước đi như thể cô có mọi quyền hành với vị trí của mình trên vỉa hè.

Sau khi cô khuất khỏi tầm mắt, tôi quay lại bàn làm việc. Đúng lúc ấy, bức ảnh đóng khung treo trên tường cạnh tấm bằng của tôi đập vào mắt, và một cơn run lẩy bẩy quét qua người tôi. Làn da tôi – từ đầu xuống chân, kể cả da trên trán và trên mu bàn tay – chợt nổi da gà lạnh ngắt. Cảm giác sợ hãi đến nghẹt thở nhất đời đã ập xuống người tôi như tấm vải liệm gớm ghiếc, tôi bất giác hớp lấy hớp để không khí. Linh tính đã đến trước nhận thức, thưa các vị. Tôi sẽ không tham gia tranh luận về việc liệu những điều như thế có thể xảy ra hay không; tôi biết là có thể, vì nó đã xảy ra với tôi. Chỉ duy nhất một lần, vào buổi chiều đầu tháng Chín nóng nực ấy. Tôi cầu Chúa mình sẽ không bao giờ phải trải qua điều tương tự.

Bức hình được mẹ tôi chụp vào ngày tôi hoàn thành khóa học ở trường y. Trong ảnh, tôi đang đứng trước bệnh viện Tưởng niệm White, tay chắp ra sau lưng, cười toe toét như đứa trẻ vừa có tấm vé chơi tàu lượn cả ngày ở công viên Palisades. Có thể trông thấy bức tượng Harriet White bên trái tôi, và mặc dù bức hình cắt ngang ống quyển của bà, ta vẫn thấy rõ bệ và câu khắc nghiệt ngã kia – Không có dễ chịu nếu không có đớn đau; do đó ta định nghĩa sự cứu rỗi qua lầm than . Và chính vị trí dưới chân bức tượng người vợ đầu của bố tôi, ngay bên dưới dòng khắc ấy, chưa tới bốn tháng sau, Sandra Stansfield qua đời trong một tai nạn dị thường xảy ra ngay khi cô đến bệnh viện để hạ sinh đứa trẻ.

Mùa xuân năm đó, cô bày to nỗi lo rằng tôi sẽ không có mặt túc trực trong lúc cô lâm bồn – rằng tôi sẽ đi nghỉ Giáng sinh hoặc không trực. Cô phần nào e sợ cô sẽ sinh con với sự trợ giúp của một bác sĩ không chịu đáp ứng mong muốn sử dụng Phương pháp Hít thở mà lại cho cô hít hơi tế hoặc gây tê tủy sống.

Tôi nỗ lực trấn an cô hết mức có thể. Tôi không có lý do gì để rời khỏi thành phố, không có gia đình để đi thăm vào kỳ nghỉ. Mẹ tôi qua đời trước đó hai năm, và chẳng có họ hàng nào ngoài một bà dì ở vậy tại California... mà tàu hỏa lại không hợp với tôi cho lắm, tôi nói với cô Stansfield.

“Có bao giờ ông thấy cô đơn không?” cô hỏi.

“Thỉnh thoảng. Thường thì tôi giữ cho mình bận rộn. Nào, cô cầm đi.” Tôi ghi số điện thoại nhà vào tấm thẻ rồi đưa cho cô. “Nếu sắp sinh mà gọi cho bệnh viện lại được kết nối với tổng đài, hãy gọi tôi vào số này.”

“Ôi, không, tôi không thể...”

“Cô muốn dùng Phương pháp Hít thở hay cô muốn một ông thầy lang nào đấy nghĩ cô bị điên và cho cô nắp khí ê te ngay khi cô bắt đầu thở theo điệu ‘đầu máy xe lửa?”

Cô khẽ mỉm cười. “Cũng đúng. Tôi bị thuyết phục rồi.”

Nhưng cùng với mùa thu thấm đẫm đất trời, những tiệm bán thịt ở Đại lộ Ba bắt đầu quảng cáo về giá tính theo ký của “những chú gà tây trẻ trung và chắc nịch”, rõ ràng tâm trí cô vẫn chưa yên. Đúng là cô đã được yêu cầu rời khỏi chỗ cô đang ở từ lần đầu gặp tôi, sau đó chuyển đến Ngôi Làng sống. Nhưng chí ít chuyện đó cũng suôn sẻ với cô. Thậm chí cô còn tìm được một công việc tạm bợ. Một phụ nữ mù lòa với thu nhập tương đối dư dả đã thuê cô đến phụ các việc vặt trong nhà rồi đọc cho bà nghe các tác phẩm của Gene Stratton Porter và Pearl Buck. Bà sống dưới tầng một tòa nhà mà cô Stansfield đang ở. Cô đã bắt đầu có dáng vẻ rạng rỡ, xuân thì mà đa số các sản phụ khỏe mạnh đều có vào giai đoạn cuối cùng của thai kỳ. Nhưng gương mặt cô lại phủ bóng tối tăm. Khi tôi bắt chuyện, cô trả lời rất chậm chạp... và có lần cô còn chẳng trả lời, tôi bèn ngước mắt lên từ đống ghi chú tôi dở tay ghi chép thì thấy cô đang nhìn bức ảnh đóng khung cạnh bằng cấp của tôi với ánh mắt lạ kỳ, mơ màng. Tôi cảm thấy cơn lạnh ấy trở lại... và lời đáp của cô, vốn chẳng ăn nhập gì với câu hỏi của tôi, chẳng hề khiến tôi thoải mái hơn.

“Tôi có một cảm giác, thưa bác sĩ McCarron, thỉnh thoảng cảm giác ấy rất mạnh, rằng tôi sắp tận số.”

Cái từ ngu xuẩn và cường điệu làm sao! Nhưng thưa quý vị, suýt chút nữa tôi đã thốt lên lời đáp: Phải, tôi cũng cảm thấy thế. Tất nhiên, tôi ghìm câu nói ấy xuống; một bác sĩ dám nói những lời như vậy thì tốt hơn hết nên đem dụng cụ và sách y khoa của mình ra bán rồi nghiên cứu chuyển sang làm thợ ống nước hoặc làm mộc.

Tôi nói cô không phải sản phụ đầu tiên, cũng chẳng phải sản phụ cuối cùng có những cảm giác như thế. Tôi nói cảm giác ấy thật ra rất phổ biến, đến độ bác sĩ còn gọi đùa nó với tên Hội chứng Vùng Trũng Bóng. Tôi nhớ không lầm, tối nay tôi đã nhắc đến nó rồi thì phải.

Cô Stansfield nghiêm túc gật đầu, và đến giờ tôi vẫn nhớ ngày hôm ấy, nhìn cô thật trẻ trung, bụng thật to. “Tôi biết điều đó,” cô đáp. “Tôi từng cảm nhận nó rồi. Nhưng nó hơi khác so với cảm giác này. Cảm giác này tựa như... tựa như một thứ đang rình rập. Tôi không biết mô tả thế nào cho phải. Nghe thật ngu ngốc nhưng tôi không gạt được nó đi.”

“Cô phải thử,” tôi nói. “Nó không tốt cho...”

Nhưng cô đã xao nhãng khỏi tôi. Cô lại quay sang nhìn bức hình.

“Đây là ai thế?”

“Emlyn McCarron,” tôi nói, cố pha trò. Lời tôi nói nghe sượng khủng khiếp. “Trước cuộc Nội chiến, khi anh ta còn đương xuân.”

“Không, tất nhiên là tôi nhận ra ông rồi, cô nói. “Người phụ nữ kìa. Phải nhìn gấu váy và giày mới biết đây là tượng một người phụ nữ. Bà ấy là ai thế?”

“Tên bà ấy là Harriet White,” tôi nói, thầm nghĩ trong đầu: Và bà ấy sẽ là khuôn mặt đầu tiên cô trông thấy khi đến sinh đứa bé . Cơn ớn lạnh lại xuất hiện — cảm giác ớn lạnh không hình thù, khủng khiếp, lững lờ. Khuôn mặt bằng đá của bà ta.

“Dưới chân tượng ghi câu gì vậy?” cô hỏi, đôi mắt vẫn mơ màng, gần như bị thôi miên.

“Tôi không biết,” tôi nói dối. “Khả năng giao tiếp bằng tiếng Latin của tôi không tốt đến thế.”

Đêm hôm ấy, tôi mơ thấy cơn ác mộng kinh khủng nhất đời – tôi tỉnh dậy mà sợ đến hãi hùng, và nếu tôi có vợ, tôi đoán tôi sẽ khiến vợ mình thất kinh hồn vía.

Trong mơ, tôi mở cửa phòng khám thì thấy Sandra Stansfield bên trong. Cô đang mang đôi cao gót màu nâu, váy trắng bằng vải lanh phong cách viền nâu, mũ quả chuông hơi lỗi mốt. Nhưng chiếc mũ nằm ngay giữa ngực cô, vì cô đang ôm thủ cấp của mình trong tay. Vải lanh trắng dính bê bết máu. Máu phun ra từ cổ của cô và bắn tung tóe lên trấn.

Và rồi đôi mắt cô mấp máy mở ra – đôi mắt nâu lục nhạt tuyệt vời ấy – chúng dán chặt vào tôi.

“Tận số,” cái đầu biết nói bảo với tôi. “Tận số. Tôi tận số rồi. Không có cứu rỗi mà không có lầm than. Đó là thứ ma thuật rẻ tiền, nhưng chúng ta chỉ có chừng ấy.”

Đến đây, tôi tỉnh giấc trong tiếng thét gào.

Ngày dự sinh của cô – ngày 10 tháng Chín – đến rồi trôi qua. Tôi khám cho cô vào ngày 17 tháng Mười hai và đề xuất dù gần như chắc chắn đứa trẻ sẽ được sinh trong năm 1935, tôi nghĩ phải đến sau Giáng sinh, em bé mới chào đời. Cô Stansfield đón nhận điều này một cách thanh nhã. Cô có vẻ đã gạt bỏ được bóng đêm bao trùm lấy cô vào mùa thu năm ấy. Bà Gibbs, người phụ nữ mù lòa thuê cô đọc sách và làm các công việc lặt vặt trong nhà, rất ấn tượng với cô – ấn tượng đến độ kể cho bạn bè của bà về người góa phụ trẻ kiên cường này, dù chịu cảnh mất đi người thân trong tình thế ngặt nghèo, vẫn quyết tâm đối diện với tương lai với tinh thần lạc quan. Một số người bạn của bà đã bày tỏ mong muốn thuê cô làm việc sau khi cô sinh nở xong.

“Tôi cũng sẽ nhận lời đề nghị của họ,” cô nói với tôi. “Vì đứa bé. Nhưng chỉ cho đến khi tôi đứng vững trên đôi chân của mình và có thể tìm được công việc ổn định thôi. Thỉnh thoảng tôi nghĩ phần tệ hại nhất của chuyện này – của tất cả những gì đã xảy ra – là nó thay đổi cách tôi nhìn nhận mọi người. Lắm lúc tôi tự nhủ, ‘Sao mày có thể yên giấc vào ban đêm dù biết rằng mày đã lừa bà cụ đáng thương ấy?’ và rồi tôi lại nghĩ, Nếu bà ấy mà biết chuyện, bà ấy sẽ đuổi mày ra khỏi cửa ngay lập tức, giống như những kẻ khác mà thôi. Dù sao đi nữa, nó vẫn là nói dối, thành thử đôi lúc tôi lại cảm thấy nó đề nặng lên tâm khảm.”

Ngày hôm ấy, trước khi ra về, cô lấy một túi quà nhỏ gói sặc sỡ từ trong giỏ rồi ngại ngần đẩy qua bàn về phía tôi. “Giáng sinh an lành, bác sĩ McCarron”

“Cô bày vẽ quá,” vừa nói, tôi vừa mở ngăn kéo rồi lấy ra bọc quà của mình. “Nhưng tôi cũng bày vẽ.”

Cô ngẩn ra nhìn tôi, ngạc nhiên... rồi chúng tôi phá lên cười vui vẻ. Cô tặng tôi kẹp cà vạt bằng bạc, bên trên có biểu tượng y hiệu. Tôi tặng cô cuốn album để sau này lưu giữ ảnh của đứa bé. Đến giờ, tôi vẫn giữ chiếc kẹp cà vạt; như quý vị có thể thấy, tối nay, tôi đang đeo nó. Còn cuốn album giờ lưu lạc phương nào thì tôi đành chịu.

Tôi tiễn cô ra cửa, và khi chúng tôi đến nơi, cô quay về phía tôi, đặt hai tay lên vai tôi, kiễng chân và trao cho tôi một nụ hôn lên môi. Mỗi cô mát lạnh và chắc chắn. Các vị biết không, nụ hôn ấy không quá nồng nhiệt, nhưng nó cũng không giống nụ hôn mà em gái hay cô dì trao cho chúng ta.

“Cảm ơn ông lần nữa, bác sĩ McCarron,” cô nói, có chút hụt hơi. Má cô ửng đỏ và đôi mắt nâu lục nhạt của cô ánh lên sáng ngời. “Cảm ơn ông rất nhiều.”

Tôi cười – có phần không thoải mái. “Cô nói như thể chúng ta sẽ không bao giờ gặp nhau nữa vậy, Sandra.” Tôi tin rằng đó là lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng tôi gọi cô bằng tên chứ không bằng họ.

“Ồ, chúng ta sẽ gặp lại nhau chứ,” cô nói. “Tôi không nghi ngờ gì về việc đó.”

Và cô đã đúng – dù cả hai chúng tôi đều không thể lường trước hoàn cảnh trớ trêu của cuộc gặp cuối cùng ấy.

Sandra Stansfield bắt đầu chuyển dạ vào đêm Giáng sinh, sau khi đồng hồ vừa điểm 6 giờ tối một chút. Tuyết rơi cả ngày hôm ấy và đến lúc đó, tuyết đã biến thành mưa tuyết. Thời điểm cô Stansfield bước vào giai đoạn giữa chuyển dạ, tức là chưa đầy hai tiếng sau, đường phố đã phủ một lớp băng hết sức nguy hiểm.

Bà Gibbs, bà cụ mù lòa, ở trong căn chung cư rộng rãi dưới tầng một, và đến 6 giờ 30 phút, cô Stansfield cẩn thận dò từng bước xuống tầng, gõ cửa nhà bà, được bà cho vào và xin dùng nhờ điện thoại để gọi taxi.

“Là đứa trẻ phải không cháu?” Bà Gibbs bối rối hỏi.

“Vâng. Cháu chỉ vừa mới chuyển dạ thôi, nhưng cháu không dám đánh liều trong thời tiết này. Có lẽ mất kha khá thời gian taxi mới đến.”

Cô gọi điện thoại vào số của tôi. Lúc đó, 6 giờ 40 phút, các cơn đau đều đặn ập đến, cách nhau chừng hai mươi phút. Cô nhắc lại với tôi rằng cô bắt đầu mọi thứ từ sớm vì thời tiết xấu. “Tôi không muốn hạ sinh con mình trên băng ghế sau của xe taxi đâu,” cô nói. Cô giữ vẻ bình tĩnh phi thường.

Taxi đến trễ, quá trình chuyển dạ của cô Stansfield xảy ra nhanh hơn so với những gì tôi dự đoán – nhưng như tôi đã nói, xét từng chi tiết thì mỗi ca sinh lại mỗi khác. Trông thấy khách gọi xe sắp sửa lâm bồn, tài xế taxi dìu cô xuống bậc tam cấp trơn trượt, liên tục nhắc cô “cẩn thận, thưa cô.” Cô Stansfield chỉ gật đầu, lo tập trung vào việc hít vào thở ra thật sâu khi một cơn co thắt mới quặn lên. Mưa tuyết bám trên đèn đường và nóc xe ô tô; chúng chảy thành những giọt rất to trên đèn vàng dưới mui xe taxi. Về sau, bà Gibbs kể với tôi cậu tài xế taxi trẻ còn lo lắng hơn cả “cháu Sandra tội nghiệp,” và có lẽ đây là một phần nguyên nhân dẫn tới tai nạn.

Một phần khác chắc chắn là do Phương pháp Hít thở.

Cậu tài xế lèo lái chiếc xe taxi qua những con đường trơn trượt, chạy thật chậm khi đi qua những tai nạn giao thông nhỏ và nhích từng chút qua ngã tư đông đúc, dần dà đến gần bệnh viện. Anh ta không bị thương nặng trong tai nạn, và tôi có nói chuyện với anh trong bệnh viện. Anh cho hay tiếng thở sâu đều đặn vang lên từ băng ghế sau khiến anh căng thẳng; anh cứ nhìn vào gương chiếu hậu để kiểm tra xem cô “có chết hay sao đó không.” Anh nói anh ta sẽ thấy ít căng thẳng hơn nếu thỉnh thoảng cô gào rống như một phụ nữ sắp sinh hay làm. Một hai lần anh hỏi cô có ổn không, chỉ gật đầu, tiếp tục “lướt sóng” bằng những nhịp hít vào thở ra sâu.

Cách bệnh viện hai, ba dãy nhà, có lẽ cô đã cảm thấy giai đoạn cuối cùng của kì chuyển dạ đã bắt đầu. Cô ngồi trong taxi hơn một tiếng đồng hồ – giao thông khủng khiếp đến vậy đấy – nhưng quá trình chuyển dạ như thế vẫn quá nhanh đối với một sản phụ sinh con đầu. Tài xế để ý cách thở của cô có sự thay đổi. “Cô ấy bắt đầu thở hổn hển như chú chó vào ngày nóng nực, bác sĩ ạ,” anh ta nói với tôi. Cô ấy đã thực hiện điệu thở “đầu máy xe lửa.”

Cùng lúc đó, người tài xế taxi trông thấy một khoảng hở giữa dòng xe rùa bò, bèn phỏng vào đó. Đường dẫn vào bệnh viện Tưởng niệm White giờ đã mở ra. Nó ở ngay phía trước, cách chưa tới ba dãy nhà. “Tôi đã nhìn thấy bức tượng của bà ta,” anh nói. Những muốn thoát khỏi hành khách đang mang bầu thở hổn hển này, anh nhấn ga, chiếc taxi lao tới trước, bánh xe xoay trên băng mà rất ít hoặc gần như không bám đất.

Lúc đó, tôi đi bộ tới bệnh viện, tình cờ trùng khớp với khoảnh khắc chiếc xe chạy đến đơn giản là vì tôi không lường được điều kiện lái xe đã trở nên tồi tệ đến mức độ nào. Tôi cứ tưởng tôi sẽ gặp cô ở tầng trên, một bệnh nhân được chấp nhận hợp pháp, giấy tờ đã ký tá đủ, công cuộc chuẩn bị xong xuôi, đang đều đặn bước sang giai đoạn giữa chuyển dạ. Đang đi lên bậc tam cấp, bỗng dưng tôi trông thấy ánh đèn pha của hai chiếc xe ô tô chói mắt, phản chiếu từ mảng băng mà nhóm lao công chưa kịp phủ than xỉ lên. Tôi quay đầu vừa đúng lúc để chứng kiến toàn bộ sự kiện diễn ra.

Một chiếc xe cấp cứu đang chầm chậm chạy xuống đoạn đường dốc Khu Cấp cứu thì đồng thời, xe taxi chở cô Stansfield chạy về phía bệnh viện. Chiếc taxi chạy quá nhanh nên không dừng được. Anh tài xế hoảng loạn đạp thật mạnh bàn đạp phanh chứ không nhả ra. Chiếc taxi trượt trên đường rồi bắt đầu xoay sang bên. Đèn mui xe nhấp nháy của chiếc xe cấp cứu quét những vệt và những mảng màu đỏ như máu lên cảnh tượng này, và kỳ dị làm sao, một vệt sáng chiếu thẳng vào khuôn mặt của Sandra Stansfield. Trong khoảnh khắc ấy, đó chính là khuôn mặt mà tôi thấy trong mơ, khuôn mặt máu me, mắt trợn trừng mà tôi thấy trên cái đầu đã lìa khỏi cổ.

Tôi thét lên tên cô, bước xuống hai bậc tam cấp, trượt chân và ngã lăn quay. Tôi đập khuỷu tay đau đến mụ mị nhưng vẫn chật vật giữ được cái túi đen của mình. Từ chỗ đang nằm, đầu ong lên, khuỷu tay nhức nhối, tôi nhìn thấy những chuyện xảy ra tiếp theo.

Xe cấp cứu phanh lại nhưng nó cũng bắt đầu bị trượt. Phần đuôi xe đập vào bục của bức tượng. Cửa trượt mở tung. Một cái cáng, may sao trống trơn, lao ra như cái lưỡi rồi cắm ngược xuống đường, bánh xe vẫn quay tít mù. Một phụ nữ trẻ trên vỉa hè hét thất thanh, cố gắng chạy đi khi hai chiếc xe lao về phía nhau. Chạy được hai bước, cô trượt chân, ngã đập bụng xuống đất. Giỏ của cô rơi ra khỏi tay, rơi thẳng xuống vỉa hè phủ lớp băng như viên bị sắt trong trò pinball bowling.

Chiếc taxi xoay vòng vòng, giờ đang chạy ngược lại, và tôi có thể thấy rõ người tài xế taxi. Anh đang điên cuồng quay tay lái như đứa trẻ chơi trò xe điện húc nhau. Chiếc xe cấp cứu dội ngược từ bức tượng của Harriet White theo góc chéo... rồi đâm thẳng vào hông chiếc taxi. Taxi xoay tròn một vòng rồi tông mạnh vào bệ của bức tượng. Ngọn đèn vàng của chiếc xe, những chữ trên máy kết nối radio vẫn nhấp nháy, nổ tung như quả bom. Phía bên trái của chiếc taxi nát vụt như giấy mềm. Giây sau, tôi nhận ra không phải chỉ có phía bên trái chiếc xe; chiếc taxi đã đâm thẳng vào một góc bệ tượng, mạnh đến độ chiếc xe xẻ làm đôi. Kính rơi lả tả xuống mặt mưa tuyết như kim cương. Và người sản phụ của tôi bị hất văng ra khỏi cửa sổ đằng sau bên phải của chiếc xe taxi đứt rời như một con búp bê.

Chẳng kịp nghĩ gì, tôi loạng choạng đứng dậy. Tôi chạy xuống mấy bậc tam cấp phủ băng, trượt chân, may sao chụp được lan can để đi tiếp. Tôi chỉ lờ mờ ý thức được cô Stansfield đang nằm khuất dưới bóng của bức tượng Harriet White gớm ghiếc, cách khoảng 6 mét vị trí chiếc xe cấp cứu bị lật, đèn vẫn nhấp nháy đỏ rực trong màn đêm. Dáng hình của cô quá đỗi dị thường, nhưng thú thật tôi nghĩ tôi chẳng hề hay biết điểm dị thường ở đâu cho đến khi chân húc trúng một thứ gì đó mạnh đến độ tôi thiếu điều ngã chỏng vỏ thêm lần nữa. Thứ tôi đá trúng trượt đi – giống giỏ của người phụ nữ, nó trượt chứ không lăn. Nó cứ thế trượt đi, và phải nhờ đến những lọn tóc – tuy nhoe nhoét máu nhưng vẫn có thể nhận ra màu vàng, lấm tấm kính bể – tôi mới nhận ra nó là gì. Đầu cô đã lìa khỏi cổ trong tai nạn. Thứ tôi vừa đá xuống cống đã đóng băng chính là đầu của cô.

Choáng váng đến tê tái đầu óc, tôi lại gần cái xác, lật nó lại. Nếu tôi nhớ không lầm, khi vừa lật người, lúc nhìn thấy cảnh tượng ấy, tôi đã cố hét lên. Nhưng dẫu tôi có hét cũng chẳng có âm thanh nào vang lên; tôi không cất nổi lời nào. Các vị biết không, người phụ nữ ấy vẫn đang thở. Ngực cô phập phồng theo những nhịp thở nhanh, nhẹ và nông. Tôi có thể nghe thấy tiếng khò khè cao và mỏng. Tiếng động lúc to lúc nhỏ như ấm trà không thể đạt đến độ sôi. Là tiếng không khí bị hút vào bên trong khí quản đã đứt của cô, sau đó trút ra; không khí khẽ rít qua dây thanh âm thô chẳng còn miệng để tạo thành âm thanh.

Những muốn chạy nhưng tôi chẳng còn sức; tôi khuỵu xuống gối trên mặt băng bên cạnh cô, một tay bưng miệng. Giây sau, tôi nhận ra máu tươi đang rỉ ra từ phần dưới của váy cô... và rằng có cử động ở đó. Bỗng tôi chắc như đinh đóng cột rằng vẫn còn cơ hội để cứu đứa bé.

Nếu tôi nhớ không lầm thì khi kéo váy cô lên ngang hông, tôi bắt đầu phá lên cười. Chắc lúc đó tôi đã phát điên. Người cô vẫn còn ấm. Tôi vẫn nhớ điều đó. Tôi còn nhớ cái cách nó phập phồng theo nhịp thở của cô. Một người điều dưỡng cấp cứu bước đến, lảo đảo như say rượu, một tay bưng chiếc đầu. Máu rỉ qua kẽ ngón tay anh ta.

Tôi vẫn vừa cười vừa mò mẫm. Tay tôi nhận thấy cổ tử cung đã giãn ra hoàn toàn.

Điều dưỡng cấp cứu trợn mắt nhìn chằm chằm vào cái xác không đầu của Sandra Stansfield. Tôi không biết anh ta có nhận ra thi thể vẫn còn thở hay không. Có lẽ anh ta nghĩ đây chỉ là phản xạ thần kinh – một dạng hành động phản xạ cuối cùng. Nếu anh ta nghĩ vậy thì anh ta chẳng lái xe cấp cứu được lâu đâu. Gà có thể đi lại một lúc sau khi bị cắt đầu, còn con người chỉ co giật một hai lần rồi thôi.

“Thôi nhìn cô ấy đi và đưa tôi cái chăn mau,” tôi quát lên với anh.

Anh ta bỏ đi, nhưng không quay lại xe cấp cứu. Anh ta hướng về Quảng trường Thời đại. Anh ta cứ thể cất bước đi vào màn mưa tuyết trong đêm. Tôi chẳng hiểu nổi anh ta lên cơn gì. Tôi bèn quay lại với người sản phụ đã chết nhưng bằng cách nào đó chưa chết hẳn, thoáng lưỡng lự, rồi cởi áo khoác ngoài của tôi. Đoạn tôi nhấc hông cô lên để kê áo xuống dưới người cô. Tôi vẫn nghe thấy tiếng hơi thở rít lên khi cơ thể không đầu của cô tiếp tục điệu thở “đầu máy xe lửa.” Các vị biết không, đến giờ, thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe thấy âm thanh ấy. Trong giấc mơ.

Xin hãy hiểu rằng tất cả những điều này xảy ra trong khoảng thời gian cực kỳ ngắn – đối với tôi, nó dài hơn, nhưng chỉ là vì nhận thức của tôi đã tăng lên cường độ điên cuồng. Mọi người mới chỉ bắt đầu túa ra từ bệnh viện để xem có chuyện gì xảy ra, và đằng sau tôi, một phụ nữ ré lên thất thanh khi trông thấy cái đầu bị đứt lìa nằm ở mép đường.

Tôi giật mở túi đen của mình, tạ ơn Chúa tôi không đánh mất nó lúc ngã, rồi rút ra con dao mổ ngắn. Tôi mở dao, cắt quần lót của cô rồi lỗi nó ra. Lúc ấy, tài xế xe cấp cứu tiến lại – ông ta đến cách chúng tôi gần 5 mét thì khựng lại. Tôi liếc nhìn ông ta, trong bụng vẫn đang muốn có cái chăn. Nhưng xem ra tôi không nhờ ông ta lấy được; ông đang nhìn chằm chằm thân thể phập phồng hít thở kia; mắt trợn tròn đến độ tưởng chừng chúng sẽ rơi ra khỏi ổ mắt và lủng lẳng từ dây thần kinh thị giác như hai quả yo-yo gớm ghiếc. Đoạn ông ta quỳ xuống gối rồi giơ hai bàn tay đang chắp lại lên cao. Tôi khá chắc rằng ông ta định cầu nguyện. Người điều dưỡng có lẽ không biết anh ta đang trông thấy một điều bất khả thi, nhưng người tài xế này thì biết. Giây sau, ông ta lăn đùng ra bất tỉnh nhân sự.

Tối đó, tôi đã cất sẵn kẹp forceps trong túi; chẳng rõ tại sao. Ba năm qua, tôi không dùng đến nó, kể từ khi tôi nhìn thấy một bác sĩ mà tôi sẽ không nói tên chọc xuyên qua thái dương và đâm thẳng vào não của em bé bằng dụng cụ trời đánh thánh vật ấy. Đứa trẻ chết ngay lập tức. Thi thể bị “mất” và thông tin ghi trên giấy chứng tử là chết non .

Nhưng vì lý do gì đó, đêm ấy, tôi lại mang kẹp theo.

Người cô Stansfield cứng lại, bụng cô gồng lên, biến từ thịt sang đá. Đỉnh đầu đứa bé đã lộ ra. Tôi trông thấy phần đỉnh đầu trong phút chốc, còn dính máu, màng nhầy, vẫn đập. Vẫn đập . Vậy là đứa bé còn sống. Sống hoàn toàn.

Đá lại biến thành thịt. Đỉnh đầu đứa bé lại khuất tầm mắt. Một giọng nói vang lên đằng sau tôi: “Tôi có thể làm gì, thưa bác sĩ?”

Đó là một y tá trung niên, típ phụ nữ thường là trụ cột cho công việc của chúng tôi. Mặt bà xanh như tàu lá, và mặc dù lúc bà nhìn xuống cơ thể vẫn còn hô hấp ấy, gương mặt bà lộ rõ kinh hoàng và mê tín, nhưng không có vẻ sốc đến mụ mị vốn sẽ gây khó khăn và nguy hiểm khi làm việc với bà.

“Bà có thể lấy cho tôi tấm chăn ngay lập tức,” tôi ngắn gọn. “Tôi nghĩ chúng ta còn cơ hội.” Đằng sau bà, tôi trông thấy chừng hai chục người đi từ bệnh viện lố nhố trên bậc tam cấp, không dám bước đến gần hơn. Họ thấy được gì, nhiều hay ít? Tôi chẳng rõ. Tôi chỉ biết sau biến cố, người ta né tôi như né tà nhiều ngày liền (một số người từ mặt tôi hẳn), và không ai nhắc lại chuyện này với tôi, kể cả người y tá ấy.

Bà quay lưng quay lại bệnh viện.

“Y tá!” tôi gọi. “Không kịp đâu. Lấy từ xe cấp cứu đi. Đứa trẻ đang ra rồi.”

Bà đổi hướng, trượt chân trên phần tuyết tan trong đôi giày để kếp trắng. Tôi trở lại với cô Stansfield.

Thay vì chậm lại, nhịp thở đầu máy xe lửa lại bắt đầu tăng tốc... rồi cơ thể của cô cứng lại, gồng lên. Đỉnh đầu đứa trẻ lại ló ra. Tôi đợi nó trượt vào trong nhưng nó không biến mất mà tiếp tục đẩy ra. Thế này thì không cần dùng kẹp. Đứa bé tựa hồ bay thẳng xuống tay tôi. Tôi trông thấy mưa tuyết chảy trên thân thể dính máu của cậu bé – phải, ấy là một cậu bé, không có gì nhầm lẫn về giới tính. Tôi thấy hơi nước bốc lên từ người đứa trẻ khi màn đêm tối tăm, băng giá cướp mất chút hơi ấm của cùng của mẹ cậu bé. Nắm tay dính máu khẽ quơ quàng; đứa trẻ cất tiếng khóc mỏng manh.

“Y tá!” tôi gà o lên, “nhanh chân lên, đồ khốn kiếp!” Có lẽ không có gì để biện hộ cho ngôn từ này, nhưng trong khoảnh khắc, tôi cảm thấy mình như sống lại những tháng ngày ở Pháp, rằng chỉ trong phút chốc nữa thôi, đạn sẽ xé gió bay vèo vèo qua đầu chúng tôi như mưa tuyết tanh tách không thương tiếc; súng máy sẽ bắt đầu cất tiếng tạch tạch địa ngục; quân Đức sẽ bước ra từ trong bóng tối, chạy, trượt chân, chửi rủa, chết trong đống bùn, rít thuốc. Thứ ma thuật rẻ tiền, tôi thầm nghĩ, trông thấy những xác người quằn quại, ngã vật xuống. Nhưng cô nói đúng, Sandra à, chúng ta chỉ có nó mà thôi. Khoảnh khắc ấy là lúc tôi tiến sát nhất đến rìa mất trí, thưa quý vị.

“Y TÁ, VÌ CHÚA!

Đứa bé lại khóc rên – âm thanh mới nhỏ bé, mới lạc loài làm sao! – rồi không khóc nữa. Hơi nước bốc lên từ da cậu thưa dần, chỉ còn dải mỏng. Tôi đưa miệng áp vào mặt đứa trẻ, ngửi thấy cái mùi máu và mùi ẩm ướt, nhạt nhẽo của nhau thai. Tôi thở thật sâu vào miệng cậu và nghe thấy tiếng thở đột ngột khò khè trở lại. Đoạn người y tá xuất hiện, cầm theo chặn trong tay. Tôi chìa tay ra đón lấy.

Bà toan đưa cho tôi rồi rụt lại. “Bác sĩ, nhỡ... nhỡ đâu nó là quái vật thì sao? Một dạng quái thai nào đó?”

“Đưa tôi tấm chăn,” tôi nạt. “Đưa cho tôi ngay, Sarge, trước khi tôi cho bà một cú nằm đo đất.”

“Vâng, thưa bác sĩ,” bà nói với vẻ hoàn toàn bình tĩnh (thưa các vị, chúng ta phải biết ơn những người phụ nữ, rất nhiều lần, họ hiểu bằng cách không cố gắng hiểu), rồi đưa tôi chăn cho tôi. Tôi bọc quanh đứa trẻ và trao nó cho bà.

“Nếu bà đánh rơi đứa bé, Sarge, bà sẽ toi đời.”

“Vâng, thưa bác sĩ.”

“Nó là thứ ma thuật rẻ tiền, Sarge ạ, nhưng Chúa chỉ để lại cho chúng ta chừng đó mà thôi.”

“Vâng, thưa bác sĩ.”

Tôi nhìn bà vội vã rảo bước quay lại bệnh viện với đứa trẻ trong tay và nhìn đám đông trên bậc tam cấp nhường đường cho bà. Đoạn tôi đứng dậy rồi lùi khỏi cái xác. Giống đứa trẻ, nhịp thở của cơ thể ấy nấc lên, mắc nghẹt... dừng... rồi lại nấc... lại dừng...

Tôi dần lùi khỏi cái xác. Chân tôi đụng trúng thứ gì đó. Tôi quay lại. Là đầu của cô. Tuân theo một mệnh lệnh nào đó từ bên ngoài, tôi khuỵu gối rồi lật ngược chiếc đầu lại. Hai con mắt vẫn đang mở – đôi mắt nâu lục nhạt cương trực ấy từng tràn ngập sức sống và ý chí biết bao. Đến lúc ấy, chúng vẫn tràn đầy ý chí. Thưa các vị, cô ấy vẫn đang nhìn tôi.

Răng cô nghiến lại, còn môi thì khẽ mở. Tôi nghe thấy hơi thở gấp gáp vào ra giữa đôi môi ấy và qua hai hàm răng trong quá trình cô thở theo kiểu “đầu máy xe lửa.” Mắt cô cử động; chúng khẽ di chuyển sang trái hốc mắt để nhìn tôi rõ hơn. Mỗi cô hé ra. Chúng mấp máy năm từ: Cảm ơn, bác sĩ McCarron. Các vị biết không, tôi đã nghe thấy câu nói ấy, nhưng không phải từ miệng cô. Chúng vang lên cách đó 6 mét. Từ dây thanh đới của cô. Vì lưỡi, môi và răng của cô đang ở đây, trong khi chúng ta cần ba thành tố này để tạo hình tiếng nói của mình, tiếng động phát ra chỉ là âm thanh lên xuống ú ở. Nhưng có bảy tiếng động, bảy tiếng động rõ ràng, giống như có bảy âm tiết trong cụm Cảm ơn, bác sĩ McCarron.

“Không có chi, cô Stansfield,” tôi nói. “Là bé trai.”

Môi cô lại mấp máy, và từ phía sau vang lên tiếng nói mỏng tang, ma mị con traiiiii ...

Đôi mắt của cô mất đi tập trung và ý chí sắt đá. Tựa như chúng đang nhìn thứ gì đó đằng sau tôi, có lẽ là bầu trời đen đúa lất phất mưa tuyết. Đoạn chúng nhắm lại. Cô lại bắt đầu điệu thở “đầu máy xe lửa”... và rồi bất thình lình, cô ngừng lại. Những gì vừa xảy ra đã kết thúc. Người y tá đã trông thấy một phần, tài xế xe cấp cứu có lẽ cũng trông thấy một chút trước khi ngất, vài người túm tụm xem có lẽ đã nghi ngờ gì đó. Nhưng tất cả đã kết thúc rồi, chắc chắn là thế. Chỉ còn hiện trường khủng khiếp của tai nạn nghiệt ngã ngoài này... và một đứa trẻ mới sinh trong kia.

Tôi ngước nhìn bức tượng Harriet White, bà vẫn đứng đó, lạnh lùng nhìn về phía Garden ở đối diện như thể tất cả biến cố ban nãy không hề xảy ra, như thể ý chí ấy chẳng có nghĩa lý gì trong một thế giới hà khắc và vô cảm như thế giới này... hoặc tệ hơn, có lẽ nó là thử duy nhất mang ý nghĩa; thứ duy nhất tạo nên khác biệt.

Theo như tôi nhớ, tôi đã quỳ trước cái đầu bị đứt lìa của cô, nước mắt cứ thế tuôn rơi. Theo như tôi nhớ, đến lúc một thực tập sinh và hai y tá dìu tôi đứng dậy và đi vào trong, tôi vẫn không thể ngừng khóc.

Tẩu thuốc của McCarro đã tắt.

Ông dùng bật lửa châm lại trong lúc chúng tôi nín thở ngồi trong bầu không khí im lặng ngột ngạt. Ngoài kia, gió vẫn không thôi gào rống. Ông đóng nắp bật lửa đánh tách rồi ngước nhìn chúng tôi. Trông ông thoáng ngạc nhiên khi thấy chúng tôi vẫn còn có mặt tại đó.

“Thế thôi,” ông nói. “Câu chuyện đến đây là hết! Các vị đang chờ đợi gì thế? Chúa ra tay gì à?” ông hừ mũi rồi có vẻ suy ngẫm một lát. “Tôi đã bỏ tiền túi ra lo chi phí hậu sự cho cô. Các vị thấy đấy, cô ấy chẳng có họ hàng thân thích nào.” Ông khẽ mỉm cười. “Chà... có cả Ella Davidson, y tá của tôi nữa. bà ấy nhất quyết đòi góp hai mươi lăm đô la, dù cũng chẳng dư dả gì. Nhưng khi Davidson đã quyết thì...” Ông nhún vai, đoạn cất tiếng cười.

“Ông có chắc đấy không phải hành động phản xạ chứ?” tôi bất giác chất vấn. “Ông chắc chắn được bao nhiêu...”

“Rất chắc là đằng khác,” McCarron không nao núng. “Cơn co bóp đầu tiên có thể là phản xạ. Nhưng quá trình hạ sinh đứa bé của cô ấy không tính bằng giây mà bằng phút. Và thỉnh thoảng tôi nghĩ cô ấy còn đủ sức gắng gượng lâu hơn nếu cần thiết. Tạ ơn Chúa là không cần.”

“Còn đứa trẻ thì sao?” Johanssen hỏi.

McCarron hút tẩu thuốc bập bập. “Được nhận nuôi,” ông nói. “Và các vị phải biết rằng từ thời đấy, hồ sơ nhận nuôi được bảo mật hết mức có thể.”

“Ừ, nhưng còn đứa trẻ thì sao?” Johanssen hỏi lại, thấy thế, McCarron bèn phá lên cười gay gắt.

“Ông đã muốn là làm cho tới cùng ấy nhỉ?” ông hỏi Johanssen.

Johanssen lắc đầu. “Một số người kinh qua buồn đau mới học được điều đó. Rốt cuộc đứa trẻ thì sao?”

“Chà, nếu các vị đã đồng hành cùng tôi đến lúc này, có lẽ các vị cũng thừa hiểu bản thân tôi cũng phần nào quan tâm đến vận mạng sau này của đứa trẻ. Hoặc tự tôi cảm thấy thế, suy cho cùng như nhau cả thôi. Ngày đó, tôi đã theo dấu cậu bé, đến giờ vẫn vậy. Có một cặp vợ chồng trẻ — tên thật của họ không phải Harrison, nhưng cái tên này gần giống. Họ sống ở Maine. Họ không thể có con nên nhận nuôi đứa bé ấy và đặt tên cho nó là... chà, John nghe được đẩy chứ nhỉ? Các vị bằng lòng với cái tên John không?”

Ông bập bập rít tẩu thuốc nhưng nó lại tắt ngóm. Tôi mơ hồ biết Stevens đang quanh quẩn phía sau và tôi biết áo khoác của chúng tôi sẽ được chuẩn bị sẵn sàng. Chẳng mấy chốc, chúng tôi sẽ khoác áo vào... và trở lại cuộc sống thường nhật. Như McCarron đã nói, năm nay, các câu chuyện đến đây là hết.

“Đứa trẻ tôi đỡ đẻ đêm hôm ấy hiện tại là trưởng Khoa Tiếng Anh ở một trường đại học tư danh giá thuộc tốp hai, tốp ba của cả nước,” McCarron nói. “Anh ta còn chưa đến bốn mươi lăm tuổi. Còn trẻ trung chán. Tuy hằng sớm, nhưng một ngày nào đó, anh ta sẽ trở thành hiệu trưởng ngôi trường ấy. Tôi không nghi ngờ gì về điều đó. Anh khôi ngô, thông minh và thu hút.

“Có lần, tôi kiếm cớ tổ chức được buổi ăn tối với anh trong một câu lạc bộ riêng của khoa. Tối đó, chúng tôi có bốn người. Tôi kiệm lời nên quan sát được anh rất nhiều. Anh có sự kiên định y như mẹ mình, thưa các vị...

“... và đôi mắt nâu lục nhạt của đấng sinh thành.”


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 11 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »