“Ông lấy ý tưởng từ đâu?” luôn là câu hỏi tôi nhận được thường xuyên nhất (các bạn có thể nói câu hỏi ấy chiếm cứ ngôi vị thứ nhất), nhưng câu hỏi đứng vị trí thứ hai chắc chắn là câu sau: “Ông chỉ viết truyện kinh dị thôi à?” Khi tôi đáp không phải, chẳng rõ người hỏi cảm thấy nhẹ nhõm hay thất vọng nữa.
Trước khi Carrie , cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi được xuất bản, tôi nhận được một lá thư từ anh Bill Thompson, biên tập viên của tôi, đề nghị đã đến lúc cân nhắc về kế hoạch cho dự án tiếp theo (các bạn có thể lấy làm lạ với việc tính đến cuốn sách kế tiếp khi cuốn sách thứ nhất còn chưa xuất bản, nhưng vì lịch trình tiền xuất bản của một cuốn tiểu thuyết cũng lê thê chẳng kém gì lịch trình hậu sản xuất của một bộ phim, tính đến lúc đó chúng tôi đã ăn dầm nằm dề với trong Carrie khoảng thời gian dài – gần cả năm trời). Tôi liền gửi Bill bản thảo hai tiểu thuyết, một cuốn mang tên Blaze và một cuốn mang tên Second Coming . Cuốn Blaze đã được viết ngay sau Carrie , trong khoảng thời gian sáu tháng khi bản nháp đầu tiên của Carrie nằm ngâm trong ngăn kéo bàn làm việc; cuốn còn lại được viết trong tầm một năm khi Carrie nhích từng bước rùa bò đến việc xuất bản thành sách.
Blaze là câu chuyện giật gân về tên tội phạm to lớn, đầu óc bã đậu bắt cóc một đứa bé, lên kế hoạch tống tiền gia đình giàu có của nó... nào ngờ lại đem lòng thương yêu đứa trẻ. Second Coming lại là câu chuyện giật gân về ma cà rồng xâm chiếm một thị trấn nhỏ ở Maine. Có thể nói cả hai là phiên bản văn học bắt chước: Second Coming bắt chước Dracula, Blaze bắt chước Của chuột và người của Steinbeck.
Tôi nghĩ hẳn Bill được dịp bất ngờ há hốc khi hai tập bản thảo được đóng thành một kiện hàng lớn (vài trang bản thảo Blaze còn được đánh máy trên mặt sau các tờ biên lai sữa, còn bản thảo Second Coming thì đầy mùi bia vì ai đó đã đổ một bình Black Label lên trên vào bữa tiệc giao thừa ba tháng trước đó) – tựa người phụ nữ ước được tặng bó hoa và thấy chồng mình đi ra ngoài mua cho cô một căn nhà kính. Hai bản thảo cộng lại khoảng 550 trang cách dòng đơn.
Mấy tuần sau đó, khi anh đọc trọn cả hai cuốn – quả thật bên trong biên tập viên là tấm lòng tựa thánh nhân – còn tôi từ Maine đi New York để ăn mừng cuốn Carrie được xuất bản (tháng Tư năm 1974, thưa quý vị và các bạn – lúc ấy Lennon còn sống, Nixon vẫn giữ chức tổng thống, và cậu nhóc này vẫn chưa thấy bộ râu của mình có cọng nào bạc) và để bàn bạc xem cuốn nào trong hai cuốn sẽ là tác phẩm tiếp theo... hoặc cả hai đều không có cửa.
Tôi ở thành phố vài ngày, chúng tôi thảo luận về câu hỏi này ba bốn lần. Quyết định cuối cùng được chốt hạ ở góc đường – cụ thể là góc Đại lộ Công viên và đường Số Bốn mươi sáu. Bill và tôi đang đứng chờ đèn đỏ, nhìn taxi chạy vào đường hầm hay gì đó – lối đi như xuyên thẳng qua Tòa nhà Pan Am. Đoạn Bill lên tiếng, “Tôi nghĩ mình nên chọn Second Coming ”
Chà, bản thân tôi cũng ưng ý tác phẩm này hơn – nhưng giọng nói của anh lại lưỡng lự đến lạ, tôi bèn nghiêm nghị nhìn anh và hỏi thẳng có vấn đề gì. “Chỉ là nếu anh viết một cuốn sách về ma cà rồng ngay sau một cuốn về cô gái có thể dịch chuyển đồ vật bằng năng lực siêu nhiên, anh sẽ bị cộp mác,” anh nói.
“Cộp mác?” tôi hỏi, thật sự rất bối rối. Tôi chẳng thấy giữa ma cà rồng và dịch chuyển đồ bằng siêu năng có gì giống nhau. “Cộp mác gì”
“Cộp mác là nhà văn kinh dị,” anh trả lời, đã lưỡng lự lại càng lưỡng lự hơn.
“Ô,” tôi thở phào nhẹ nhõm. “Thế thôi à!”
“Anh cứ để vài năm,” anh nói, “rồi xem anh còn nghĩ thế thôi a không nhé.”
“Bill,” tôi phì cười, “ở đất Mỹ này, làm gì có ai kiếm sống được nếu chỉ viết truyện kinh dị chứ. Lovecraft chết đói ở Providence. Bloch chuyển sang viết tiểu thuyết hồi hộp và truyện hài không rõ thể loại. Thầy trừ tà là truyện ngắn. Rồi anh sẽ thấy.”
Đèn chuyển màu. Bill vỗ vai tôi. “Tôi nghĩ anh sẽ rất thành công” anh nói, “nhưng tôi nghĩ anh chưa biết đời có lắm chữ ngờ thế nào đâu.”
Anh nói gần đúng sự thật hơn tôi. Hóa ra đúng là có thể kiếm sống bằng cách viết truyện kinh dị ở đất Mỹ. Second Coming , về sau được đặt tên là Salem's Lot, bản rất chạy. Thời điểm sách được xuất bản, tôi đang sống ở Colorado với gia đình và viết một tiểu thuyết về khách sạn bị ma ám. Trong một chuyến đi tới New York, tôi ngồi với Bill tới gần sáng trong quán bar mang tên Jasper’s (nơi chú mèo to bự màu xám chễm chệ chiếm cứ máy hát nhét xu Rock-Ola; bạn phải bế nó ra thì mới xem được danh sách bài hát) để kể với anh nội dung. Đến đoạn cuối, khuỷu tay của anh chống hai bên ly bourbon và đầu tựa lên hai tay, như một người đang bị cơn đau nửa đầu hành hạ.
“Anh không thích nó,” tôi nói.
“Tôi rất thích là đằng khác,” anh cứng nhắc đáp.
“Thế có vấn đề gì?”
“ Cuốn đầu tiên là cô gái siêu năng dịch chuyển đồ vật, cuốn thứ hai là ma cà rồng, giờ lại là khách sạn ma ám và đứa trẻ ngoại cảm. Anh bị cộp mác là cái chắc.”
Lần này tôi nghĩ về điều đó nghiêm túc hơn một chút — và rồi tôi nghĩ về tất cả những nhà văn từng bị cộp mác là nhà văn kinh dị, cùng những tác giả từng truyền cảm hứng to lớn cho tôi qua những năm qua - Lovecraft, Clark Ashton Smith, Frank Belknap Long, Fritz Leiber, Robert Bloch, Richard Matheson và Shirley Jackson (phải; dù bà được gắn mác là tác giả truyện ma). Ở đó, trong quán bar Jasper’s với chú mèo say ngủ trên máy hát cùng người biên tập viên ngồi bên cạnh tôi, tựa đầu lên tay, tôi thầm nhủ được xếp vào hàng ngũ của họ thì tốt chán, còn hơn là bị xếp vào nhóm dị nhân. Vi dụ, tôi có thể được đánh giá là một nhà văn “quan trọng” như Joseph Heller và bảy năm xuất bản một cuốn sách, hoặc một nhà văn “xuất sắc” như John Gardner và viết những cuốn sách tối nghĩa cho những nhà giáo sư tiến sĩ sáng láng ăn theo kiểu thực dưỡng, lái chiếc Saab cũ với mấy dòng chữ GENE MCCARTHY CHO CHỨC TỔNG THỐNG tuy đã mờ nhưng vẫn còn đọc được trên cản sau.
“Không sao đâu, Bill ạ,” tôi nói, “nếu mọi người muốn thì tôi sẽ là nhà văn kinh dị. Như vậy cũng được.”
Chúng tôi không bao giờ bàn đến chuyện ấy nữa. Bill vẫn biên tập, còn tôi vẫn viết truyện kinh dị, và cả hai chúng tôi dừng phân tích tới lui nữa. Thế lại hay.
Và tôi được cộp mác nhà văn kinh dị thật, nhưng tôi chẳng mấy để tâm – suy cho cùng, tôi viết đúng theo cái mác người ta gán cho... chí ít phần lớn thời gian là thế. Nhưng tôi chỉ viết mỗi thể loại kinh dị thôi ư? Nếu bạn đọc những câu chuyện ở trước, bạn sẽ biết là không phải... nhưng có thể tìm thấy yếu tố kinh dị trong mọi câu chuyện, không chỉ trong Phương pháp Hít thở – phần mấy con đỉa trong Cái xác cũng gớm ra phết, tương tự như hình ảnh mơ tưởng trong Học sinh ngoan . Đầu óc tôi luôn quay về phương hướng ấy, chỉ là sớm muộn mà thôi. Có Chúa mới biết tại sao.
Những câu chuyện có độ dài tương đối này được tôi chấp bút ngay sau khi hoàn thành một cuốn tiểu thuyết – tựa hồ mỗi lần kết thúc một công việc lớn là tôi lại dư được chút xăng trong bình để cho ra lò một tiểu thuyết ngắn vừa vặn. Cái xác , câu chuyện cách đây lâu nhất, được viết ngay sau tác phẩm Salem's Lot; Học sinh ngoan được viết trong hai tuần sau khi tôi hoàn thành tác phẩm Thị kiến (và sau Học sinh ngoan , tôi chẳng viết được gì trong vòng ba tháng – tôi kiệt quệ rồi); Rita Hayworth và Cứu Chuộc Tại Shawshank được viết sau khi viết xong The Dead Zone; và Phương pháp Hít thở , tác phẩm gần đây nhất trong bốn câu chuyện, được viết ngay sau tiểu thuyết Firestarter .
Bốn câu chuyện này chưa từng được xuất bản trước khi được tổng hợp trong cuốn sách này; tôi cũng chưa từng nộp chúng cho đơn vị xuất bản. Tại sao vậy? Vì mỗi câu chuyện rơi vào khoảng 25,000 đến 35,000 chữ – có thể không chính xác nhưng con số gần đúng là thế. Tôi phải nói với bạn điều này: 25,000 tới 35,000 chữ là số lượng khiến một nhà văn viết truyện hư cấu gan vàng dạ sắt nhất cũng phải e ngại. Không có định nghĩa cụ thể để phân loại một tác phẩm là tiểu thuyết hay truyện ngắn – chí ít nếu xét tới số lượng chữ — mà thật ra cũng không nên có. Nhưng khi một nhà văn tiến đến mốc 20,000 chữ, anh ta biết mình đang bước ra khỏi địa phận nước “truyện ngắn”. Tương tự, khi anh ta vượt qua mốc 40,000 chữ, anh ta đang tiến vào đất nước “tiểu thuyết”. Biên giới của đất nước nằm giữa hai đất nước được phân định tương đối rạch ròi này lại rất mông lung, nhưng đến một lúc nào đó, tay nhà văn sẽ tỉnh giấc vì tiếng chuông bảo thức và nhận ra mình vừa tiến vào hoặc đang tiến vào một vùng đất hết sức tệ hại, một đất nước nhiễu nhương vô chính phủ mang tên “tiểu thuyết ngắn” (tức “novella”, hoặc “novelette,” dù từ này lại hơi diễm tình so với gu của tôi.) [60E]
Xét trên phương diện nghệ thuật, tiểu thuyết ngắn chẳng có gì sai trái. Tất nhiên, những nhân vật dị hợm trong rạp xiếc cũng chẳng có gì sai trái, trừ việc bạn chẳng mấy khi thấy họ ngoài rạp xiếc. Mấu chốt ở đây là có những tiểu thuyết ngắn rất hay, song thông thường chúng chỉ bán cho “thị trường ngách” (đấy là cụm từ lịch sự đấy; cụm từ bất lịch sự nhưng chính xác hơn là “thị trường lập dị”). Bạn có thể bán một tiểu thuyết ngắn rất hay thể loại bí ẩn cho Ellery Queen's Mystery Magazine hoặc Mike Shayne's Mystery Magazine , một tiểu thuyết ngắn rất hay thể loại khoa học viễn tưởng cho Amazing hoặc Analog , thậm chí có thể cho Omni hoặc The Magazine of Fantasy and Science Fiction . Mỉa mai ở chỗ cũng có thị trường tiêu thụ cho tiểu thuyết ngắn rất hay thể loại kinh dị: The Magazine of Fantasy and Science Fiction mà tôi nhắc ban nãy; hoặc Twilight Zone , ngoài ra còn rất nhiều hợp tuyển truyện hư cấu rùng rợn, như bộ Shadows do Doubleday xuất bản và Charles L. Grant biên tập.
Nhưng đối với những tiểu thuyết ngắn chỉ có thể mô tả bằng từ “đại chúng” (một từ sầu thảm chẳng kém gì từ “ngách”), thì than ôi, nếu xét tới độ dễ quảng cáo thì bạn tự mua dây buộc mình rồi. Bạn chỉ còn nước rầu rĩ nhìn bản thảo từ 25,000 đến 35,000 từ của mình, khui một lon bia, và trong tâm trí, bạn như nghe thấy một giọng rất nặng và nhừa nhựa eo éo: “ Buenos días, señor! [61E] Chuyến bay của ông trên Hãng hàng không Cách mệnh như nào? Tui nghĩ ông cũng khoái nó ra phết chứ, sí? [62E] Chào mừng ông đến với đất nước Tiểu thuyết ngắn, señor ! Tui nghĩ ông sẽ khoái ở đây đấy! Làm điếu xì gà rẻ tiền đi này! Chụp dăm bức hình bậy nào! Ông cứ thong thả nghỉ ngơi đi, señor , tui nghĩ câu chuyện của ông sẽ ở đây lâu thiệt là lâu đấy... qué pasa? [63E] A ha ha ha ha!”
Quá là rầu.
Ngày xửa ngày xưa (ông ấy rền rĩ) từng có một thị trường cho những câu chuyện như thế – có những tạp chí kỳ diệu như The Saturday Evening Post, Collier’s và The American Mercury . Truyện hư cấu – cả dài cả ngắn – là thể loại chủ chốt của các tạp chí này. Và nếu câu chuyện quá dài, không đăng được trên một số tạp chí thì nó được chia ra đăng thành ba, năm hoặc chín phần. Thời ấy, người ta chưa biết đến ý tưởng độc hại mang tên “cô đọng” hay “trích dẫn” tiểu thuyết (cả tạp chí Playboy và Cosmopolitan đã rèn giũa hành vi gớm ghiếc này thành thứ khoa học chết người: giờ bạn có thể đọc hết một tiểu thuyết trong hai mươi phút!), câu chuyện được cấp cho không gian cần thiết, và tôi nghĩ tôi không phải người duy nhất còn nhớ một thời mình đã mong ngóng bác bưu tá vì tờ tạp chí Post số mới đã ra, hứa hẹn truyện ngắn mới của Ray Bradbury, hoặc có lẽ là háo hức được đọc phần cuối của bộ truyện Clarence Buddington Kelland.
(Tôi cứ nhấp nhổm như đỉa phải vôi nên hay bị trêu. Sau khi đợi mòn mỏi, bác bưu tá cuối cùng cũng xuất hiện, nhanh nhảu bước với túi da trên vai, diện quần lửng mùa hè, đầu đội mũ cối rộng vành chống nắng, tôi sẽ gặp bác ở cuối lối đi, nhún nhảy hết chân này sang chân kia như thể mót tiểu; tim thiếu điều lao ra khỏi họng. Thế mà bác ta lại nở nụ cười ác nghiệt, đưa cho tôi hóa đơn tiền điện. Chỉ có thể. Tim tôi thòng xuống tận giày. Mãi lúc sau, bác mới mủi lòng đưa tôi tờ Post: bức hình Eisenhower cười rạng rỡ trên trang bìa do Norman Rockwell vẽ; bài báo về Sophia Loren do Pete Martin viết; “Tôi xin nói ông ấy là đức ông chồng tuyệt vời” của Pat Nixon bàn về − ở, bạn đoán đúng rồi đấy – chồng bà, Richard; và tất nhiên, những câu chuyện. Ngắn có, dài có, cùng chương cuối bộ Kelland. Tạ ơn Chúa!)
Và điều này không phải thỉnh thoảng mới xảy ra; nó xảy ra hằng tuần ! Tôi đoán vào cái ngày tạp chí Post được giao tới, tôi là đứa trẻ hạnh phúc nhất cả bờ đông.
Vẫn có những tạp chí xuất bản truyện dài hư cấu – Atlantic Monthly và The New Yorker là hai tạp chí vẫn tỏ lòng thông cảm sâu sắc đến vấn đề xuất bản của một nhà văn đã sáng tác (chúng ta sẽ không nói “gotten”; nó quá gần “misbegotten”) một tiểu thuyết ngắn 30,000 chữ. Nhưng cả hai tạp chí này đều không hứng khởi lắm với tác phẩm của tôi, bởi truyện tôi viết tương đối dễ hiểu, không mang tính nhiều văn học, và thỉnh thoảng (dù phải thừa nhận điều này, lòng tôi đau như cắt) vụng thối vụng nát.
Xét trên nhiều góc độ, tôi đoán chính những đặc điểm ấy – tuy chúng có vẻ không đáng ngưỡng mộ cho lắm – là nguyên nhân tiểu thuyết của tôi thành công. Đa số các tác phẩm tôi chấp bút là truyện hư cấu đơn thuần cho những con người đơn thuần, nếu so ra, nó tương tự một bánh Big Mac và phần khoai tây chiên cỡ lớn của McDonald’s. Tôi có thể trân trọng và rung động trước áng thơ đẹp, nhưng tự mình viết chúng đối với tôi là việc khó khăn và bất khả thi (đa số thần tượng của tôi dưới tư cách một nhà văn đã đủ độ chín là các tiểu thuyết gia vạm vỡ với phong cách văn xuôi trải rộng từ tệ hại đến không tồn tại: những người như Theodore Dreiser và Frank Norris). Trừ cái tao nhã ra khỏi tác phẩm của một tiểu thuyết gia, anh ta chỉ còn một chân để trụ vững, và cái chân ấy chính là sức nặng. Kết cuộc là, lúc nào tôi cũng cố gắng hết sức có thể để tạo ra sức nặng. Nói cách khác, nếu bạn nhận ra mình không chạy được như con ngựa nòi, bạn vẫn có thể vắt óc ra (một giọng nói vẳng từ ban công: “Não gì kia , ông King?” Ha ha, vui quá cơ, thưa bạn hiền, bạn đi được rồi đấy).
Kết quả của mở này là tôi vô tình rơi vào thế bí, không biết xử trí những tiểu thuyết ngắn bạn vừa đọc ra sao. Nhờ những tiểu thuyết từng viết, tôi vươn đến một vị trí mà người ta đùa là nếu muốn, King có thể xuất bản danh sách quần áo đem giặt của mình (và có những nhà phê bình tuyên bố đây chính xác là những gì tôi làm trong tám năm qua), nhưng tôi không thể xuất bản những câu chuyện này vì chúng quá dài nên không đủ ngắn, mà quá ngắn thành ra không đủ dài. Bạn hiểu ý tôi chứ?
“ Sí, señor , tôi hiểu rồi! Ông cởi giày ra đi! Uống chút rượu rum rẻ tiền này! Chút nữa sẽ có Ban nhạc Trống thép Cách mệnh Cùi bắp biểu diễn mấy bài hát dở tệ! Tôi nghĩ ông sẽ khoái đấy! Và ông có đầy thời gian mà, señor! Ông có đầy thời gian vì tôi nghĩ mấy cuốn truyện của ông sẽ...”
… ở đây suốt một thời gian dài, phải, phải, tuyệt quá, sao ông không biến đi chỗ khác và lật đổ một nền dân chủ đế quốc bù nhìn nhỉ?
Nên cuối cùng, tôi quyết định gặp gỡ Viking, đơn vị xuất bản sách bìa cứng của tôi, và New American Library, đơn vị xuất bản sách bìa mềm của tôi, xem họ có muốn xuất bản một cuốn sách gồm những câu chuyện về vượt ngục hơi u tối, về ông già và cậu nhóc mắc kẹt trong mối quan hệ gớm ghiếc, ký sinh lẫn nhau, về bốn cậu bé vùng quê lên đường thám hiểm và câu chuyện kinh dị kỳ quái về một phụ nữ trẻ quyết tâm sinh con bằng được (hoặc có thể câu chuyện ấy thực ra là về câu lạc bộ kỳ lạ nhưng không phải câu lạc bộ) không. Hai đơn vị đồng ý. Và đó là cách tôi đem được bốn câu chuyện dài trên ra khỏi nước cộng hòa củ chuối của tiểu thuyết ngắn.
Tôi hy vọng bạn khoái chúng, muchachos và muchachas [64E] .
À, thêm một điều về cộp mác trước khi tôi dừng bút.
Chừng một năm trước, tôi đang nói chuyện với biên tập viên – không phải Bill Thompson mà là biên tập viên mới , một anh chàng rất tốt tên Alan Williams, thông minh, sáng dạ, giỏi cáng đáng nhưng thỉnh thoảng lại tham gia bồi thẩm đoàn ở đâu đó trên New Jersey.
“Tôi thích Cujo lắm,” Alan nói (quá trình biên tập cuốn tiểu thuyết về con chó lông lá đã xong xuôi). “Ông có nghĩ kế tiếp sẽ viết gì không?”
Câu này nghe quen quen. Tôi từng trao đổi chủ đề này rồi.
“À, có,” tôi nói. “Tôi đã suy nghĩ một chút...”
“Ông cứ nói với tôi đi.”
“Anh nghĩ sao về một cuốn sách bao gồm bốn tiểu thuyết ngắn? Đa số hoặc toàn bộ chỉ là những câu chuyện bình thường? Anh thấy thế nào?”
“Tiểu thuyết ngắn à,” Alan trả lời. Anh cố tỏ vẻ lịch sự, nhưng hào hứng đã vơi đi một chút trong giọng nói của anh; giọng nói ấy bảo anh cảm thấy mình vừa giành được hai tấm vé đến một cộng hòa chuối trên Hãng hàng không Cách mệnh. “Ý ông là truyện dài.”
“Ừ, đúng rồi,” tôi đáp. “Và chúng ta sẽ đặt cho cuốn sách cái tên đại loại như Bốn mùa nhân gian , để mọi người hiểu nội dung không phải về ma cà rồng, khách sạn ma ám hay gì tương tự.”
“Tác phẩm kế tiếp là về ma cà rồng sao?” Alan hỏi đầy hy vọng.
“Không, tôi không nghĩ vậy. Anh nghĩ sao, Alan?”
“Hay khách sạn có ma?”
“Không, tôi viết chủ đề đó rồi. Bốn mùa nhân gian , Alan. Nghe bắt tai chứ, anh không thấy vậy à?”
“Nghe bắt tai thật, Steve a,” Alan nói rồi thở dài. Đó là tiếng thở dài của một người lịch thiệp vừa ngồi vào hàng ghế chất lượng kém trên chiếc máy bay mới nhất của Hãng hàng không Cách mệnh – máy bay Lockheed Tristar – và đã thấy con gián đầu tiên bận rộn chạy tới chạy lui trên ghế phía trước.
“Tôi hy vọng anh sẽ thích nó,” tôi nói.
“Tôi đoán cuốn sách sẽ không có truyện kinh dị nào ư? Một truyện thôi cũng được? Cho nó... quen thuộc?”
Tôi khẽ cười — chỉ khẽ thôi – trong đầu nghĩ tới Sandra Stansfield và Phương pháp Hít thở của bác sĩ McCarron. “Tôi có thể thêm thắt.”
“Tuyệt quá! Còn về tiểu thuyết mới...”
“Chiếc xe bị ma ám thì sao?” tôi nói.
“Đúng là ông có khác!” Alan ré lên. Tôi có giảm giác tôi đang đưa anh về lại cuộc họp biên tập – hoặc có thể là trách nhiệm tham gia bồi thẩm đoàn ở Đông Rahway – đưa anh về một người vui vẻ. Tôi cũng vui – tôi cũng thích ý tưởng chiếc xe bị ma ám, tôi nghĩ thể nào nó cũng sẽ khiến nhiều người sợ đi qua những con đường đông đúc vào buổi tối cho xem.
Nhưng tôi cũng rất yêu thích bốn câu chuyện này, và tôi đoán một phần trong sẽ luôn yêu thích chúng. Tôi hy vọng các bạn độc giả thích chúng; hy vọng chúng để lại nơi bạn dư vị của một câu chuyện hay – khiến bạn tạm thời quên đi những gánh nặng trong tâm trí và đưa bạn đến một nơi bạn chưa từng đặt chân. Đó là thứ ma thuật đáng yêu nhất mà tôi biết.
Được rồi. Tôi dừng bút ở đây thôi. Cho đến lúc chúng ta tái ngộ, chúc bạn luôn giữ đầu óc sáng suốt, đọc những cuốn sách hay, giúp ích cho đời và sống thật hạnh phúc.
Yêu thương và trân trọng,
STEPHEN KING
Ngày 4 tháng Một năm 1982
Bangor, Maine