Họ đi suốt ngày, qua những ngọn đồi thấp rồi lên những ngọn núi và cưỡi dọc theo ngọn núi đỉnh bằng về hướng bắc, vượt xa bãi chăn ngựa và đi vào một vùng đất mà lần đầu tiên họ đến khoảng bốn tháng trước đây. Họ ăn trưa tại một con suối nhỏ và ngồi xổm xuống giữa những que củi lạnh lẽo cháy đen từ một ngọn lửa nào đó trước đây, ăn đậu và bánh ngô lạnh được bọc trong một tờ giấy báo. Cậu nghĩ những chiếc bánh ngô này có thể lấy từ nhà bếp của trang trại. Tờ báo đến từ Monclova. Cậu ăn một cách chậm rãi với hai bàn tay bị xích lại và uống nước từ một chiếc tách bằng thiếc vốn chỉ có thể chứa một phần bởi nước chảy ra ngoài qua con tán ri-vê của quai cầm. Phần đồng lộ ra xuyên qua chỗ mạ kẽm, nơi nó bị ăn mòn từ chỗ cổ tay và hai khuỷu tay nó trở thành một màu xanh tái và độc hại. Cậu ăn và nhìn Rawlins đang ngồi cách đó vài bước nhưng Rawlins không muốn nhìn vào mắt cậu. Họ ngủ một giấc ngủ ngắn trên mặt đất phía dưới những cây dương và rồi họ đứng dậy, uống thêm nước và đổ đầy vào bình và chai lọ rồi tiếp tục cưỡi đi.
Vùng đất họ đi qua thời tiết đến trước mùa và những bụi keo nở rộ tươi tốt, mưa lất phất trên những ngọn núi, cỏ mọc dọc theo mép của những con mương nhỏ xanh tươi và đẫm nước trong cái ánh sáng chạng vạng trải dài nơi họ cưỡi qua. Ngoại trừ những lời bình phẩm về vùng đất này, những gã lính canh hầu như ít trò chuyện với nhau và đối với hai người Mỹ họ chẳng nói gì cả. Họ đi qua dải hoàng hôn đỏ rực và họ tiếp tục đi trong bóng đêm. Bởi vì những tên lính đã tra súng của họ vào vỏ bọc nên họ cưỡi nhẹ nhàng hơn, một phần vai hơi thõng xuống trên yên ngựa. Khoảng mười giờ họ dừng lại dựng trại và đốt lửa. Hai anh tù nhân ngồi trên cát giữa những mảnh thiếc rỉ cũ kỹ và những mẩu than cháy, hai tay vẫn bị khóa chặt trước mặt và những tên lính lấy ra một chiếc bình cà phê bằng đá granite màu xanh xỉn màu và một cái chảo hầm đựng cùng một thứ gì đó. Họ uống cà phê và ăn trên một cái đĩa đựng một loại củ có xơ nhợt nhạt, một ít thịt và gia cầm. Tất cả trở nên dai cứng và bốc mùi chua.
Họ qua một đêm với hai bàn tay bị xích vào bàn đạp của yên ngựa, có giữ ấm phía dưới những tấm trải rời rạc của họ. Họ lại tiếp tục đi trên con đường mòn trước khi mặt trời mọc một giờ đồng hồ và vui sướng được như vậy.
Họ trải qua ba ngày như thế. Buổi chiều của ngày thứ ba, họ vào thị trấn Encantada, một ký ức mới đây.
Họ ngồi cạnh nhau trên một băng ghế dài gồm những thanh sắt trong một khu đất nhỏ cây cối um tùm. Một vài tên lính đứng cách xa họ vài bước chân vai mang súng và khoảng một chục trẻ nhỏ đủ mọi lứa tuổi đứng giữa đám bụi nhìn họ một cách chăm chú. Hai trong số những đứa trẻ đó là bé gái khoảng mười hai tuổi và khi những tù nhân này nhìn chúng, chúng bỗng bẽn lẽn và xoay xoay chiếc váy của mình. John Grady gọi chúng để nhờ kiếm cho vài điếu thuốc.
Những tên lính nhìn cậu trừng trừng. Cậu làm những cử chỉ hút thuốc với hai cô gái, rồi chúng quay mặt đi và chạy xuống con đường. Những đứa trẻ khác vẫn đứng như trước.
- Người đàn ông của các cô gái. - Rawlins nói.
- Cậu không muốn hút thuốc à?
Rawlins nhẹ phun nước bọt giữa hai chiếc răng của mình và nhìn lên. Bọn họ sẽ chẳng mang cho cậu điếu thuốc nào đâu. - Anh ta nói.
- Tôi cược với cậu.
- Quỷ tha ma bắt, cậu cược với tôi cái gì chứ?
- Tôi cược với cậu một điếu thuốc.
- Làm thế nào cậu làm được điều đó?
- Tôi cược với cậu là cô ấy sẽ mang thuốc lá đến đây. Nếu cô ấy mang đến, tôi sẽ giữ luôn cả phần của cậu.
- Vậy thì cậu sẽ đưa cho tôi cái gì nếu cô ta không mang đến?
- Nếu cô ta không mang đến, cậu lấy cái của tôi.
Rawlins phóng tầm mắt nhìn chằm chằm ngang qua khu đất.
- Tôi chẳng đá hay quát vào mông cậu đâu, cậu biết đấy.
- Cậu không nghĩ nếu chúng ta muốn thoát khỏi vụ này, tốt nhất là nghĩ cách để cùng nhau tẩu thoát?
- Ý cậu như thể chúng ta dính vào chuyện đó?
- Khi sự cố xảy đến, cậu không phải trở lại, xoắn một ít thời gian và rồi trút mọi thứ lên đầu của bạn cậu.
Rawlins không trả lời.
- Đừng có mang vẻ mặt ủ rũ như thế với tôi. Hãy tươi tỉnh lên nào.
- Được rồi. Khi bọn chúng bắt cậu, cậu đã nói gì?
- Tôi không nói gì cả. Có ích lợi gì chứ?
- Đúng. Chẳng có lợi gì.
- Nghĩa là sao?
- Nghĩa là cậu không bao giờ bảo họ đánh thức ông chủ, phải không?
- Không.
- Tôi đã làm thế.
- Họ nói sao?
Rawlins cúi người và phun nước bọt rồi chùi miệng.
- Họ nói ông ấy còn thức. Họ nói ông ấy thức rất lâu. Rồi họ cười ồ lên.
- Cậu nghĩ ông ta bán chúng ta dưới con sông kia?
- Cậu không nghĩ vậy sao?
- Tôi không biết. Nếu ông ta làm thế chỉ bởi vì một lời dối trá nào đó thôi.
- Hoặc một sự thật nào đó.
John Grady ngồi nhìn xuống hai bàn tay của mình.
- Nó sẽ làm cậu hài lòng nếu tôi tiếp tục và thừa nhận việc mình là một thằng khốn được mạ vàng mười bốn cara?
- Tôi không bao giờ nói như thế.
Họ ngồi. Sau một hồi John Grady nhìn lên.
- Tôi không nhìn thấy yếu tố liên quan đến chuyện này. Và tôi không thể biết được nơi nào tôi cảm thấy tốt hơn để có thể chỉ tay vào mặt kẻ nào đó.
- Nó chẳng làm cho tôi cảm thấy tốt hơn. Tôi đã cố lý giải với cậu, vậy thôi. Đã vài lần rồi.
- Tôi biết. Nhưng có vài điểm phi lý. Hãy nhớ, tôi cũng là người mà cậu đã vượt sông cùng. Tôi đã thế nào thì vẫn thế này và tất cả những gì tôi cần phải làm là bám lại đây. Thậm chí tôi chưa bao giờ hứa là cậu sẽ không chết dưới đây. Cũng không bao giờ hỏi ý kiến cậu về chuyện này.
- Dù cậu có bám lại hay rời bỏ tôi, tôi cũng sẽ không bỏ cậu và tôi không quan tâm đến cậu làm gì. Và đó là tất cả những gì tôi muốn nói.
- Tôi chưa bao giờ bỏ cậu. - Rawlins nói.
- Được rồi.
Sau một hồi hai cô gái quay lại. Cô gái cao hơn đưa một bàn tay lên với hai điếu thuốc trong đó.
John Grady nhìn những tên lính. Họ ra dấu cho hai cô gái và nhìn những điếu thuốc. Họ gật đầu và hai cô gái tiến đến chiếc ghế dài và đưa thuốc cho những gã tù nhân cùng với một vài que diêm.
- Tốt bụng quá. - John Grady nói. - Cám ơn rất nhiều.
Họ đốt điếu thuốc từ một que diêm duy nhất và John Grady nhét những que còn lại vào túi rồi nhìn những cô gái. Họ mỉm cười bẽn lẽn.
- Các anh là người Mỹ à? - Họ hỏi.
- Vâng.
- Các anh là kẻ trộm?
- Vâng. Những kẻ trộm khét tiếng. Những tên cướp.
Họ há hốc mồm. Giỏi thật, họ thốt lên. Nhưng những tên lính gọi chúng và vẫy tay đuổi đi.
Họ ngồi cúi người về trước trên hai cùi chỏ, hút thuốc. John Grady nhìn đôi ủng của Rawlins.
- Đôi ủng mới đâu? Cậu nói.
- Ở nhà trại.
Cậu gật đầu. Họ hút thuốc. Sau một hồi, những người khác quay lại và gọi những tên lính. Những tên lính ra hiệu cho hai tù nhân và họ đứng dậy gật đầu chào những đứa trẻ rồi đi bộ ra đến con đường.
Họ xuyên qua cực bắc của thị trấn và dừng lại trước một tòa nhà bằng đất sống với một mái che bằng tôn múi và một tháp canh bằng đất bùn trống rỗng phía trên. Những mảng trát vữa được quét sơn cũ kỹ vẫn còn bám vào những bức tường gạch bùn. Họ xuống ngựa và bước vào một căn phòng lớn mà một thời có thể là một lớp học. Có một hàng rào chắn nằm dọc theo bức tường mặt tiền và một cái khung mà có thể một thời được dùng để giữ tấm bảng đen. Mặt sàn được lót bởi những tấm gỗ thông hẹp và các thớ của nó bị lấp bởi cát bụi do giẫm đạp nhiều theo năm tháng. Những cánh cửa sổ dọc theo hai vách tường bị mất những tấm kính giờ đây được thay thế bởi những tấm thiếc vuông và tất cả được cắt ra từ cùng một tấm biển hiệu lớn để tạo thành tấm mosaic gãy khúc giữa ánh sáng cửa sổ. Tại một chiếc bàn kim loại màu xám nằm trong góc phòng là một người đàn ông chắc khỏe cũng tương tự như mấy tên lính kia trong bộ đồng phục kaki, gã trùm quanh cổ mình một cái khăn choàng bằng lụa màu vàng. Gã chào đón những tên tù nhân như không có một biểu hiện gì. Gã lắc đầu nhẹ ra dấu về hướng phía sau của tòa nhà. Một trong những tên lính lấy xuống một chùm chìa khóa trên bức tường và hai anh tù nhân được dắt ra ngoài qua một bãi cỏ dại đầy bụi đất đến một căn nhà nhỏ bằng đá với một cánh cửa gỗ nặng nề được nẹp sắt.
Có một lỗ vuông được cắt vào cánh cửa ngang tầm mắt, cột ngang qua và hàn vào khung sắt là một tấm lưới thép mỏng. Một trong những tên lính tháo cái ổ khóa bằng đồng và mở cánh cửa. Gã lấy một chùm chìa khóa riêng biệt từ thắt lưng.
- Còng tay đây. - Gã nói.
Rawlins đưa còng tay của mình lên. Gã tháo chúng ra, anh ta bước vào và John Grady theo sau. Cánh cửa rên rỉ, kêu ken két và đóng sập phía sau họ.
Trong phòng không có ánh sáng ngoại trừ những đốm sáng rơi xuyên qua tấm lưới của cánh cửa và họ đứng đó, tay ôm tấm chăn, đợi đến khi mắt quen với bóng đêm. Mặt sàn xà lim bằng bê tông và không khí thoang thoảng mùi phân. Sau một hồi, có người lên tiếng phía sau căn phòng.
- Hãy cẩn thận với cái thùng kia.
- Đừng giẫm lên cái thùng. - John Grady nói.
- Nó đâu?
- Các anh là người Mỹ à? - Họ hỏi.
- Vâng.
- Các anh là kẻ trộm?
- Vâng. Những kẻ trộm khét tiếng. Những tên cướp.
Họ há hốc mồm. Giỏi thật, họ thốt lên. Nhưng những tên lính gọi chúng và vẫy tay đuổi đi.
Họ ngồi cúi người về trước trên hai cùi chỏ, hút thuốc. John Grady nhìn đôi ủng của Rawlins.
- Đôi ủng mới đâu? Cậu nói.
- Ở nhà trại.
Cậu gật đầu. Họ hút thuốc. Sau một hồi, những người khác quay lại và gọi những tên lính. Những tên lính ra hiệu cho hai tù nhân và họ đứng dậy gật đầu chào những đứa trẻ rồi đi bộ ra đến con đường.
Họ xuyên qua cực bắc của thị trấn và dừng lại trước một tòa nhà bằng đất sống với một mái che bằng tôn múi và một tháp canh bằng đất bùn trống rỗng phía trên. Những mảng trát vữa được quét sơn cũ kỹ vẫn còn bám vào những bức tường gạch bùn. Họ xuống ngựa và bước vào một căn phòng lớn mà một thời có thể là một lớp học. Có một hàng rào chắn nằm dọc theo bức tường mặt tiền và một cái khung mà có thể một thời được dùng để giữ tấm bảng đen. Mặt sàn được lót bởi những tấm gỗ thông hẹp và các thớ của nó bị lấp bởi cát bụi do giẫm đạp nhiều theo năm tháng. Những cánh cửa sổ dọc theo hai vách tường bị mất những tấm kính giờ đây được thay thế bởi những tấm thiếc vuông và tất cả được cắt ra từ cùng một tấm biển hiệu lớn để tạo thành tấm mosaic gãy khúc giữa ánh sáng cửa sổ. Tại một chiếc bàn kim loại màu xám nằm trong góc phòng là một người đàn ông chắc khỏe cũng tương tự như mấy tên lính kia trong bộ đồng phục ka ki, gã trùm quanh cổ mình một cái khăn choàng bằng lụa màu vàng. Gã chào đón những tên tù nhân như không có một biểu hiện gì. Gã lắc đầu nhẹ ra dấu về hướng phía sau của tòa nhà. Một trong những tên lính lấy xuống một xâu chìa khóa trên bức tường và hai anh tù nhân được dắt ra ngoài qua một bãi cỏ dại đầy bụi đất đến một căn nhà nhỏ bằng đá với một cánh cửa gỗ nặng nề được niềng sắt.
Có một lỗ vuông được cắt vào cánh cửa ngang tầm mắt, cột ngang qua và hàn vào khung sắt là một tấm lưới thép mỏng. Một trong những tên lính tháo cái ổ khóa bằng đồng và mở cánh cửa. Gã lấy một xâu chìa khóa riêng biệt từ thắt lưng.
- Còng tay đây. - Gã nói.
Rawlins đưa còng tay của mình lên. Gã tháo chúng ra, anh ta bước vào và John Grady theo sau. Cánh cửa rên rỉ, kêu ken két và đóng sập phía sau họ.
Trong phòng không có ánh sáng ngoại trừ những đốm sáng rơi xuyên qua tấm lưới của cánh cửa và họ đứng đó, tay ôm tấm chăn, đợi đến khi mắt quen với bóng đêm. Mặt sàn xà lim bằng bê tông và không khí thoang thoảng mùi phân. Sau một hồi, có người lên tiếng phía sau căn phòng.
- Hãy cẩn thận với cái thùng kia.
- Đừng giẫm lên cái thùng. - John Grady nói.
- Nó đâu?
- Tôi không biết. Đừng giẫm vào nó.
- Tôi không thể nhìn thấy cái quái gì cả.
Một giọng khác nói vọng lên từ bóng tối. - Có phải các anh đó không?
John Grady có thể nhìn thấy một phần khuôn mặt của Rawlins như bị bẻ gãy thành những hình vuông bởi ánh sáng của tấm lưới thép. Quay người một cách chậm rãi. Nỗi đau trong mắt cậu. - Ôi lạy Chúa. - Cậu nói.
- Blevins à? - John Grady nói.
- Vâng. Tôi đây.
Cậu thận trọng lùi về phía sau. Một cái chân duỗi dài rút lại dọc theo dưới mặt sàn như một con rắn chùn lại dưới chân. Cậu ngồi xổm xuống và nhìn Blevins. Blevins động đậy và cậu có thể nhìn thấy hàm răng của nó trong ánh sáng le lói. Như thể nó đang cười.
- Điều mà một gã đàn ông không nhìn thấy khi hắn không có súng. - Blevins nói.
- Mày ở đây bao lâu rồi?
- Tôi không biết. Một thời gian khá dài.
Rawlins bước đến bức tường phía sau và đứng ngó xuống nó. Mày chỉ họ tìm bắt chúng tao à? - Anh ta nói.
- Không bao giờ tôi làm một điều tệ hại như vậy. - Blevins nói.
John Grady nhìn lên Rawlins.
- Họ biết có ba người chúng ta. - Cậu nói.
- Vâng. - Blevins nói.
- Chó chết. - Rawlins nói. - Họ sẽ chẳng tìm chúng ta nếu họ lấy lại được con ngựa. Nó đã làm một điều gì đó.
- Đó là con ngựa chết tiệt của tôi. - Blevins nói.
- Bây giờ họ có thể nhìn thấy nó. Gáy trơ xương, xơ xác và bẩn thỉu.
- Đó là con ngựa của tôi, yên của tôi, và khẩu súng của tôi.
Họ cùng ngồi xuống. Không ai nói gì cả.
- Mày đã làm gì? - John Grady hỏi.
- Làm cái việc mà người khác sẽ không làm.
- Mày làm gì?
- Cậu muốn biết nó làm gì à? - Rawlins nói.
- Mày trở lại đây à?
- Chết tiệt, đúng rồi đấy, tôi trở lại đây.
- Mày là thằng khốn. Mày đã làm gì? Kể cho tao nghe.
- Chẳng có gì để kể cả.
- Ôi, quỷ tha ma bắt. - Rawlins nói. - Chẳng có cái quái gì để kể à.
John Grady ngoảnh mặt đi. Cậu nhìn ngang qua Rawlins. Một ông già ngồi tựa vào vách tường, lặng thinh nhìn họ.
- Thằng bé này phạm tội gì? - Cậu hỏi.
Lão già chớp mắt. - Giết người. - Ông nói.
- Nó giết người à?
Ông già lại chớp mắt. Ông giơ lên ba ngón tay.
- Lão ta nói gì vậy? - Rawlins thắc mắc.
John Grady không trả lời.
- Lão nói gì? Tôi muốn biết điều mà lão ta nói.
- Lão ta nói nó giết ba người.
- Một lời nói dối chết tiệt. - Blevins nói.
Rawlins ngồi nhẹ nhàng lên tấm bê tông.
- Chúng ta chết mất thôi. Chúng ta là những người đã chết. Tôi biết điều này sẽ đến mà. Kể từ lúc đầu tiên gặp nó.
- Điều đó chẳng giúp gì được chúng ta. - John Grady nói.
- Chỉ có một người chết. - Blevins nói.
Rawlins ngẩng đầu nhìn nó. Rồi anh đứng dậy và bước về phía bên kia của căn phòng rồi lại ngồi xuống.
- Hãy cẩn thận với cái thùng. - Ông già nói.
John Grady quay mặt về Blevins.
- Tôi chẳng làm gì hắn cả. - Blevins nói.
- Nói tao biết chuyện gì xảy ra? - John Grady nói.
- Hắn làm việc cho một gia đình người Đức thuộc thị trấn Palau cách tám mươi dặm về hướng đông. Cứ cuối mỗi hai tháng, hắn lãnh lương và cưỡi ngựa quay về ngang qua vùng sa mạc ấy rồi cột con ngựa tại cạnh con suối đó và mặc y phục thường dân. Sau đó hắn đi vào thị trấn và ngồi trước một cửa hiệu trong hai ngày cho đến khi hắn nhìn thấy một người đàn ông đi ngang qua với khẩu Colt Bisley lồ lộ ra ở thắt lưng.
- Mày đã làm gì?
- Anh có thuốc lá không?
- Không. Mày đã làm gì?
- Chẳng thể nghĩ là mày đã làm chuyện đó.
- Mày đã làm gì?
- Chúa ơi tôi chẳng có gì để đổi lấy một ít thuốc nhai.
- Mày đã làm gì?
- Tôi bước theo sau và giật khẩu súng khỏi thắt lưng hắn. Đó là việc tôi đã làm.
- Và bắn hắn.
- Hắn đuổi theo tôi.
- Đuổi theo mày?
- Vâng.
- Vậy là mày đã bắn hắn?
- Tôi biết lựa chọn thế nào đây?
- Lựa chọn nào à? - John Grady nói.
- Tôi không muốn bắn thằng khốn đó. Đó chẳng hề là ý định của tôi.
- Sau đó mày đã làm gì?
- Lúc tôi quay lại con suối nơi cột con ngựa của tôi, bọn chúng tấn công tôi. Một gã mà tôi bắn hạ khỏi ngựa đã ném khẩu súng ngắn vào tôi.
- Vậy thì chuyện gì xảy ra?
- Tôi chẳng còn viên đạn nào. Tôi đã bắn hết. Cái lỗi chết tiệt của tôi. Tất cả đạn tôi có đều nằm trong khẩu súng.
- Mày bắn một trong những người nông dân?
- Vâng.
- Chết?
- Vâng.
Họ ngồi thinh lặng trong bóng đen.
- Có thể tôi đã mua đạn ở Munoz. - Blevins nói. - Trước khi tôi đến đây. Tôi có tiền.
John Grady nhìn nó. - Mày có hình dung ra cái kiểu hỗn độn mà mày đang gặp phải không?
Blevins không trả lời.
- Họ định làm gì mày và họ đã nói gì?
- Đưa tôi đến trại cải tạo, tôi cho là vậy.
- Họ chẳng gửi mày đến đó đâu.
- Tại sao không?
- Mày không được may mắn như vậy. - Rawlins nói.
- Tôi chưa đến tuổi để bị treo cổ.
- Bọn chúng sẽ nói dối về tuổi của mày.
- Họ không áp dụng án tử hình ở đất nước này. - John Grady nói - Đừng nghe anh ta.
- Mày biết họ tìm bắt bọn tao chứ? - Rawlins nói.
- Vâng, tôi biết. Tôi biết làm gì đây, gửi cho các anh bức điện ư?
John Grady đợi Rawlins trả lời nhưng anh ta không. Cái bóng của tấm lưới sắt phía trên lối cánh cửa nằm trải nghiêng trên bức tường phía xa trông như một trò chơi gạch phấn mà không gian trong bóng đen và cái phòng ngủ hôi hám có gì đó như bị lệch. Hắn gập tấm chăn lại và ngồi lên đó rồi ngả người dựa vào tường.
- Họ có bao giờ để cho mày ra ngoài không?
- Tôi không biết.
- Ý mày là sao?
- Tôi không thể đi bộ.
- Mày không đi được à?
- Đã nói rồi mà.
- Sao mày không đi được? - Rawlins nói.
- Quỷ tha ma bắt, bọn chúng đập gãy chân tôi.
Họ ngồi. Không ai nói gì. Chẳng bao lâu trời trở tối. Ông già ở bên kia phòng bắt đầu ngáy. Họ có thể nghe những âm thanh từ ngôi làng xa xôi. Những con chó. Một người mẹ đang gọi. Tiếng nhạc đồng quê Ranchero với giọng falsetto lanh lảnh như nỗi đau được phát ra từ một cái máy thu thanh rẻ tiền ở đâu đó trong bóng đêm sâu thẳm.
Đêm đó cậu mơ về những con ngựa trên một bãi đất ở cao nguyên nơi những cơn mưa mùa xuân nuôi dưỡng cây cỏ và hoa dại trên mặt đất và những đóa hoa nở rộ xuyên suốt một màu xanh, màu vàng xa đến mức mắt có thể nhìn thấy. Và trong giấc mơ đó, cậu ở giữa những con ngựa đang chạy, và trong giấc mơ đó, cậu cùng chạy với những con ngựa và chúng săn đuổi những con ngựa cái non trên cao nguyên, nơi màu hạt dẻ và sắc hồng rực rỡ của chúng sáng lên trong ánh nắng mặt trời. Những con ngựa non chạy cùng mẹ chúng và giẫm đạp lên những đóa hoa trong khói bụi của phấn hoa lơ lửng trong ánh nắng mặt trời như bột vàng óng và chúng chạy. Cậu và bầy ngựa chạy dọc theo những ngọn núi trên cao, nơi mặt đất vang rền tiếng vó câu. Chúng bay lơ lửng, rẽ hướng và phi, bờm và đuôi chúng tung bay như bọt nước và chẳng có gì khác trong cái thế giới diệu kỳ đó. Chúng di chuyển trong âm vang giống như tiếng nhạc và không con nào trong số chúng tỏ ra sợ hãi cả, ngựa thuần, ngựa non và ngựa cái và chúng chạy trong tiếng vang vốn là cái thế giới không thể diễn tả được mà chỉ có thể ngợi ca.
Sáng hôm sau, hai tên lính đến mở cửa rồi còng tay Rawlins và dẫn anh ta đi. John Grady đứng và hỏi bọn chúng đưa anh ta đi đâu nhưng họ không trả lời. Rawlins thậm chí cũng không nhìn lại.
Viên đội trưởng đang ngồi ở bàn uống cà phê và đọc một tờ báo cũ cách đây ba ngày từ Monterrey. Gã nhìn lên.
- Hộ chiếu! - Gã nói.
- Tôi không có hộ chiếu. - Rawlins nói.
Viên đội trưởng nhìn anh ta. Gã nhướng mày trong điệu bộ ngạc nhiên giả tạo. - Không có hộ chiếu à? - Gã nói. - Mày có giấy tờ tùy thân không?
Rawlins sờ soạng vòng quanh cái túi sau bên trái của mình bằng hai bàn tay bị còng. Anh có thể với đến cái túi nhưng anh không thể thọc tay vào đó. Viên đội trưởng gật đầu và một trong những tên lính kia bước đến và rút ra cái ví và đưa cho viên đội trưởng. Gã đội trưởng ngả người ra lưng ghế. - Tháo còng cho hắn. - Gã nói.
Tên lính đưa chiếc chìa khóa về phía trước và nắm lấy khuỷu tay của Rawlins rồi mở còng. Hắn bước lui lại rồi tra chiếc chìa khóa vào lại thắt lưng. Rawlins đứng xoa xoa hai khuỷu tay của mình. Gã đội trưởng mở cái ví da bị thâm vì mồ hôi. Gã nhìn hai mặt của cái ví và ngước lên nhìn Rawlins. Rồi gã mở chiếc ví, lấy ra tám thẻ và bức ảnh của Betty Ward, gã lấy ra tiền Mỹ và những tờ peso của Mexico vẫn còn nguyên vẹn. Gã trải những thứ này ra trên bàn, ngả người ra ghế, chắp hai tay lại và dùng ngón trỏ gõ gõ vào cằm mình rồi nhìn Rawlins. Rawlins có thể nghe tiếng một con dê từ bên ngoài. Anh ta có thể nghe tiếng những đứa trẻ. Gã đội trưởng làm một động tác xoay tròn nhè nhẹ bằng một ngón tay. - Quay lui lại! - Gã nói.
Anh ta làm theo lời.
- Tụt quần xuống!
- Làm gì vậy?
- Tụt quần xuống!
- Để làm cái quái gì chứ?