Cậu kìm dây cương, con ngựa dừng lại rồi đứng run rẩy, bước chập choạng trên đường, đầu nó lắc qua lắc lại với cái mõm đầy nước bọt. Cô ấy ngồi trên lưng ngựa. Cậu bỏ nón ra, đưa ống tay áo quẹt ngang trán rồi vẫy chào cô phía trước. Cậu đội lại nón, giật dây cương phóng ra khỏi con đường. Cậu di chuyển xuyên qua gốc cây lách rồi ngoảnh lại, vì vậy cậu có thể nhìn thấy cô ấy đi ngang qua. Cô thúc con ngựa tiến lên và tiếp tục đi. Khi cô theo kịp cậu, cậu chạm vào vành nón của mình bằng ngón tay trỏ rồi gật đầu. Cậu nghĩ cô ấy sẽ đi qua nhưng không, cô dừng lại, quay mặt ngoái nhìn về phía cậu. Những tia sáng hắt lên từ mặt nước in vào lớp da đen bóng của con ngựa Ả Rập. Cậu ngồi trên con ngựa đực giống đầm đìa mồ hôi như kẻ cướp đường dưới cái nhìn chằm chằm của cô. Cô đợi cậu lên tiếng và rồi cậu cố nhớ mình đã nói gì. Cậu chỉ biết điều đó làm cô mỉm cười và đó không phải là ý định của cậu. Cô quay mặt lại, nhìn qua bên kia con lạch nơi những tia nắng muộn màng lóe sáng rồi cô quay lại nhìn cậu, nhìn con ngựa.
- Tôi muốn cưỡi nó. - Cô nói.
- Cái gì?
- Tôi muốn cưỡi nó.
Dưới vành nón màu đen, cô chăm chú nhìn nó.
Cậu ném một tia nhìn ngang qua cây lách đang nghiêng nghiêng trong gió thốc lên từ con lạch như thể có một sự trợ giúp nào dành cho cậu từ hướng này. Cậu nhìn cô.
- Chừng nào? - Cậu hỏi.
- Chừng nào cái gì?
- Chừng nào cô muốn cưỡi nó?
- Bây giờ, tôi muốn cưỡi nó ngay bây giờ.
Cậu nhìn xuống con ngựa như thể quá kỳ khôi nếu nhìn nó như vậy.
- Nó không có yên cương.
- Vâng. - Cô nói. - Tôi biết.
Cậu thúc con ngựa giữa hai gót chân và cùng lúc đó cậu kéo sợi cương lên để khiến cho nó cảm thấy bất an và khó khăn, nhưng nó vẫn đứng yên.
- Tôi không biết liệu ngài mạnh thường quân có muốn cô cưỡi nó không. Cha cô đấy.
Cô nhìn cậu, nở một nụ cười thương hại, và thật ra chẳng có sự thương hại nào trong đó. Cô bước xuống, nâng sợi cương qua đầu con ngựa ô rồi quay lại nhìn cậu với sợi cương phía sau cô.
- Xuống đi. - Cô nói.
- Cô chắc về chuyện này chứ?
- Vâng. Nhanh nào.
Cậu trượt xuống đất. Phần bên trong của ống quần cậu nóng lên và ướt đẫm.
- Cô muốn làm gì với con ngựa của cô?
- Tôi muốn anh dắt nó về nhà cho tôi.
- Sẽ có người nhìn thấy tôi ở nhà.
- Dắt nó đến phòng của Armando.
- Cô định gây rắc rối cho tôi đấy à?
- Anh gặp rắc rối rồi.
Cô quay lại, vòng sợi dây cương qua cái sừng yên ngựa, bước đến nắm lấy sợi dây cương từ tay cậu rồi đưa chúng lên và quay người, một tay đặt lên vai cậu. Cậu có thể cảm nhận trái tim mình đang đập mạnh. Cậu cúi người và lấy những ngón tay có buộc vải của mình làm bàn đạp cho cô. Cô đặt chiếc ủng của mình lên hai bàn tay cậu rồi cậu nâng cô lên, cô xoạc người qua lưng ngựa và nhìn xuống cậu. Cô dùng ủng thúc mạnh vào con ngựa tiến về phía trước và phóng theo đường mòn dọc ven rìa con lạch rồi biến mất tăm.
Cậu chậm rãi cưỡi về nhà trên lưng con ngựa Ả Rập. Mặt trời lặn xuống rất lâu. Cậu nghĩ cô ấy sẽ gặp lại cậu và họ có thể đổi ngựa nhưng không có chuyện đó. Trong ráng chiều đỏ rực, cậu dẫn con ngựa ô băng ngang qua nhà Armando và đưa nó vào chuồng phía sau ngôi nhà của gã. Cậu tháo vòng dây cương, nới lỏng những sợi đai yên và để mặc nó đứng trong chuồng, yên vẫn để nguyên và cột cái vòng cương vào thanh chấn. Không có ánh đèn trong nhà, cậu nghĩ chắc chẳng có ai trong đó nhưng khi cậu bước lui xuống lối đi băng qua ngôi nhà thì ánh đèn sáng lên ở nhà bếp. Cậu bước nhanh hơn. Cậu nghe tiếng cửa mở phía sau nhưng không quay lại, và dù đó là ai thì họ cũng không nói hay gọi gì cậu.
Lần cuối cùng cậu gặp cô ấy là trước khi cô trở về Mexico. Với dáng vóc oai vệ và đĩnh đạc, cô phi ngựa ra khỏi núi và tiếp tục thoát khỏi cơn bão sắp hình thành về hướng bắc và những đám mây đen đang phủ trên đầu. Chiếc nón được kéo xuống phía trước và cột chặt dưới cằm nhờ cái nơ, khi cô phi ngựa, mái tóc đen nhánh của cô xoắn lên và tung bay khắp bờ vai. Tia chớp sáng lên câm lặng phía sau xuyên qua những đám mây đen. Cô tiếp tục phi ngựa qua những ngọn đồi thấp như chẳng hề biết gì khi những cơn mưa đầu tiên bay lất phất trong gió và đổ xuống vùng đồng cỏ trên cao. Rồi cô băng qua những con lạch màu xanh tái đầy lau sậy cho đến khi cơn mưa đổ xuống và che khuất hình bóng cô trong khung cảnh mùa hè hoang dã: ngựa thật, người thật, vùng đất và bầu trời đều thật, song đó chỉ là một giấc mơ.
Doña Alfonsa vừa là bà vừa là người mẹ tinh thần của cô gái; cuộc đời bà ở trang trại này mang lại những mối ràng buộc của thế giới cũ, những truyền thống và phong tục xưa. Ngoại trừ những bộ sách được bọc bằng bìa da cũ kỹ, còn lại những cuốn sách khác trong thư viện đều là sách của bà và chiếc dương cầm cũng của bà. Chiếc máy chiếu cổ với hai ống kính trong phòng khách và một cặp súng Greener trong chiếc tủ Italia ở phòng Don Hector là của em trai bà và chính người em trai này xuất hiện cùng bà trong những tấm hình chụp phía trước nhà thờ tại những thủ đô ở châu Âu. Bà và cô em dâu mặc y phục trắng mùa hè, cậu em trai khoác bộ vest, cà vạt và chiếc mũ panama. Hàm râu óng rậm đen. Đôi mắt đen của người Tây Ban Nha. Dáng đứng của một nhân vật quan trọng. Một trong những bức chân dung sơn dầu cổ nhất trong phòng khách với lớp nước bóng đen sẫm đã nổi vân rạn giống như một tác phẩm được tráng men sứ chính là chân dung ông nội bà chụp vào năm 1797 ở Toledo. Gần nhất là bức chân dung của bà mặc áo dài trong dịp sinh nhật lần thứ mười lăm ở Rosario vào năm 1892.
John Grady chưa bao giờ gặp bà. Có lẽ một hình bóng vụt thoáng qua dọc theo hành lang. Cậu không biết bà đã ý thức được sự tồn tại của cậu cho đến một tuần sau khi cô gái trở về Mexico, cậu được mời đến nhà vào buổi tối để chơi cờ. Khi cậu xuất hiện ở nhà bếp trong chiếc áo mới và chiếc quần cụt bằng vải bạt, bà Maria vẫn đang rửa đĩa. Bà quay lại nhìn cậu đang cầm nón trong tay. Chào cậu. - Bà nói. - Bà ấy đang đợi cậu đấy.
Cậu cảm ơn bà Maria rồi đi qua nhà bếp và bước đến gian phòng, đứng ở cửa phòng ăn. Bà Alfonsa đang ngồi ở bàn bèn đứng dậy. Bà khẽ cúi đầu. Chào buổi tối. - Bà nói. - Mời vào. Tôi là Alfonsa.
Bà mặc váy xám sẫm và áo khoác trắng xếp li, mái tóc hoa râm được bới ra sau khiến bà trông giống một giáo viên, mà quả thực trước đây bà là giáo viên. Bà nói bằng chất giọng người Anh. Bà chìa một bàn tay ra và cậu vừa định bước tới trước để bắt tay thì chợt hiểu bà đang ra dấu về phía chiếc ghế bên tay phải của bà.
Chào buổi tối, thưa bà. - Cậu nói. - Cháu là John Grady Cole.
- Nào, - Bà nói. - Ngồi đi. Ta rất vui vì cháu đã đến.
- Cảm ơn bà.
Cậu kéo ghế ra, ngồi xuống và đặt nón lên chiếc ghế bên cạnh, nhìn vào bàn cờ. Bà đặt hai ngón cái ở rìa và đẩy nhẹ nó về phía cậu. Bàn cờ được làm từ những mảnh gỗ óc chó Cápca và gỗ thích mắt chim với phần viền bên ngoài viền ngọc trai, những quân cờ được khắc đẽo từ ngà voi và sừng đen.
- Cháu trai ta không chơi. - Bà nói. - Ta thắng nó. Thắng được chứ?
- Vâng, thưa bà. Cháu tin là thế.
Cũng như cậu, bà thuận tay trái hoặc bà di chuyển những con cờ bằng tay trái. Hai ngón tay áp út của bà bị mất nhưng cậu không để ý cho đến khi trận đấu đến hồi gay cấn. Cuối cùng khi cậu bắt con hậu của bà, bà thừa nhận thua cuộc, mỉm cười khen ngợi rồi nhìn vào bàn cờ với thái độ mất kiên nhẫn. Họ tiếp tục ván thứ hai. Cậu bắt hai con mã và một con tượng khi bà thực hiện hai nước liên tiếp khiến cậu dừng lại. Cậu nhìn chằm chằm vào bàn cờ. Cậu chợt nghĩ ra rằng có thể bà ấy muốn biết liệu cậu có thắng được ván cờ này không, và cậu nhận ra rằng mình đã tính đến nước cờ đó, cậu biết bà ấy đã nghĩ về nước đó trước cả cậu. Cậu ngồi tựa vào thành ghế và nhìn bàn cờ. Bà quan sát cậu. Cậu chồm người về trước, di chuyển con tượng và đánh bại bà trong bốn nước đi.
- Ta dại thật. - Bà nói. - Quân mã cánh hậu. Thật sai lầm. Cậu chơi tốt lắm.
- Vâng, thưa bà. Bà cũng chơi tốt lắm.
Bà kéo tay áo khoác lên để xem giờ trên chiếc đồng hồ nhỏ bằng bạc đang đeo ở cổ tay. John Grady ngồi đó. Đã quá giờ ngủ của cậu hai tiếng đồng hồ.
- Một ván nữa chứ? - Bà nói.
- Vâng, thưa bà.
Bà sử dụng cách khai cuộc mà cậu chưa biết bao giờ. Cuối cùng cậu để mất con hậu và chào thua. Bà mỉm cười nhìn cậu. Carlos bước vào với một khay trà và đặt nó lên bàn. Bà đẩy bàn cờ sang một bên, đẩy cái khay về phía cậu rồi bày tách và đĩa ra. Một đĩa đựng những lát bánh, một đĩa đựng bánh quy, vài loại phô mai và một chén nhỏ đựng thứ nước chấm màu nâu với chiếc muỗng bạc trong đó.
- Cậu dùng sữa chứ? - Bà hỏi.
- Không, thưa bà.
Bà gật đầu. Bà rót trà.
- Ta không thể dùng lại cách khai cuộc đó một lần nữa với hiệu quả như vậy. - Bà nói.
- Cháu chưa bao giờ nhìn thấy nước đi ấy.
- À. Nó được nhà vô địch Ái Nhĩ Lan Pollock nghĩ ra. Ông ta gọi đó là cách khai cuộc riêng của Vua. Ta e là cậu có thể biết.
- Cháu muốn có dịp chứng kiến lại nước đi đó.
- Được. Dĩ nhiên.
Bà đẩy chiếc khay về phía trước. Nào, - Bà nói. - Tự nhiên đi.
- Cháu không dùng thêm được nữa. Ăn trễ quá, cháu sẽ gặp ác mộng.
Bà cười. Bà mở chiếc khăn nhỏ bằng nỉ ra khỏi khay.
- Ta luôn có những giấc mơ kỳ lạ. Nhưng ta e rằng chúng hoàn toàn độc lập với thói quen ăn uống của ta.
- Vâng, thưa bà.
- Những giấc mơ ấy luôn có, từ lâu rồi. Giờ đây ta vẫn mơ thấy những giấc mơ thời con gái. Chúng kéo dài một cách kỳ lạ vì điều gì đó hoàn toàn không thật.
- Bà nghĩ chúng có ý nghĩa gì không?
Bà trông có vẻ ngạc nhiên. Ồ, có chứ. - Bà nói. - Cậu không thấy vậy sao?
- Dạ, cháu không biết. Chúng ở trong đầu bà.
Bà lại mỉm cười, nói: Ta không coi đó là sự kết án như cậu nghĩ. Cậu học chơi cờ ở đâu?
- Bố cháu dạy ạ.
- Hẳn ông ấy là một tay cờ cừ khôi.
- Ông ấy là người tuyệt nhất mà cháu từng biết.
- Cậu không thể thắng nổi ông ấy sao?
- Thỉnh thoảng. Ông đã từng ở trong quân ngũ và sau chiến tranh ông trở về, cháu tìm đến để đánh bại ông nhưng cháu không cho rằng ông còn để tâm đến nó. Lúc này ông không chơi cờ nữa.
- Thật đáng tiếc.
- Vâng, thưa bà. Đúng như vậy.
Bà rót đầy những chiếc tách.
- Ta mất những ngón tay vì súng. - Bà nói. - Bắn những con bồ câu còn đang bay. Nòng súng bên tay mặt vỡ tung ra. Ta mới mười bảy tuổi. Tuổi của Alejandra. Chẳng có gì để bối rối cả. Người ta thường hiếu kỳ. Đó chỉ là tự nhiên. Ta đoán vết sẹo trên má của cháu là do ngựa.
- Vâng thưa bà. Đó là lỗi của cháu.
Bà quan sát cậu với vẻ mặt thân thiện. Bà mỉm cười.
- Những vết sẹo có sức mạnh gợi cho chúng ta nhớ rằng quá khứ của chúng ta là thật. Những sự cố gây ra chúng không thể quên được, phải thế không?
- Không, thưa bà.
- Alejandra sẽ ở Mexico với mẹ nó trong hai tuần. Rồi nó sẽ quay lại đây vào mùa hè.
Cậu nuốt nước bọt.
- Dù cho bề ngoài của ta có nói lên điều gì, ta cũng không phải là bà lão lỗi thời. Ở đây chúng ta sống trong một thế giới nhỏ. Một thế giới khép kín. Alejandra và ta bất đồng với nhau dữ dội. Thực sự là rất dữ dội. Nó rất giống ta ở độ tuổi ấy và dường như đôi khi ta phải vật lộn kịch liệt với cái bản ngã thời quá khứ của mình. Ta bất hạnh khi còn là một đứa trẻ vì một lý do vốn không còn quan trọng nữa. Nhưng điều mà trong đó chúng ta được kết hợp, cháu gái ta và ta...
Bà đột nhiên dừng lại. Bà đẩy tách và đĩa sang một bên. Mặt gỗ được đánh bóng của chiếc bàn, nơi đã đặt tách và đĩa, hằn dấu vòng tròn hơi nước, nó từ từ thu nhỏ lại và biến mất. Bà nhìn lên.
- Cậu biết đấy, ta chẳng có ai để khuyên răn ta. Có lẽ ta đã không lắng nghe. Ta lớn lên trong một thế giới của đàn ông. Ta nghĩ điều này sẽ chuẩn bị cho ta để sống trong một thế giới của đàn ông, nhưng không phải. Ta cũng có tính hay chống đối và vì vậy ta nhận ra nó ở những người khác. Song, ta nghĩ mình không muốn phá vỡ mọi thứ. Hoặc có thể chỉ những thứ đó muốn phá vỡ ta. Tên của những thực thể vốn có sức mạnh chế ngự chúng ta luôn thay đổi theo thời gian. Quy ước và quyền hành được thay thế bởi tính nhu nhược. Nhưng thái độ của ta đối với chúng không thay đổi. Không thay đổi. Cậu biết đấy, ta không thể không cảm thông cho Alejandra. Ngay cả sự tồi tệ nhất của nó. Nhưng ta sẽ không để cho nó bất hạnh. Ta sẽ không để ai nói xấu đến nó. Hoặc lời đàm tiếu. Ta biết đó là gì. Nó nghĩ rằng nó có thể lắc đầu và từ bỏ mọi thứ. Trong một thế giới lý tưởng, sự đàm tiếu
Về tình trạng nhàn rỗi chẳng mang lại hậu quả nào. Nhưng ta đã nhìn thấy những hậu quả trong thế giới thật và chúng thật sự rất nghiêm trọng. Chúng có thể là những hậu quả của tính nghiêm trọng loại trừ việc đổ máu. Loại trừ cái chết. Ta đã chứng kiến điều đó trong gia tộc của ta. Điều mà Alejandra từ bỏ chỉ là vấn đề hình thức bên ngoài hoặc cái tập quán lỗi thời...
Bàn tay khiếm khuyết cử động nhanh như thể hiện thái độ vừa xua đuổi vừa kết luận. Bà khép hai bàn tay lại và nhìn cậu.
- Ngay cả nếu cậu nhỏ tuổi hơn nhưng việc nhìn thấy cậu cưỡi ngựa chung với nó trong trang trại mà không có sự giám sát của người lớn là không thể chấp nhận. Bởi vì việc này đã đến tai ta và ta đã xem xét liệu có nói với Alejandra về điều đó, nhưng ta đã quyết định không.
Bà ngả người ra sau. Cậu có thể nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ trong gian phòng. Không có tiếng động trong nhà bếp. Bà ngồi nhìn cậu.
- Bà muốn cháu phải làm gì? - Cậu nói.
- Ta muốn cậu phải dè chừng đến danh dự của một cô gái trẻ.
- Cháu không bao giờ có ý đó cả.
Bà mỉm cười. Ta tin cậu. - Bà nói. - Nhưng cậu phải hiểu. Đây là một đất nước khác. Ở đây danh dự của người phụ nữ là tất cả những gì cô ta có.
- Vâng, thưa bà.
- Sẽ không có sự dung thứ, cậu biết đấy.
- Bà?
- Không có sự dung thứ. Đối với phụ nữ. Một người đàn ông có thể đánh mất danh dự của mình và anh ta có thể lấy lại được. Nhưng người phụ nữ thì không. Cô ấy không thể.
Họ ngồi. Bà nhìn cậu. Cậu gõ gõ vào chóp nón bằng bốn đầu ngón tay và nhìn lên.
- Cháu cho rằng như thế dường như không đúng.
- Không đúng ư? - Bà nói. - Ồ. Nghe này.
Bà đưa một tay ra ngoài như thể gợi lại một điều gì đó mà bà đã nhầm lẫn. Không. - Bà nói. - Không. Đó không phải là vấn đề đúng hay sai. Cậu phải hiểu như vậy. Đó là vấn đề ai phải nói. Trong trường hợp này ta là người phải nói như vậy.
Tiếng đồng hồ gõ tích tắc trong gian phòng. Bà ngồi nhìn cậu. Cậu cầm nón lên.
- Vâng. Cháu cho rằng bà không mời cháu đến đây để nói về việc này.
- Cậu đúng đấy. - Bà nói. - Chính vì điều đó mà ta hầu như đã không muốn mời cậu đến đây.
Trên ngọn núi đỉnh bằng họ nhìn một cơn bão đang hình thành ở hướng bắc. Lúc mặt trời lặn, ánh sáng trở nên mờ tối. Những bóng ngọc bích đen sẫm của những con lạch nhỏ phía dưới nằm rải rác trên thảm của vùng thảo nguyên hoang sơ giống như những lỗ thủng xuyên qua một chân trời khác. Những dải màu hình phiến về hướng tây như tỏa ra một màu đỏ máu phía dưới những áng mây dày đặc. Một màu tím đột ngột bao trùm lên trái đất.
Họ ngồi xếp bằng trên mặt đất đang rung chuyển dưới ảnh hưởng của sấm sét và họ thắp lên một ngọn lửa từ đống đổ nát của cái hàng rào chắn cũ. Đàn chim bay ra khỏi bầu trời sắp sửa tối đen và lượn dọc theo rìa của ngọn núi đỉnh bằng. Về hướng bắc, những tia chớp lóe lên dọc theo đường chân trời trông như những cây độc quả vàng đang bốc cháy.
- Cậu muốn nói điều gì khác? - Rawlins nói.
- Là về chuyện đó.
- Cậu nghĩ bà ấy nói thay mặt cho Rocha?
- Tôi không nghĩ bà ấy nói thay cho bất cứ ai, ngoại trừ chính bà ấy.
- Bà ấy nghĩ cậu đang để ý đến cô gái.
- Chính tôi đang làm việc đó.
- Cậu làm chuyện đó được à?
John Grady nhìn ngọn lửa chằm chằm. Tôi không biết. - Cậu nói. - Tôi không nghĩ về chuyện đó.
- Chắc là cậu không nghĩ đến chứ. - Rawlins nói.
Cậu nhìn Rawlins rồi nhìn ngọn lửa.
- Khi nào cô ấy trở lại?
- Khoảng một tuần.
- Tôi cho rằng cậu chẳng có gì để cô ấy phải chú ý đến.
John Grady gật đầu. Tôi chỉ trò chuyện. Tôi có thể nói chuyện với cô ấy.
Những giọt mưa đầu tiên rơi xuống ngọn lửa. Cậu nhìn Rawlins.
- Cậu không hối tiếc vì đã xuống đây sao?
- Không.
Cậu gật đầu. Rawlins bật đứng dậy.
- Cậu muốn con cá của mình hoặc cậu phải ngồi dưới kia trong cơn mưa?
- Tôi sẽ bắt nó.
- Tôi hiểu.
Họ ngồi, đầu đội mũ áo mưa tay dài. Họ nói như thể đang diễn thuyết giữa bóng đêm.
- Tôi biết ông già đó thích cậu. - Rawlins nói. Nhưng điều đó không có nghĩa là ông ấy sẽ mặc cho cậu gạ gẫm con gái mình.
- Ừ, tôi biết.
- Tôi biết cậu không giữ con át chủ bài.
- Điều tôi nhìn thấy là cậu sắp sửa khiến chúng ta bị đuổi việc và chuồn khỏi nơi này.
Họ nhìn ngọn lửa. Sợi dây kẽm bốc cháy từ các cây cột hàng rào nằm rải rác thành những hình thù xiêu vẹo trên mặt đất và các vòng cuốn của nó nằm trong lửa và bừng bừng nóng đỏ sâu tận đến những mẩu than âm ỉ.
Những con ngựa từ trong bóng đêm bước đến đứng bên mé ánh lửa dưới cơn mưa, lông của chúng óng mượt và sặc sỡ, những đôi mắt đỏ rực giữa khung trời đêm.
- Cậu vẫn chưa cho tôi biết cậu trả lời cô ấy như thế nào? - Rawlins nói.
- Tôi nói với cô ấy rằng tôi sẽ làm bất cứ điều gì cô ấy yêu cầu.
- Cô ấy yêu cầu gì?
- Tôi không chắc.
Họ ngồi nhìn ngọn lửa.
- Cậu có nói gì không? - Rawlins nói.
- Tôi cũng không biết. Tôi không biết liệu mình có nói hay không.
- Được rồi, dù cậu có nói hay không.
- Đó là điều tôi đã nghĩ đến. Nhưng tôi không biết.
Năm buổi tối sau đó, trong lúc đang thiu ngủ trong giường của nhà ngựa, đột nhiên có tiếng gõ nhẹ ở cửa. Cậu ngồi dậy. Có người đang đứng bên ngoài. Cậu có thể nhìn thấy ánh sáng xuyên qua những đường nối của ván tường.
- Đợi một chút. - Cậu nói.
Trong bóng tối, cậu đứng dậy và mặc vội chiếc quần dài rồi mở cửa. Cô ấy đang đứng trong ô chuồng ngựa, một tay cầm ngọn đèn pha ánh sáng chĩa xuống mặt đất.
- Chuyện gì vậy? - Cậu thì thầm.
- Tôi đây.
Cô đưa ngọn đèn lên như thể để làm sáng tỏ sự thật. Cậu không thể nghĩ ra điều gì để nói.
- Mấy giờ rồi?
- Tôi không biết. Mười một giờ hoặc gần như vậy.
Cậu nhìn ngang qua chiếc cổng hẹp dẫn đến cánh cửa của gã giữ ngựa.
- Chúng ta sẽ đánh thức Esteban mất. - Cậu nói.
- Vậy thì mời tôi vào nhà đi.
Cậu bước lui và cô ấy bước ngang qua cậu, y phục cô sột soạt, tóc cùng mùi nước hoa đầy vẻ quyến rũ. Cậu kéo cánh cửa và dùng tay cài cái then chốt bằng gỗ rồi quay sang nhìn cô ấy.
- Tốt nhất là tôi không nên bật đèn. - Cậu nói.
- Cũng được. Dù sao thì máy phát điện cũng tắt rồi. Bà ấy nói gì với anh?
- Hẳn bà ấy đã nói với cô những điều bà ấy đã nói.
- Dĩ nhiên. Bà ấy nói gì?
- Cô có muốn ngồi không?
Cô quay người và ngồi lên cạnh giường rồi đẩy một chân phía dưới mình. Cô đặt cái đèn pha đang sáng lên giường rồi đẩy nó xuống dưới tấm chăn, nơi đó nó tỏa sáng khắp căn phòng bằng một màu sáng dịu nhẹ.
- Bà ấy không muốn nhìn thấy tôi bên cạnh cô. Bên ngoài trang trại.
- Armando nói với bà ấy rằng cô cưỡi con ngựa của tôi.
- Tôi biết.
- Tôi sẽ không để phải bị đối xử như vậy. - Cô nói.
Trong ánh sáng ấy, cô trông lạ như diễn viên sân khấu. Cô đưa một tay ngang qua tấm chăn như thể muốn vuốt ve một vật gì đó. Cô ngước mặt nhìn cậu, khuôn mặt cô nhợt nhạt và khắc khổ trong ánh sáng phản chiếu từ dưới lên, mắt cô lõm sâu trong những chỗ hõm bị che khuất và cậu có thể nhìn thấy trống ngực cô di chuyển trong ánh sáng mờ mờ. Trong khuôn mặt và vóc dáng của cô, cậu nhìn thấy một điều gì đó mà cậu chưa từng nhìn thấy trước đây và tên của điều đó thật não nề.
- Tôi nghĩ anh là bạn tôi. - Cô ta nói.
- Cho tôi biết phải làm gì. - Cậu nói. - Tôi sẽ làm bất cứ điều gì cô nói.
Khí ẩm của màn đêm làm lắng khói bụi bốc lên từ con đường lầy lội và họ cưỡi ngựa sát cạnh nhau ở bước bộ, cưỡi chúng chỉ với bộ dây cương và không có yên ngựa, dắt chúng qua cổng lên con đường rồi phóng lên và cưỡi sát cạnh nhau trên con đường lầy lội. Ánh trăng chếch ở hướng tây và lác đác vài tiếng chó sủa theo hướng lò mổ cừu và những con chó săn đáp trả từ chuồng của chúng. Cậu đóng cổng lại rồi quay sang khum hai bàn tay thành hình chén để cô bước lên lưng trần của con ngựa ô rồi tháo con ngựa giống ra khỏi cổng. Cùng lúc đó, cậu đạp lên thanh cổng rồi thót lên mình ngựa, xoay đầu nó lại và cả hai cùng cưỡi bên cạnh nhau trên con đường lầy lội. Ánh trăng chếch về hướng tây giống như mặt trăng được làm bằng vải lanh trắng treo lủng lẳng từ những sợi dây kẽm và một vài tiếng chó sủa.
Thỉnh thoảng họ như biến mất cho đến khi trời hừng sáng. Cậu dẫn con ngựa giống vào chuồng, đi vào nhà dùng điểm tâm. Một giờ sau cậu gặp lại Antonio ở chuồng ngựa và đi bộ ngang qua nhà lão cai đến bãi quây, nơi đàn ngựa cái đang đứng đợi.
Ban đêm, từ trang trại, họ đã đi dọc theo ngọn núi đỉnh bằng ở hướng tây trong hai giờ và thỉnh thoảng cậu nhóm lửa lên. Họ có thể nhìn thấy những bóng đèn măng-sông ở những cánh cổng của trang trại rất xa phía dưới. Họ nổi bồng bềnh trong một bể tối đen và thỉnh thoảng những ánh đèn dường như di chuyển như thể thế giới phía dưới kia bật lên một trung tâm nào đó khác, và họ nhìn thấy hàng trăm vì sao rơi xuống mặt đất. Nàng kể cho cậu nghe chuyện về gia đình, về cha nàng và về Mexico. Lúc trở về, họ dẫn những con ngựa vào con lạch, chúng đứng sâu đến tận ngực để uống nước; những vì sao trong con lạch nhảy nhót và nghiêng ngả. Nếu trời trút mưa xuống những ngọn núi này thì không khí sẽ trở nên gần gũi và đêm tối sẽ ấm áp hơn. Một đêm nọ, cậu để cô ở lại và cưỡi dọc theo mé con lạch xuyên qua những cây lách và cây liễu rồi trượt xuống ngựa, cởi hết quần áo và ủng rồi bước đến con lạch nơi mặt trăng đang thướt tha lướt đi trước mặt cậu. Những con vịt trời kêu quàng quạc trong bầu trời đêm. Mặt nước toàn một màu đen và ấm áp, cậu bước vào con lạch rồi sải rộng hai cánh tay trong nước, mặt nước tối đen và mềm mại như lụa. Cậu phóng tầm nhìn ngang qua mặt nước đen tĩnh mịch đó đến nơi mà nàng đứng trên bờ cùng với con ngựa. Cậu nhìn về nơi mà nàng bước đi, một thân hình nhợt nhạt, mờ mờ như một con nhộng lộ ra, và đi vào vũng nước.
Nàng dừng lại nửa chừng để nhìn về phía sau. Đứng run rẩy trong nước và không phải vì cái lạnh bởi nước không lạnh tí nào. Không nói một lời với nàng. Không gọi tên nàng. Khi nàng đến gần cậu đưa tay ra và nàng cầm lấy. Nàng mong manh trong mắt họ và trong nàng dường như đang cháy bỏng. Giống như con sói lửa trong một khu rừng tối đen. Điều ấy khiến trời trở nên lạnh cóng. Giống như mặt trăng trở nên lạnh lẽo. Mái tóc đen của nàng bồng bềnh trong nước, chìm rồi nổi giữa mặt hồ tĩnh lặng. Nàng đặt cánh tay kia qua vai cậu và nhìn lên mặt trăng về hướng tây. Không nói một lời cũng không gọi tên nàng. Rồi nàng quay mặt về phía cậu. Ngọt ngào bởi tên trộm của thời gian và xác thịt, ngọt ngào vì sự bất tuân. Những con sếu đang làm tổ đứng một chân giữa những bụi lau cạnh con lạch về hướng nam cũng rút cái mỏ dài khoằm của chúng khỏi đôi cánh để ngắm nhìn. - Anh có yêu em không? - Nàng nói. - Có. - Cậu nói. Cậu gọi tên nàng. - Có, ơn chúa.
Cậu bước đến từ ngôi nhà ngựa, rửa mặt và chải đầu rồi khoác một chiếc áo sạch lên người. Cậu và Rawlins ngồi trên những cái thùng phía dưới mái vòm của nhà trại và hút thuốc trong lúc đợi bữa ăn tối. Trong nhà vang lên tiếng nói chuyện và cười giỡn, rồi câm lặng. Hai gã cao bồi bước đến cánh cửa và đứng nhìn. Rawlins quay mặt và nhìn về hướng bắc dọc theo con đường. Năm gã cảnh sát Mexico đang cưỡi ngựa thành hàng một xuống con đường. Họ mặc y phục ka-ki và ngồi trên lưng tuấn mã. Họ đeo súng ngắn và mang những khẩu carbine ở bao yên ngựa. Rawlins đứng nhìn. Những gã cao bồi khác bước đến cánh cửa và đứng nhìn ra ngoài. Khi những gã cảnh sát băng ngang trên đường, viên chỉ huy liếc nhìn hai gã đàn ông ở ngôi nhà trại dưới mái vòm rồi lướt mắt qua những gã cao bồi đang đứng ở cánh cửa. Rồi họ tiếp tục băng ngang qua nhà của lão cai. Năm gã cảnh sát đi thành hàng một ra khỏi hướng bắc xuyên qua bóng đêm chạng vạng hướng về ngôi nhà trại có mái che phía dưới họ.
Khi cậu đi qua màn đêm trở về nhà ngựa, năm con ngựa đang đứng dưới những gốc cây hồ đào pêcan ở phía xa bên kia của ngôi nhà. Tất cả chúng vẫn chưa được tháo yên, nhưng sáng hôm sau chúng không còn đó nữa. Đêm xuống, nàng đến bên giường cậu và nàng đến liên tiếp trong chín đêm liền. Nàng mở cửa rồi đóng lại, cài then rồi bước đến cái ánh sáng mờ mờ và chỉ có Chúa mới biết lúc ấy là mấy giờ. Nàng cởi y phục rồi trườn cái thân hình trần truồng và thản nhiên của mình tựa vào cậu trên chiếc giường chật hẹp. Nét mềm mại, nước hoa và mái tóc đen của nàng phủ lên người cậu và nàng chẳng đề phòng gì cả. Nàng nói em không đếm xỉa, em không ngại ngùng. Cậu dùng mu bàn tay chặn miệng nàng để nàng khỏi kêu lên. Nàng nằm ngủ tựa vào ngực cậu và cậu không thể chợp mắt cho đến khi ở phía đông bầu trời trở nên hừng sáng một màu xám và cậu thức dậy rồi bước đến nhà bếp để chuẩn bị bữa điểm tâm cho nàng như thể nàng đã dậy sớm.
Rồi nàng trở về lại thành phố. Tối hôm sau trước khi vào nhà ngựa, cậu đi ngang qua phòng của Esteban ở ô chuồng ngựa và nói gì đó với lão già và lão đáp lại nhưng không nhìn cậu. Cậu rửa mặt rồi bước đến ngôi nhà và ăn tối trong nhà bếp. Sau khi ăn xong, cậu và ông chủ ngồi ở bàn ăn và xem cuốn sách lý lịch ngựa, ông chủ đặt câu hỏi với cậu và ghi chú về những con ngựa cắt ông ngả người ra sau, bập bập điếu xì gà của mình rồi gõ nhẹ cây bút chì đang cầm trên tay lên cạnh bàn. Cậu nhìn lên.
- Tốt lắm. - Ông nói. - Cậu đọc cuốn Guzman tới đâu rồi?
- Dạ, tôi chưa sẵn sàng cho tập hai.
Ông chủ mỉm cười, nói: Guzman thật tuyệt vời. Cậu không đọc được tiếng Pháp à?
- Không, thưa ông.
- Người Pháp rất rành về ngựa. Cậu biết chơi bida không?
- Sao ạ?
- Cậu có biết chơi bida không?
- Có, thưa ông. Không hay lắm. Chỉ là bida lỗ.
- Bida lỗ à. Phải. Cậu có muốn chơi không?
- Có, thưa ông.
- Tốt lắm.
Ông chủ gấp những cuốn sách lại và đẩy chiếc ghế lùi về sau, rồi cậu theo ông ra khỏi gian phòng lớn, qua phòng khách và thư viện, đến cánh cửa đôi được đóng bằng ván ô ở cuối căn phòng. Ông chủ mở cửa và họ cùng bước vào một căn phòng tối đen thoang thoảng mùi mốc và mùi gỗ cũ.
Ông kéo tràng hạt có núm tua và thắp sáng chân đèn treo mạ thiếc lộng lẫy được treo trên trần nhà. Phía dưới là một chiếc bàn cổ được làm từ một loại gỗ đen nào đó với hình sư tử được chạm khắc ở chân. Bàn được phủ bởi một tấm màn bằng vải dầu màu vàng và chân đèn treo được hạ thấp từ trần nhà cao sáu mét bởi một đoạn xích dây kéo thông thường. Ở cuối căn phòng là một bàn thờ bằng gỗ được sơn vẽ và khắc chạm rất cũ kỹ phía trên là tượng Chúa Jesus bằng gỗ kích cỡ người thật cũng được sơn vẽ và chạm khắc. Ông chủ ngoảnh mặt lại.
- Tôi hiếm khi chơi. - ông nói. - Tôi hy vọng cậu không phải là một tay chơi cừ?
- Không, thưa ông.
- Tôi gọi Carlos xem ông ta có thể chỉnh cho cái bàn được bằng phẳng hơn không. Lần cuối cùng chúng tôi chơi nó khá chênh. Chúng ta sẽ xem. Đến góc kia. Tôi sẽ chỉ cho cậu.
Họ đứng hai bên bàn và gập tấm khăn về phía giữa, cuộn lại rồi nhấc ra khỏi bàn, chuyển nó qua cạnh bàn rồi họ bước về phía nhau và ông chủ cầm lấy tấm khăn rồi mang nó đặt lên ghế.
- Như cậu nhìn thấy đấy, đây là nhà nguyện. Cậu không mê tín chứ?
- Không, thưa ông. Tôi không nghĩ vậy.
- Nó được coi như là không còn tính thiêng liêng. Vị linh mục đến và nói vài lời. Alfonsa biết điều này. Nhưng dĩ nhiên chiếc bàn đã ở đây trong nhiều năm trời và nhà nguyện vẫn là điều mà lời thánh kinh được ban ra. Mời vị linh mục đến và làm cho nó không còn là một nhà nguyện nữa. Cá nhân tôi còn nghi ngại liệu một điều như thế có thể được chấp nhận hay không. Cái được thánh hóa thì đã được thánh hóa. Quyền lực của vị linh mục giới hạn rất nhiều so với cái mà con người có thể tưởng tượng. Dĩ nhiên nhiều năm nay chẳng có một Thánh lễ nào được tổ chức ở đây.
- Bao nhiêu năm rồi?
Ông chủ lựa qua những cây cơ được gác trong và ngoài cái giá bằng gỗ dái ngựa trong góc phòng nơi họ đang đứng. Ông ngoảnh mặt lại.
- Tôi làm lễ gia nhập nhóm Ki-tô đầu tiên trong nhà nguyện này. Tôi cho rằng đó có thể là thánh lễ cuối cùng ở đây. Tôi cho là khoảng năm 1911.
Ông quay mặt về lại những cây cơ. - Tôi không để cho vị linh mục đến để làm chuyện đó. - ông nói. - Để hủy bỏ tính thiêng liêng của nhà nguyện. Tại sao tôi phải làm như vậy? Tôi thích cảm nhận rằng Chúa đang hiện hữu nơi đây. Trong ngôi nhà của tôi.
Ông đổ những viên bi lên bàn và đưa cây cơ cho John Grady. Nó làm bằng ngà voi và đã vàng ứa theo thời gian, những thớ của ngà voi có thể nhìn thấy được từ bên trong. Ông đánh trước và họ chơi bida mười lăm bi. Ông đánh bại cậu một cách dễ dàng. Ông bước đi xung quanh bàn và thoa phấn lên đầu cây cơ của mình bằng một động tác xoay xoay thật khéo léo rồi xướng lên những cú đánh bằng tiếng Tây Ban Nha. Ông chơi một cách thản nhiên, nghiên cứu thế đánh và vị trí của bàn; trong khi ông nghiên cứu hoặc đánh, ông kể về cuộc cách mạng và lịch sử Mexico và ông kể về bà Alfonsa và Francisco Madero.
- Ông ấy sinh ở Parras, trong tiểu bang này. Một thời những dòng họ của chúng tôi rất thân thiết với nhau. Alfonsita có thể đã được hứa hôn cùng em trai của Francisco. Tôi không chắc lắm. Trong bất cứ trường hợp nào ông nội tôi cũng không bao giờ cho phép kiểu kết hôn như vậy. Các quan điểm chính trị của dòng họ khá cấp tiến. Alfonsita không phải là một đứa trẻ. Lẽ ra bà ấy phải có được sự lựa chọn riêng cho mình nhưng bà đã không được như vậy. Và dù những tình huống có như thế nào, bà dường như không đồng tình với cha mình và đó là nỗi buồn lớn lao cho ông và người mà ông được chôn cùng. Đến lượt số 4.
Ông chủ cúi người, ngắm và đưa viên bi số 4 vào lỗ xa tận cuối bàn rồi ông đứng lên, thoa phấn vào cây cơ.
- Dĩ nhiên kết cuộc chẳng có hậu. Dòng họ tan nát. Cả hai người anh trai đều bị ám sát.
Ông nhìn vào chiếc bàn.
- Cũng như Madero, bà ấy được giáo dục tại châu Âu. Cũng như ông ta, bà ấy đã học về những chính kiến đó,...
Ông di chuyển bàn tay theo cách mà chàng trai này đã từng nhìn thấy nơi bà dì.
- Bà ấy luôn có những chính kiến. Mười bốn.
Ông cúi người, thực hiện cú đánh và thoa phấn vào đầu cây cơ. Ông lắc đầu. - Quốc gia này không phải như quốc gia kia. Mexico không phải là châu Âu. Nhưng đó là một công việc phức tạp. Ông nội của Madero là cha tinh thần của tôi. Cha đỡ đầu của tôi. Don Evaristo. Vì lý do này hay lý do khác ông nội tôi vẫn trung thành với ông ấy. Vốn chẳng phải là một điều khó khăn như vậy. Ông là một người kỳ diệu. Rất tốt bụng. Trung thành với thể chế của Diaz. Ngay cả như thế. Khi Francisco xuất bản cuốn sách của mình, Don Evaristo không tin rằng ông ấy đã viết nó. Tuy nhiên cuốn sách chẳng chứa đựng điều gì là ghê gớm cả. Có lẽ vì một lý do là ông chủ trẻ giàu có đã viết nó. Bảy.
Ông cúi người và đưa viên bi số 7 vào lỗ. Ông dạo bước xung quanh bàn.
- Họ đến Pháp để du học. Ông ấy và Gustavo. Và những người khác nữa. Tất cả những người trẻ tuổi này. Tất cả quay về đầy ắp những chính kiến. Đầy những chính kiến, song giữa họ không có một sự nhất trí chung nào. Cậu nghĩ sao về điều đó? Cha mẹ họ gửi họ đi học vì những chính kiến này sao. Không ư? Và họ đến đó, đón nhận chúng. Song khi họ trở về và mở những chiếc túi xách của mình, phải nói là, không có túi nào đựng một thứ giống nhau.
Ông lắc đầu một cách nghiêm nghị. Như thể vị trí của chiếc bàn là một trở ngại lớn cho ông.
- Họ nhất trí với nhau về những vấn đề thực tiễn. Tên của một ai đó. Hoặc những tòa nhà. Ngày tháng của một vài biến cố. Nhưng những chính kiến...
- Những người cùng thế hệ với tôi có vẻ cẩn trọng hơn. Tôi nghĩ chúng ta đừng tin rằng con người có thể được cải thiện về nhân cách dựa trên lý lẽ. Một chính kiến dường như rất Pháp.
Ông thoa cơ, bước đi. Ông cúi người và thực hiện cú đánh rồi đứng quan sát thế mới.
- Hãy cẩn trọng, chàng kỵ sĩ hào phóng. Không có con quái vật nào dữ dội bằng lý lẽ.
Ông nhìn John Grady và mỉm cười rồi nhìn xuống bàn.
- Dĩ nhiên đó là chính kiến của người Tây Ban Nha. Cậu biết đấy. Chính kiến của Quixote. Nhưng ngay cả Cervantes cũng không thể hình dung một đất nước nào như Mexico. Alfonsita nói với tôi rằng tôi chỉ là kẻ ích kỷ khi không muốn gửi Alejandra. Có lẽ bà ấy đúng. Có lẽ bà ấy đúng. Mười.
- Gửi cô ấy đi đâu?
Ông chủ cúi người thực hiện cú đánh. Ông đứng lên và nhìn vị khách của mình. - Đến Pháp. Gửi nó đến Pháp.
Ông lại thoa đầu cơ. Ông nhìn vào bàn.
- Tại sao tôi lại phải gây phiền toái cho mình chứ? Hả? Nó sẽ đi thôi. Tôi là ai đây? Một người cha. Một người cha chẳng là gì cả.
Ông cúi người thực hiện cú đánh và lần này ông trượt.
Ông bước lui khỏi bàn.
- Này. - Ông nói. - Cậu biết không? Cậu có biết nó tệ hại đến mức nào đối với môn bida của chúng ta không? Chính kiến đó chăng? Người Pháp bước vào dòng họ của tôi để làm méo mó môn chơi này của tôi. Không có tai ác nào hơn chúng.
Cậu ngồi trên giường trong bóng đêm, hai tay ôm lấy chiếc gói và vùi khuôn mặt vào đó rồi hít cái mùi của nàng vẫn còn thoang thoảng. Cậu cố hình dung lại trong tâm trí mình hình ảnh và giọng nói của nàng. Cậu thì thầm những lời nàng đã nói. Hãy cho em biết phải làm gì. Em sẽ làm bất cứ điều gì anh bảo. Y hệt những lời cậu đã từng nói với nàng. Nàng lại than khóc trong cái ngực trán của cậu trong lúc cậu ôm nàng nhưng chẳng có gì để bảo nàng và cũng chẳng có gì để làm và rồi buổi sáng đến, nàng đã đi mất.
Ngày Chủ nhật hôm sau Antonio mời cậu đến nhà anh trai mình để ăn tối, sau đó họ ngồi dưới bóng mát của mái vòm bên ngoài nhà bếp, cuốn thuốc, hút và thảo luận về ngựa. Rồi họ thảo luận những đề tài khác. John Grady kể cho gã nghe về việc chơi bida với ông chủ còn Antonio - ngồi trong chiếc ghế Mennonite cũ kỹ, mặt ghế bằng mây được thay bằng tấm vải bạt, chiếc mũ của gã đặt lên cái đầu gối và hai bàn tay khum lại với nhau - nhận tin này với vẻ nghiêm trang tương xứng với nó, nhìn xuống điếu thuốc đang cháy của mình và gật đầu. John Grady phóng tầm mắt xuyên qua những ngọn cây về phía ngôi nhà, những bức tường trắng và những tấm ngói bằng đất sét đỏ.
- Hãy cho tôi biết. - Cậu nói. - Đâu là sự tồi tệ: tôi nghèo hay tôi là người Mỹ?
Gã cao bồi lắc đầu. - Một chiếc chìa khóa vàng có thể mở mọi cánh cửa. - Gã nói.
Gã nhìn chàng trai. Gã chấm cái tàn thuốc và nói rằng chàng trai muốn biết suy nghĩ của gã. Có lẽ là lời khuyên của gã. Nhưng không ai có thể khuyên được cậu cả.
- Anh đúng. - John Grady nói. Cậu nhìn gã cao bồi. Cậu nói rằng khi nàng trở lại cậu có ý định sẽ nói với nàng với tất cả sự nghiêm túc. Cậu muốn biết cõi lòng của nàng.
Gã cao bồi nhìn cậu. Gã nhìn về phía ngôi nhà. Gã dường như bối rối và gã nói rằng nàng đang ở đây. Rằng lúc này nàng đang ở đây.
- Cái gì?
- Vâng. Nàng ở đây. Từ ngày hôm qua.
Cậu nằm trằn trọc suốt đêm cho đến rạng đông. Lắng nghe sự yên tĩnh trong ô chuồng ngựa. Tiếng giậm chân của những con ngựa được giam trong đó. Hơi thở của chúng. Sáng hôm sau cậu về nhà trại để ăn sáng. Rawlins đứng ở cửa nhà bếp và nhìn chằm chằm cậu.
- Trông cậu có vẻ như cưỡi ngựa nhiều lắm và thấm đẫm mồ hôi. - Anh ta nói.
Họ ngồi ở bàn và ăn. Rawlins ngả người về sau và rút gói thuốc ra khỏi túi áo của mình.
- Tôi đợi cậu tháo dỡ hàng hóa khỏi chiếc xe ngựa của cậu. - Anh ta nói. - Vài phút nữa tôi phải đi làm.
- Tôi đến để gặp cậu đây.
- Về chuyện gì?
- Không phải về một chuyện gì đó sao?
- Không. Chẳng gì cả. Cậu bật que diêm ở mặt dưới của chiếc bàn và đốt điếu thuốc, lắc lắc que diêm và bỏ vào cái đĩa của mình.
- Tôi hy vọng cậu biết được việc cậu đang làm.
John Grady nốc cạn phần cà phê còn lại của mình và đặt chiếc cốc lên đĩa cùng với những vật dụng dao nĩa khác. Cậu lấy chiếc mũ từ cái ghế dài bên cạnh mình, đội lên và đứng dậy mang những chiếc đĩa đến chậu rửa chén.
- Cậu nói cậu không buồn phiền gì cả về việc tôi đi xuống đó.
- Tôi chẳng buồn phiền gì cả.
John Grady gật đầu. Được rồi. - Cậu nói.
Rawlins nhìn cậu bước đến chậu rửa chén và nhìn cậu bước đến cánh cửa. Anh ta nghĩ cậu có thể ngoảnh mặt lại và nói một điều gì đó, nhưng không.
Cậu làm việc suốt ngày với con ngựa cái và tối về cậu nghe tiếng máy bay khởi động. Cậu bước ra khỏi nhà ngựa và nhìn. Chiếc máy bay nhấc lên khỏi những hàng cây và bay vào bầu trời chạng vạng, uốn lượn rồi rẽ và cứ thế tiến thẳng về hướng tây nam. Cậu không thể nhìn thấy ai trong máy bay nhưng dù sao thì cậu cũng nhìn thấy nó biến khỏi tầm nhìn.
Hai ngày sau cậu và Rawlins lại lên núi. Họ cưỡi ngựa thật vất vả để lùa những đàn ngựa hoang ra khỏi những thung lũng sâu và họ dựng trại trên khu đất cũ ở sườn dốc phía nam Anteojos nơi mà họ đã từng cắm trại với lão Luis. Họ ăn đậu và thịt dê nướng với bánh bắp và uống cà phê đen.
- Chúng ta không có nhiều chuyến đi lên tận đây, phải không? - Rawlins nói.
John Grady lắc đầu. Không. - Cậu nói. - Có thể là không.
Rawlins nhấp ngụm cà phê và nhìn ngọn lửa. Đột nhiên ba con chó săn chạy nước kiệu vào vùng sáng, con này theo sau con kia bao quanh ngọn lửa, những hình thù nhợt nhạt và xương xẩu với miếng da sống kéo căng trên hông sườn của chúng, mắt chúng dò dưới ánh sáng của ngọn lửa. Rawlins chồm người dậy, vô ý hất đổ ly cà phê của mình.
- Cái quái gì vậy? - Anh ta nói.
John Grady đứng dậy và nhìn ra ngoài bóng đêm. Những con chó biến mất đột ngột như khi chúng xuất hiện.
Họ đứng đợi. Không ai đến cả.
Quỷ tha ma bắt. - Rawlins nói.
Anh ta bước vài bước ra xa ngọn lửa và đứng chăm chú lắng nghe. Anh ta ngoảnh lại nhìn John Grady.
- Cậu muốn la à?
- Không.
- Những con chó đó tự chúng không thể lên đây.
- Tôi biết.
- Cậu nghĩ ông ấy theo dõi chúng ta à?
- Nếu ông ấy muốn, ông ấy có thể tìm thấy chúng ta.
Rawlins bước trở lại ngọn lửa. Cậu rót cà phê mới vào tách và đứng lắng nghe.
- Có lẽ ông ấy đến đây cùng với một nhóm bạn thân của ông.
John Grady không trả lời.
- Cậu không nghĩ như vậy sao? - Rawlins hỏi.
Họ về bãi quây sáng hôm sau mong muốn gặp ông chủ và những người bạn của ông nhưng không thấy. Những ngày sau đó họ chẳng thấy dấu hiệu gì về ông ấy cả. Ba ngày sau họ khởi hành xuống núi, lùa mười một con ngựa cái còn non, và họ đến trang trại lúc trời tối, nhốt chúng lại rồi bước về nhà trại cho bữa ăn tối. Một vài gã cao bồi vẫn đang ngồi ở bàn uống cà phê và hút thuốc nhưng từng người một bắt đầu tản đi.
Sáng hôm sau lúc trời hừng sáng hai gã đàn ông bước vào phòng ngủ của cậu với những khẩu súng ngắn đã được rút ra và chiếu đèn pha vào mắt cậu rồi ra lệnh cậu ngồi dậy.
Cậu ngồi dậy. Cậu đung đưa hai chân trên cạnh của chiếc giường. Gã đàn ông cầm cây đèn chỉ là một hình bóng phía sau đó nhưng cậu có thể nhìn thấy khẩu súng gã đang cầm. Đó là khẩu Colt tự động. Gã che mắt cậu. Có những người đàn ông khác với những khẩu súng trường đang đứng ở ô chuồng ngựa.
- Ai vậy? - Cậu nói.
Gã đàn ông đưa cây đèn xuống dưới chân và ra lệnh cậu cầm lấy đôi ủng cùng quần áo. Cậu đứng dậy lấy quần dài mặc vào, tiếp đến là đôi ủng, và rồi cậu với tay lấy áo sơ mi.
- Đi thôi, gã đàn ông nói.
Cậu đứng và cài nút áo.
- Vũ khí của mày đâu? Gã đàn ông nói.
- Tôi không có vũ khí nào cả.
Hắn ta nói với gã đàn ông đứng phía sau và hai người bước đến lục lọi những vật dụng của cậu. Chúng đổ cái thùng đựng cà phê bằng gỗ lên sàn nhà và dùng chân đá loạn xạ quần áo và những vật dụng cạo râu của cậu rồi chúng lật ngược tấm nệm xuống sàn. Chúng mặc những bộ đồng phục bằng vải kaki màu đen dính đầy dầu mỡ và mình mẩy chúng toát lên mùi mồ hôi và khói củi.
- Con ngựa của mày đâu?
- Ở ngăn chuồng thứ hai.
- Nào đi thôi.
Chúng dẫn cậu xuống ô chuồng ngựa đến phòng cắt yên cương và cậu lấy cái yên ngựa cùng những tấm khăn trải của mình. Lúc ấy con Redbo đang đứng trong ô chuồng ngựa, giậm chân với vẻ bồn chồn. Họ quay trở về băng ngang qua phòng của Esteban nhưng chẳng có dấu hiệu nào cho thấy lão già đó còn thức. Họ cầm cây đèn pha trong lúc cậu thắng yên ngựa của mình rồi họ bước ra ngoài màn đêm nơi những con ngựa khác đang đứng. Một trong những gã canh gác đang mang khẩu súng trường của Rawlins và anh ta đang ngồi sụp xuống trên yên ngựa của mình hai bàn tay khum hình cái chén phía trước mặt và những sợi dây cương trên mặt đất.
Chúng dùng khẩu súng thúc anh đi về phía trước.
- Chuyện gì thế này, anh bạn? - Cậu nói.
Rawlins không trả lời. Anh ta cúi người phun nước bọt rồi ngoảnh mặt đi.
- Câm mồm đi. - Gã chỉ huy nói. - Chúng ta đi thôi.
Cậu lên ngựa. Bọn chúng cột hai cổ tay cậu, đưa cho cậu những sợi cương và rồi tất cả cùng lên ngựa. Chúng rẽ ngựa và cưỡi đi từng cặp một ra khỏi lô đất xuyên qua cánh cổng đứng. Khi họ cưỡi ngang qua nhà trại, những ánh đèn vẫn còn sáng và những anh cao bồi đang đứng ở cánh cửa hoặc ngồi dưới mái vòm. Họ nhìn những người cưỡi ngựa đi qua, hai anh người Mỹ phía sau gã chỉ huy và viên trung úy của hắn, sáu người khác cưỡi thành từng cặp phía sau trong những chiếc mũ lưỡi trai và đồng phục cùng với những khẩu carbine móc ngang qua những quả táo yên ngựa, tất cả cùng cưỡi dọc theo con đường lầy lội và hướng về vùng nội địa ở hướng bắc.