Những Con Tuấn Mã

Lượt đọc: 475 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần II Tiếp theo

Ông chủ hút thuốc với vẻ mặt trầm tư. Dường như ông đang đợi nghe thêm một điều gì đó. Người đàn ông khi nãy ngồi dưới bếp đọc báo giờ bước vào phòng cùng chiếc khay bạc dành riêng cho việc phục vụ cà phê, đựng mấy cái tách, lọ kem, một chén đường kèm một đĩa bánh xốp ngọt. Ông ta đặt cái khay xuống bàn, đứng một lát và sau khi ông chủ nói lời cảm ơn, ông ta lại bước ra ngoài.

Don Hector tự mình lấy tách rót cà phê vào và gật đầu nhìn vào cái khay. - Này, cậu tự phục vụ đi. - Ông nói.

- Cảm ơn. Tôi chỉ dùng đen.

- Cậu đến từ Texas à?

- Vâng, thưa ông.

Ông chủ lại gật đầu. Ông nhấp một ngụm cà phê. Ông ngồi nghiêng người, chân bắt chéo lên nhau, ông xoay xoay bàn chân trong chiếc ủng da bê màu sôcôla và quay mặt lại, nhìn John Grady và cười.

- Tại sao cậu đến đây? - Ông hỏi.

John Grady nhìn ông. Cậu nhìn xuống bàn nơi bóng của lũ mèo đang ngồi trên bậu cửa sổ trông giống như những con mèo giấy được cắt ra, những chiếc bóng hơi xiên chéo in trên mặt sàn. Rồi cậu lại nhìn ông chủ.

- Tôi chỉ muốn biết về đất nước này.

- Tôi có thể biết cậu bao nhiêu tuổi?

- Mười sáu.

Ông chủ nhướng chân mày. - Mười sáu à?

- Vâng, thưa ông.

Ông chủ lại mỉm cười, nói: Khi tôi mười sáu, tôi nói với mọi người là tôi mười tám.

John Grady nhấp một ngụm cà phê.

- Bạn cậu cũng mười sáu à?

- Mười bảy.

- Nhưng anh là người chỉ huy chứ.

- Chúng tôi không ai là chỉ huy cả. Chúng tôi là bạn thân.

- Dĩ nhiên.

Ông dùng khuỷu tay thúc cái đĩa về phía John Grady. - Mời. - Ông nói. - Tự nhiên đi.

- Cảm ơn. Tôi vừa mới dùng điểm tâm.

Ông chủ gạt tàn thuốc vào cái khay bằng sứ và ngồi ngay ngắn trở lại.

- Ý cậu thế nào về bầy ngựa cái? - Ông hỏi.

- Trong bầy đó có vài con khá lắm.

- Ừ. Cậu có biết một con được gọi là Three Bars không?

- Đó là một con ngựa thuộc giống thuần chủng.

- Cậu biết con ngựa đó chứ?

- Tôi biết nó tham gia cuộc đua Grand Prix ở Brazil. Tôi nghĩ nó xuất thân từ Kentucky nhưng được sở hữu bởi một người đàn ông tên là Vail ở vùng Douglas Arizona.

- Ừ. Con ngựa được sinh ra tại nông trại Monterey ở Paris Kentucky. Con giống mà tôi mua là con cùng cha khác mẹ của chính con cái đó.

- Vâng, thưa ông. Nó đâu rồi?

- Nó đang trên đường đi.

- Nó ở đâu?

- Trên đường đi. Từ Mexico. - Ông chủ mỉm cười. - Tôi phải trả một món tiền thù lao để lấy giống.

- Ông định nuôi ngựa đua à?

- Không. Ngựa Quarter Horse.

- Để dùng trong trang trại này à?

- Ừ.

- Ông muốn nhân con giống này với những con cái của ông à?

- Ừ. Ý cậu thì sao?

- Tôi không có ý kiến gì cả. Tôi biết có một vài tay gây giống và không ít trong số đó rất nhiều kinh nghiệm nhưng tôi nhận thấy họ chẳng hề có ý kiến gì. Tôi biết có một vài loại ngựa chăn được làm giống từ những con ngựa thuần chủng.

- Ừ. Cậu đánh giá tầm quan trọng đến mức nào đối với con ngựa cái đó?

- Cũng như con đực giống. Ý tôi là vậy.

- Hầu hết những tay gây giống đều đặt niềm tin nhiều hơn vào con ngựa đó.

- Vâng, thưa ông. Họ sẽ như vậy.

Ông chủ mỉm cười: Té ra thì tôi cũng đồng ý với cậu.

John Grady cúi người và chấm mẩu tàn thuốc của mình vào gạt tàn.

- Ông không cần phải đồng ý với tôi đâu.

- Không à? Thế cậu cũng vậy sao?

- Vâng, thưa ông.

- Hãy cho tôi biết về những con ngựa trên ngọn núi đỉnh bằng kia.

- Có thể một vài con trong số đó là những con ngựa cái tốt nhưng không nhiều lắm. Những con còn lại tôi cho là loại tầm thường. Ngay cả một vài con trong đó có thể dùng để làm ngựa săn được thuần hóa một phần. Tận dụng được phần nào đó của chúng. Những con ngựa Tây Ban Nha, đó là biệt danh mà chúng tôi thường gọi chúng. Những con ngựa ở Chihuahua. Giống ngựa Barb thời xưa. Chúng đều là loại ngựa nhỏ, hơi nhẹ ở phần hông và chúng không có phần thân sau như người ta thường muốn đối với một con ngựa chăn nhưng ông có thể cưỡi chúng...

Cậu dừng lại. Cậu nhìn chiếc nón trong lòng mình và rà những ngón tay dọc theo nếp gấp rồi nhìn lên.

- Tôi nghĩ rằng chẳng có gì mà ông không biết.

Ông chủ cầm lọ sữa và đổ vào tách.

- Cậu biết gì về ngựa criollo?

- Thưa ông. Đó là ngựa Argentina.

- Cậu có biết Sam Jones là ai không?

- Tôi biết nếu ông muốn ám chỉ đến một con ngựa.

- Crawford Sykes?

- Đó là một giống khác trong dòng ngựa của ông Billy Anson. Tôi nghĩ về con ngựa đó suốt cả đời.

- Cha tôi từng mua ngựa từ ông Anson.

- Ông Billy và ông tôi là bạn bè. Họ sinh ra chỉ cách nhau có ba ngày. Ông là con trai thứ bảy của Bá tước Litchfield. Vợ ông là một diễn viên kịch tuồng.

- Cậu đến từ Christoval?

- San Angelo. Hoặc chỉ ngoài San Angelo một chút.

Ông chủ nhìn cậu có vẻ thăm dò.

- Cậu có biết một cuốn sách tựa đề The Horse of America của Wallace không?

- Có, thưa ông. Tôi đọc nó từ đầu đến cuối.

Ông chủ ngả người ra sau lưng ghế. Một trong những con mèo đứng dậy, duỗi mình.

- Cậu cưỡi ngựa từ Texas đến đây à?

- Vâng, thưa ông.

- Cậu và bạn cậu?

- Vâng, thưa ông.

- Chỉ có hai người thôi à?

John Grady nhìn chiếc bàn. Con mèo bước đi, dáng mỏng manh và nghiêng nghiêng giữa bóng của những con mèo phía trên. Cậu lại nhìn lên.

- Vâng, thưa ông. Chỉ có tôi và cậu ấy.

Ông chủ gật đầu và dụi tàn thuốc rồi đẩy lùi ghế ra sau. "Nào." - Ông nói. - "Tôi sẽ chỉ cho cậu một vài con ngựa."

Họ ngồi trên hai chiếc giường đối diện nhau, hai khuỷu tay đặt trên hai đầu gối, cúi người về trước và nhìn xuống những bàn tay đang chắp lại. Sau một hồi, Rawlins nói. Anh ta không nhìn lên.

- Đó là cơ hội cho cậu đấy. Tôi có thể hiểu rằng không có lý gì cậu lại bỏ qua cơ hội đó.

- Nếu cậu không muốn, tôi sẽ không đi. Tôi sẽ ở lại đây.

- Chẳng liên quan gì việc cậu đi đến một nơi nào đó.

- Chúng ta vẫn làm việc với nhau. Mang ngựa về, và chỉ có vậy thôi.

Rawlins gật đầu. John Grady nhìn anh.

- Cậu chỉ cần nói một tiếng và tôi sẽ nói không với ông ấy.

- Không có lý do gì phải làm thế. - Rawlins nói. - Đó là cơ hội cho cậu đấy.

Sáng hôm sau họ ăn điểm tâm và Rawlins đi ra làm việc ở bãi quây. Khi anh trở về nhà trại vào ban trưa, vài bọc nệm gói của John Grady đã được cuốn lên ở chỗ đầu nằm và bộ yên cương của cậu biến mất. Rawlins tiếp tục bước ra sau để rửa tay ăn trưa.

Nhà ngựa được xây theo kiểu Anh và được che chắn bên ngoài bởi lớp ván cưa tỉ lệ một phần tư sơn trắng với một mái vòm bát úp và một cái kim chỉ hướng gió được gắn trên đó. Căn phòng cậu nằm ở tận cuối, cạnh phòng yên ngựa. Bên kia ô chuồng ngựa là phòng ngủ của một lão giữ ngựa, người từng làm việc cho bố của Rocha. Khi John Grady dẫn con ngựa của mình đi qua nhà ngựa, ông già xuất hiện và đứng nhìn con ngựa. Ông nhìn chân ngựa, nhìn John Grady. Rồi ông quay người trở về phòng mình và đóng cửa.

Buổi chiều hôm đó, trong lúc cậu đang xoay xở với một trong những con ngựa cái mới ở bãi quây phía ngoài nhà ngựa, ông già bước ra và nhìn cậu. Cậu chào ông và ông gật đầu chào lại. Ông nhìn con ngựa. Ông nói trông nó bè bè chắc nịch, ông nói nó tròn trịa và John Grady không biết nó mang nghĩa gì nên cậu hỏi ông già. Ông dùng hai cánh tay ra dấu hình cái thùng và John Grady cho rằng ông ta muốn ám chỉ con ngựa có mang, cậu đáp không phải như vậy và ông già nhún vai rồi quay trở về phòng.

Khi cậu đưa con ngựa về lại nhà trại, ông già đang kéo cái đai nịt yên của con ngựa ô Ả Rập. Cô gái đứng quay lưng về phía cậu. Khi bóng con ngựa cái phủ lên ô chuồng ngựa, cô ngoảnh mặt lại nhìn.

- Xin chào. - Cậu nói.

- Xin chào. - Cô ta đáp lại. Cô rướn người và lướt những ngón tay phía dưới sợi dây đai yên để kiểm tra. Cậu đứng nhìn cánh cửa của ô chuồng ngựa. Cô gái nâng sợi dây cương qua đầu con ngựa và đặt một chân vào bàn đạp rồi thót lên yên, thúc ngựa và phóng ra khỏi cửa chuồng.

Đêm đó, khi nằm trong chiếc cũi của mình, cậu có thể nghe tiếng nhạc từ ngôi nhà và khi đang chìm vào giấc ngủ, những suy nghĩ của cậu lại về với ngựa, một vùng đất trống và rồi những con ngựa. Những con ngựa vẫn còn hoang dã trên ngọn núi đỉnh bằng kia; chúng chưa bao giờ nhìn thấy con người và chẳng biết gì về cậu hoặc cuộc đời cậu; song trong linh hồn chúng, cậu sẽ đến và cư ngụ ở đó mãi mãi.

Một tuần sau họ lại lên núi cùng với gã phụ việc và hai gã chăn dắt. Sau khi những gã chăn dắt đã cuốn mình trong chăn, cậu và Rawlins ngồi bên cạnh ngọn lửa ở rìa ngọn núi với tách cà phê. Rawlins rút ra hộp thuốc lá sợi còn John thì lấy ra một hộp thuốc điếu và lắc lắc cái hộp trước mặt.

- Cậu lấy đâu ra những thỏi bánh mì ăn liền thế?

- La Vega.

Rawlins gật đầu. Anh gắp một mẩu củi từ ngọn lửa, đốt điếu thuốc và John Grady cúi người mồi điếu thuốc của mình.

- Cậu nói cô ấy học ở Mexico City à?

- Ừ.

- Cô ta bao nhiêu tuổi?

- Mười bảy.

Rawlins gật đầu.

- Cô ta học trường gì vậy?

- Tôi không biết. Một kiểu trường dự bị đại học hay là gì đó.

- Một kiểu trường học bóng bẩy.

- Ừ. Bóng bẩy.

Rawlins hút thuốc. Ừ. - Anh nói. - Cô ấy là một cô gái bóng bẩy.

- Không, không phải.

Rawlins nghiêng người tựa vào cái yên ngựa của mình, hai chân bắt chéo sang một bên với ngọn lửa. Cái đế ủng của anh gần như muốn rơi ra và anh bấm nó chặt vào mũi giày bằng những cây kim dập hình chữ u. Anh nhìn điếu thuốc.

- Này. - Rawlins nói. - Tôi đã nói với cậu trước rồi đó, nhưng tôi không cho là lúc này cậu sẽ chịu nghe tôi hơn là những gì tôi đã làm.

- Ừ. Tôi biết.

- Tôi chỉ mong buổi tối cậu phải tự ru mình ngủ đi.

John Grady không trả lời.

- Dĩ nhiên cô ấy có thể hẹn hò với những gã có máy bay riêng chứ xe cộ là nghĩa gì.

- Có thể cậu đúng.

- Tôi mừng khi nghe cậu nói như vậy.

- Dù sao thì chuyện đó cũng chả giúp được gì, phải không?

Rawlins ngậm điếu thuốc. Họ ngồi như vậy rất lâu. Cuối cùng anh ném tàn thuốc vào ngọn lửa.

- Tôi đi ngủ đây.

- Ừ. - John Grady nói. - Tôi nghĩ đó là ý kiến hay.

Họ trải những chiếc túi ngủ xuống đất và cậu cởi đôi ủng ra rồi đặt bên cạnh mình và duỗi thẳng người trong những tấm chăn. Ngọn lửa cháy trụi thành những mẩu than nhỏ và cậu nằm đó, mắt nhìn lên những ngôi sao tại những vị trí của chúng và cái đai nóng bỏng của đất đá như kéo sợi dây của vòm trời đen thẫm trên đầu. Cậu đặt hai bàn tay hai bên, ép chúng xuống mặt đất, và trong cái mái che bừng bừng lạnh lẽo một màu đen ấy, cậu từ từ hướng toàn bộ cõi lòng mình vào thế giới đó, tất cả như căng lên, rung rung, di chuyển dữ dội và sống động dưới hai bàn tay cậu.

- Tên cô ấy là gì? - Rawlins nói trong bóng đêm.

- Alejandra. Tên cô ấy là Alejandra.

Chiều chủ nhật họ về thị trấn La Vega trên những con ngựa mà họ đã thuần từ một bầy mới. Họ cắt tóc tại trang trại qua bàn tay của một gã chuyên xén lông cừu với một cái kéo cắt lông. Đằng sau gáy họ, phía trên cổ áo, thì trắng như những vết sẹo và họ đội những chiếc nón với vành mép vểnh lên phía trước. Họ đảo mắt từ bên này sang bên kia trong lúc cưỡi ngựa dọc đường như thể thách thức vùng đất này hay bất cứ điều gì có thể cản trở họ. Họ đuổi theo những con thú trên đường với mức cược năm mươi xu và John Grady đã thắng. Rồi họ đổi ngựa cho nhau và cậu cũng giành chiến thắng trên con ngựa của Rawlins. Họ phi nước đại rồi chuyển sang nước kiệu, những con ngựa nóng bức và đổ mồ hôi, chúng giậm chân và nằm xuống trên đường. Những người nông dân chân đất, với những chiếc rổ đựng rau quả trong vườn, hoặc những cái thùng được che đậy bởi một tấm vải thưa, ép sát vào lề đường hoặc trèo qua những bụi cây và xương rồng ven đường. Họ tròn xoe mắt ngắm nhìn những nài ngựa trẻ đi ngang qua, những con ngựa mõm sùi bọt mép đang nhai đi nhai lại và những nài ngựa gọi nhau bằng một thứ tiếng là lạ. Thế rồi người ngựa lại tiếp tục bước đi trong sự phẫn nộ câm lặng, dường như chẳng bao giờ tồn tại trong cái không gian dành cho họ, mà vẫn để lại mọi thứ y nguyên như cũ: bụi, ánh nắng mặt trời, một con chim đang hót.

Trong cửa hàng, những chiếc áo cao cấp nhất được gập lại trên những chiếc kệ, sau khi đã được ủi thẳng thớm, vẫn còn giữ một đốm màu nhợt nhạt nơi bụi bám lên mặt vải hoặc ánh nắng mặt trời làm phai nhạt. Họ lựa giữa những chồng áo đó để tìm cái có cánh tay đủ dài cho Rawlins; một người phụ nữ chìa cánh tay áo dọc theo cánh tay đã được duỗi thẳng hết cỡ của anh; bà ngậm kim găm trong miệng như một cô thợ may, cài lại chiếc áo, đầu bà lắc có vẻ không hài lòng. Họ mang những chiếc quần đùi mới may bằng vải bạt cứng ra phía sau cửa hàng và mặc thử trong một phòng ngủ có ba cái giường và mặt sàn bằng bê-tông mát lạnh đã từng được sơn màu xanh. Họ ngồi trên giường và đếm tiền.

- Những cái quần đùi này giá mười lăm peso, nghĩa là bao nhiêu?

- Cứ nhớ hai peso là mười hai xu rưỡi.

- Cậu nhớ chứ. Vậy là bao nhiêu?

- Một đôla và tám mươi bảy xu.

- Này. - Rawlins nói. - Chúng ta dư sức. Trong năm ngày nữa chúng ta sẽ được nhận lương.

Họ mua vớ và quần lót rồi chất lên trên cái quầy, nơi người phụ nữ ngồi tính tiền. Rồi bà gói những bộ quần áo mới trong hai cái gói riêng và cột lại bằng sợi dây gai.

- Cậu còn lại bao nhiêu? - John Grady hỏi.

- Bốn đôla hoặc chừng đó.

- Mua thêm một đôi ủng.

- Tôi thiếu một ít nữa là đủ.

- Tôi sẽ cho cậu phần thiếu đó.

- Chắc chứ?

- Ừ.

- Chúng ta phải có một cái gì đó cho buổi tối này.

- Chúng ta vẫn còn vài đô nữa. Nào tiếp tục đi.

- Có gì không nếu cậu muốn mua cho cô bé yêu đó một chai sô-đa?

- Vậy sẽ mất của tôi khoảng bốn xu. Nào đừng mất thời gian nữa.

Rawlins ngờ ngợ thử đôi ủng. Anh lấy một chiếc đem so với đế của chiếc ủng đang đi.

- Cái thứ này bé quá.

- Thử cái này xem.

- Màu đen à?

- Chắc rồi. Tại sao không?

Rawlins ướm đôi ủng mới vào chân và đi đi lại lại trên sàn nhà. Người phụ nữ gật đầu có vẻ chấp nhận.

- Cậu nghĩ sao? - John Grady nói.

- Được đấy. Những cái gót đỡ từ bên trên kiểu này phải mất thời gian mới quen được.

- Để tôi chiêm ngưỡng cậu khiêu vũ.

- Cái gì?

- Khiêu vũ.

Rawlins nhìn người phụ nữ và rồi nhìn John Grady. Chết tiệt. - Anh nói. - Cậu đang nhìn một gã khờ khiêu vũ đó à?

- Bước đến kia vài bước thử xem.

Rawlins thực hiện nhanh một động tác giậm mạnh chín bước chân trên mặt sàn bằng ván cũ sờn và rồi đứng cười to giữa cái đám bụi bẩn do anh thốc lên.

- Đẹp đấy. - Người phụ nữ nói.

John Grady há miệng cười to và thọc tay vào túi quần lấy tiền.

- Chúng ta quên không lấy găng tay. - Rawlins nói.

- Găng tay à?

- Găng tay. Chúng ta chưng diện cho buổi giải trí, nhưng đừng quên còn phải trở lại với công việc.

- Tôi hiểu.

- Những sợi thừng cũ sờn chết tiệt kia ăn hết cả hai bàn tay tôi.

John Grady nhìn hai bàn tay của anh ta. Cậu hỏi người phụ nữ găng tay ở đâu và họ mua mỗi người một đôi.

Họ đứng ở chỗ quầy trong lúc người bán hàng gói chúng lại. Rawlins nhìn xuống đôi ủng của mình.

- Ông già có vài loại thừng lụa đặc biệt trong nhà ngựa. - John Grady nói. - Tôi sẽ lén lấy cho cậu một ít ngay khi có cơ hội.

- Những đôi ủng đen. - Rawlins nói. - Không tệ lắm chứ? Tôi luôn muốn là một gã tồi tệ.

Mặc dù trời tối rất lạnh nhưng những cánh cửa đôi của trang trại vẫn mở. Người đàn ông bán vé ngồi ở chiếc ghế đặt trên bục gỗ tại cửa ra vào, vì vậy ông phải cúi xuống từng người trong tư thế tựa tựa như một nghĩa cử hào phóng và nhận lấy những đống cắc của họ, rồi trao cho họ vé vào cửa hoặc nhận lại cuống vé. Khán phòng bằng đất sống cổ xưa được chống đỡ dọc theo những bức tường ngoài bởi những cây cột lớn và tất cả chi tiết này không phải là một phần của thiết kế trước đây, không có cửa sổ và những bức tường bị nghiêng ngả và rạn nứt. Một dây đèn điện chạy dọc theo hai bên khán phòng và những bóng đèn bên ngoài có bọc các bao giấy được tô vẽ. Những nét cọ trên đó phản chiếu ra dưới ánh sáng đèn và các sắc đỏ, xanh dương và xanh lá cây, tất cả đều câm lặng và đúng là một tuyệt tác. Mặt sàn đã được quét nhưng vẫn còn những túi hạt giống và lác đác mấy sợi rơm rạ. Tận cuối bên kia khán phòng là một dàn nhạc nhỏ đang chơi hết mình trên sân khấu vốn được làm từ những tấm pa-lét đựng ngũ cốc dưới một mái vòm được dựng lên từ những tấm ván ghép. Dọc theo chân của sân khấu là những bóng đèn được đặt trong những hộp đựng trái cây bằng chất liệu trong mờ đủ màu âm thầm sáng suốt cả đêm. Nắp hộp được lợp bởi một lớp giấy kính nhuộm màu, chúng phản chiếu lên trần mái vòm sân khấu những bóng hình nhảy nhót sôi động của những nhạc công kỳ quái như những anh hề trong ánh đèn. Khói sân khấu và một vài con diều hâu núi uốn lượn ríu rít trên cao trong một góc đêm tối.

John Grady, Rawlins và một cậu bé tên Roberto, người của trang trại, đứng ở cửa ra vào, ngoài vùng sáng của đèn, giữa những chiếc xe hơi, xe ngựa và chuyền cho nhau một chai rượu mùi Mexico dung tích hơn nửa lít. Roberto đưa cái chai ra giữa ánh sáng.

- Nhìn những cô gái kia kìa. - Thằng bé nói.

Nó uống rồi chuyền cái chai. Họ cùng uống. Họ đổ muối vào một tờ giấy lên cổ tay và liếm. Sau đó Roberto ấn mạnh cái nút tròn vào cổ chai rượu và giấu chai phía sau bánh xe tải đang đậu, sau đó chuyển tay nhau một gói kẹo sing-gum.

- Vào được rồi chứ? - Thằng bé hỏi.

- Đi nào.

Cô nàng mặc bộ váy xanh, tô son đỏ đang khiêu vũ với một anh chàng cao to từ trang trại San Pablo. John, Rawlins và Roberto cùng nhiều thanh niên khác đứng dọc theo tường để xem những cặp khiêu vũ rồi phóng mắt nhìn những cô gái trẻ ở tận bên kia khán phòng. Cậu bước chệnh choạng ngang qua những nhóm người. Không khí thoang thoảng mùi rơm, mùi mồ hôi và hơi đậm mùi nước hoa côlônhơ. Phía dưới mái vòm sân khấu, tay chơi accordion vật vã với nhạc cụ của mình và giậm mạnh chiếc ống xuống mặt ván để báo nhịp rồi bước lui để tay chơi trumpet bước tới. Đôi mắt cô nhô trên bờ vai của anh bạn nhảy, lướt ngang qua chỗ cậu đứng. Mái tóc đen của cô được bới lên bằng một dải ruy băng xanh, lộ ra phần gáy nhợt nhạt như sứ. Khi quay lại, cô mỉm cười.

Cậu chưa bao giờ chạm vào người cô. Bàn tay cô nhỏ nhắn, vòng eo mảnh mai. Cô nhìn cậu với ánh mắt quả quyết rồi mỉm cười và tựa khuôn mặt vào vai bạn nhảy. Họ xoay vòng dưới ánh đèn. Một nốt trumpet dài hướng những đôi khiêu vũ trên nhịp bước chung và riêng của họ. Những con bướm đêm xoay vần xung quanh các ngọn đèn bọc giấy phía trên cao, còn bầy diều hâu núi đáp xuống hàng kẽm gai kêu ríu rít, rồi lại uốn lượn lên trên mất hút vào màn đêm.

Cô ấy nói bằng thứ tiếng Anh chủ yếu học từ sách giáo khoa và cậu ngẫm nghĩ mỗi cụm từ mang ý nghĩa mà cậu muốn nghe, thấm lặp đi lặp lại trong đầu rồi đặt ra những câu hỏi. Cô nói rằng cô rất vui vì cậu đã đến nơi này.

- Tôi nói với cô là tôi sẽ đến mà.

- Vâng.

Họ xoay người theo tiếng trumpet.

- Cô không nghĩ là tôi sẽ đến à?

Cô gái ngửa đầu về phía sau và nhìn cậu, mỉm cười, đôi mắt sáng rực. Ngược lại. - Cô nói. - Tôi biết là anh sẽ đến.

Khoảng thời gian giải lao của ban nhạc, họ bước đến quầy phục vụ giải khát và cậu mua hai cây kem chanh trong hai hộp giấy hình chóp. Họ đi ra ngoài và rảo bước trong khung cảnh ban đêm. Họ bước dọc theo con đường, nơi cũng có những cặp tình nhân khác, và họ bước qua, chúc nhau một buổi tối tốt lành. Không khí mát mẻ và thoáng mùi đất, mùi nước hoa và mùi ngựa. Cô nắm tay cậu, cười và gọi cậu là kẻ phản loạn, một thứ hiếm hoi và đáng được yêu quý. Cậu kể cho cô nghe về cuộc đời mình. Việc ông ngoại cậu chết và trang trại phải bán. Họ ngồi trên một cái máng xối thấp bằng bê-tông và cô đặt đôi giày trên đùi, đôi chân trần của cô bắt chéo dưới mặt đất. Cô lấy ngón tay vẽ nguệch ngoạc trong mặt nước đen. Cô nghỉ học đã ba năm rồi. Mẹ cô sống ở Mexico và vào những ngày chủ nhật, cô thường về nhà để ăn tối hoặc đôi khi cô và mẹ cùng ăn tối trong thành phố hoặc đến rạp hát xem múa balê. Mẹ cô nghĩ rằng cuộc sống ở trang trại thật cô đơn; song sống ở thành phố, cô dường như không có nhiều bạn bè.

- Mẹ giận tôi bởi tôi thường đến đây. Mẹ nói tôi thương bố hơn mẹ.

- Vậy à?

Cô gật đầu: Vâng. Nhưng đó không phải là lý do tôi đến. Dù sao, mẹ đã nói thì tôi sẽ đổi ý.

- Về việc đến đây à?

- Về mọi thứ.

Cô ta nhìn cậu và mỉm cười: Chúng ta vào đi?

Cậu đưa mắt nhìn về phía những ngọn đèn. Tiếng nhạc bắt đầu.

Cô đứng và cúi người, một tay đặt lên vai cậu và xỏ chân vào đôi giày.

- Tôi sẽ giới thiệu anh với bạn của tôi. Tôi sẽ giới thiệu anh cho Lucia. Cô ấy rất xinh. Rồi anh sẽ thấy.

- Tôi cược là cô ấy không xinh như cô.

- Ôi, Chúa. Anh phải cẩn thận với điều anh nói. Vả lại, như vậy không đúng. Cô ấy xinh hơn.

Cậu một mình quay về với mùi nước hoa của cô trên áo. Những con ngựa vẫn được cột và đang đứng ở bên mép của nhà ngựa, nhưng cậu không thể tìm thấy Rawlins hoặc Roberto. Khi cậu tháo con ngựa của mình, hai con kia hất hất cái đầu và hí lên nhẹ nhàng như cũng muốn đi. Xe cộ đang nổ máy trong bãi và những nhóm người đang đi dọc theo con đường. Cậu dẫn con ngựa non vừa mới thuần ra khỏi ánh đèn, đến đường lớn trước khi phóng lên. Cách thị trấn một dặm, một chiếc xe băng ngang qua chở đầy thanh niên, cậu giật cương đưa con ngựa nép vào lề đường. Con ngựa phi nhanh vào trong và nhảy lên trong ánh sáng đèn pha. Đám người băng ngang qua, hét vào cậu rồi có người ném vào cậu một vỏ lon bia. Con ngựa lồng lên, hí vang và đá loạn xạ nhưng cậu cố giữ chặt dây cương rồi thì thầm gì đó với nó như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Sau một hồi, họ lại tiếp tục đi. Khói bụi chiếc xe để lại trải dài trước mặt họ, trên con đường xa đến mức cậu có thể nhìn thấy nó đang từ từ vấy đục bầu trời đầy sao như một vật gì đó khổng lồ đang biến khỏi trái đất. Cậu nghĩ con ngựa đã tự xoay xở rất tốt và khi cưỡi, cậu thì thầm với nó như vậy.

Ông chủ mua con ngựa mà không hề xem trước thông qua một đại lý tại hội chợ xuân ở Lexington, và ông đã phái em trai của Armando là Antonio đi mang con vật về. Antonio rời trang trại trên một chiếc xe tải mui trần Quốc tế năm 1941 kéo theo một rơ-moóc bằng kim loại tấm sản xuất tại nhà, và gã đi trong hai tháng trời. Gã mang theo những bức thư bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha mà Don Hector đã ký trình bày về công việc làm ăn của mình; gã còn mang theo một bìa thư màu nâu của ngân hàng có cột dây, trong đó đựng rất nhiều đôla, peso và những tấm phiếu rút tiền tại các ngân hàng ở Houston và Memphis. Gã không nói được tiếng Anh cũng không biết đọc biết viết. Khi gã trở về, bìa thư đã biến mất cùng với một bức thư bằng tiếng Tây Ban Nha, nhưng gã giữ lại được một bức bằng tiếng Anh bị xé rách thành ba phần dọc theo các nếp gấp, bị sờn ở góc và vấy bẩn cà phê cùng những vết bẩn khác mà một ít trong đó có thể là máu. Gã đã một lần đi tù ở Kentucky, một lần ở Tennessee và ba lần ở Texas. Khi đưa chiếc xe vào sân sau, gã bước ra, đi đến ngôi nhà với dáng vẻ kiên định rồi gõ cửa nhà bếp. Maria mở cửa cho gã và gã đứng đó với chiếc nón trong tay trong lúc bà đi mời ông chủ. Khi ông chủ bước vào bếp, họ bắt tay nhau một cách nghiêm nghị và ông hỏi thăm sức khỏe gã; gã trả lời rằng rất tuyệt rồi đưa cho ông những mảnh rách của bức thư cùng với một xấp những tờ hóa đơn thanh toán, biên nhận của các quán cà phê, trạm xăng, cửa hiệu ăn uống và nhà giam, đồng thời gã cũng đưa cho ông số tiền còn lại bao gồm cả tiền lẻ trong túi gã và chìa khóa xe tải. Cuối cùng gã đưa cho ông tờ hóa đơn từ cửa khẩu Mexico ở Piedras Negras cùng với một bìa thư dài làm từ giấy sợi dây chuối được viền ruy băng xanh, trong đó chứa giấy tờ về con ngựa và hóa đơn thanh toán.

Don Hector đặt tiền, những tờ biên nhận cùng toàn bộ giấy tờ lên trên mặt bàn và đút chìa khóa vào túi. Ông hỏi chiếc xe chạy ổn chứ.

- Vâng. - Gã nói. - Chiếc xe rất mạnh.

- Tốt lắm. - Ông chủ nói. - Còn con ngựa?

- Nó hơi mệt do đi đường, nhưng nó là một con ngựa rất tuyệt.

Con ngựa màu nâu hạt dẻ đậm, đứng cao mười sáu gang tay và cân nặng khoảng một ngàn bốn trăm cân Anh với cơ bắp chắc nịch và xương nặng thuộc giống của nó. Khi họ mang nó về từ quận liên bang Distrito Federal trên cùng cái rơ-moóc đó vào tuần thứ ba của tháng năm, John Grady và ông Rocha đi đến nhà ngựa để nhìn nó. John Grady chỉ việc đẩy mở cánh cửa chuồng, bước vào rồi đến bên nó, cúi sát xuống mình nó và bắt đầu xoa xoa rồi thì thầm dịu dàng với nó bằng tiếng Tây Ban Nha. Ông chủ chẳng hề đưa ra lời khuyên nào về con ngựa cả. John Grady bước xung quanh và nói chuyện với nó. Cậu nâng một chân trước của nó lên xem.

- Cậu đã cưỡi nó bao giờ chưa? - Ông nói.

- Dĩ nhiên rồi.

- Tôi muốn được cưỡi nó. Nếu ông cho phép.

Ông chủ gật đầu. Được. - Ông nói. - Dĩ nhiên rồi.

Cậu bước ra khỏi chuồng, đóng cánh cửa và họ đứng nhìn con ngựa giống.

- Lý thú chứ? - Ông chủ hỏi.

John Grady gật đầu. Đúng là một con ngựa. - Cậu nói.

Những ngày sau ông chủ xuất hiện ở bãi quây nơi họ thuần đàn ngựa non, ông và John Grady bước đi giữa bầy ngựa cái. John Grady tranh luận về những điểm nổi bật của chúng còn ông chủ trầm ngâm bước ra xa một khoảng cách cố định và đứng nhìn về phía sau rồi gật đầu. Ông lại đăm chiêu bước đi, mắt nhìn xuống đất, đến một điểm quan sát thuận lợi rồi ngước mắt lên nhìn một con ngựa khác, ông muốn biết liệu nó có thể hiện đặc tính gì không. Song ông không nhận ra một đặc tính nào về dáng đứng hoặc tầm vóc để thuyết phục John Grady chiếu theo phán xét của ông. Song, mỗi con ngựa cái được biện hộ bởi cái mà họ gọi là duy nhất và thứ duy nhất đó - vốn có thể miễn tội cho chúng khỏi bất cứ điều gì ngoại trừ khiếm khuyết thô thiển nhất - là sự quan tâm đến gia súc. Bởi lẽ cậu từng thuần những con ngựa cái đầy hứa hẹn để cưỡi và cậu đưa chúng lên thị trấn, băng qua những vùng đầm lầy nơi đàn bò và bê đang đứng trong lùm cỏ um tùm dọc theo rìa vùng đất lầy lội. Cậu để chúng nhìn những con bò và mặc cho chúng thỏa thích giữa những con bò đó. Và những con ngựa cái đó tỏ ra rất quan tâm đến điều chúng nhìn thấy. Vài con khi băng qua vùng đồng cỏ còn ngoảnh lại nhìn đàn bò. Cậu quả quyết rằng giống cowsense có thể nhận được. Ông chủ không chắc lắm. Nhưng có hai điều mà họ cùng nhất trí, và điều đó không bao giờ được nói ra, đó là điều mà Chúa đã đặt vào những con ngựa trên trái đất này để canh đàn gia súc; ngoài ra chẳng có của cải nào là thích đáng với con người.

Họ nhốt riêng con ngựa đực giống ra khỏi đàn ngựa cái trong chuồng ngựa gần phòng của lão cai và khi những con ngựa cái đến mùa động đực, lão và Antonio cho chúng giao phối. Họ cho những con cái giao phối hàng ngày trong ba tuần và thỉnh thoảng hai lần một ngày. Antonio cư xử với con đực giống với sự trân trọng và quý mến tột cùng, và thường gọi nó là ông tổ của đàn ngựa. Cũng như John Grady, gã thường nói chuyện với nó, hứa hẹn điều gì với nó và không bao giờ nói dối nó. Khi nghe tiếng gã đến, con ngựa bước đi trong bãi rơm bằng hai chân sau và gã đứng nói chuyện với nó rồi miêu tả cho nó biết về những con ngựa cái bằng cái giọng khe khẽ của mình. Gã không bao giờ phối con ngựa vào cùng một giờ trong hai ngày liên tiếp và gã bày kế với John Grady nói với ông chủ rằng con ngựa cái phải được cưỡi để dễ thuần hóa hơn. Bởi vì John Grady thích cưỡi con ngựa đó. Thực ra cậu thích được mọi người nhìn thấy mình đang cưỡi nó. Thực ra cậu thích cô ấy nhìn mình cưỡi nó.

Cậu đi vào nhà bếp trong bóng đêm để pha cà phê và rồi thắng yên ngựa lúc trời hừng sáng, lúc ấy chỉ những đàn bồ câu sa mạc nhỏ thức tỉnh trong bụi cam, không khí vẫn trong lành và mát lạnh. Cậu và con ngựa giống bước ra khỏi chuồng. Con vật lồng lộn, nện thình thịch xuống đất và rồi uốn cong cái cổ của nó. Cậu cưỡi ngựa ra ngoài dọc theo con đường lầy lội và dọc theo rìa những vũng đầm lầy vừa lúc mặt trời ló lên cùng với những đàn vịt trời xào xạc bay lên từ vũng nước cạn, những con ngỗng hoặc bầy vịt hoang lông sáng đánh nhau trên mặt nước, xóa tan đi màn sương rồi vụt bay lên chuyển thành những con chim vàng trong ánh nắng mặt trời mà chúng chưa thể thấy được từ thềm đất bằng.

Thỉnh thoảng cậu phi thẳng lên tận thượng nguồn cái hồ nhỏ trước khi con ngựa có thể thôi run rẩy, và cậu liên tục nói với nó bằng tiếng Tây Ban Nha với những cụm từ như trong kinh thánh, lặp đi lặp lại những ràng buộc nghiêm khắc của một bộ luật chưa được đệ trình. Ta là thủ lĩnh của đàn ngựa cái này, ta và chỉ có ta mà thôi. Không có sự từ thiện của đôi bàn tay này, ngươi chẳng có gì. Không có thức ăn, nước uống hoặc con cái. Ta là kẻ đã mang những con ngựa cái này từ những ngọn núi kia, những con ngựa cái non, những con ngựa cái hoang dã và máu nóng. Bên trong khung sườn giữa hai đầu gối của nó là một quả tim đen thẫm đang đập, mạch máu nở ra co lại theo từng nhịp, những khúc ruột chuyển động trong các đoạn xoắn màu xanh lá, những đầu gối, xương đùi và ống quyển chắc khỏe; những sợi dây chằng giống như những sợi cáp bằng lanh giãn ra, co lại rồi giãn ra, co lại theo những vòng luân chuyển; tất cả được bao bọc và quấn lại trong lớp thịt và những móng guốc giẫm nát lớp sương mù phủ trên mặt đất trong khí trời buổi sáng và cái đầu nó ngoảnh từ bên này sang bên kia, hàm răng to chảy nước bọt và những quả cầu nóng trong mắt nó nơi thế giới đang bùng cháy.

Có những buổi sáng sớm, lúc trở về ngồi ăn sáng tại nhà bếp trong khi bà Maria loay hoay bỏ củi vào lò mạ kẽm hoặc lăn bột trên mặt bàn bằng đá cẩm thạch, cậu nghe tiếng hát của cô ấy văng vẳng đâu đó trong ngôi nhà hoặc cảm nhận hơi thở mong manh nhất của mùi lan dạ hương như thể cô ấy vừa mới băng ngang bên ngoài gian phòng.

Vào những buổi sáng khi Carlos chuẩn bị mổ thịt, cậu xuất hiện ở lối đi ngang qua lũ mèo đang ngồi trên mấy tấm ngói phía dưới những lùm cây, mỗi con ở vị trí riêng của nó. Cậu bế một con lên và vuốt ve nó ngay cổng sân trong, nơi cậu có lần nhìn thấy cô lượm những quả chanh. Cậu đứng hồi lâu, tay ôm con mèo rồi thả nó xuống những tấm ngói, lập tức con mèo trở về chỗ cũ của nó, còn cậu vào nhà bếp và bỏ nón ra. Thỉnh thoảng cô ấy cũng cưỡi ngựa vào buổi sáng và cậu biết cô đang ngồi một mình trong phòng ăn phía bên gian phòng. Carlos mang cái khay điểm tâm với cà phê và trái cây cho cô ấy. Có lần trong lúc đang cưỡi trên những ngọn đồi thấp về hướng bắc, cậu nhìn thấy cô phía dưới con đường lầy lội cách xa hai dặm. Cậu cũng thấy cô ở công viên phía trên những vũng đầm lầy. Cậu nhìn thấy cô dẫn con ngựa đi xuyên qua những bãi cạn của bờ lạch giữa những cây hương bồ, váy cô xắn lên trên đầu gối trong lúc những con chim két cánh đỏ lượn vòng và kêu inh ỏi, cô dừng lại và cúi xuống nhặt những đóa súng trắng cùng với con ngựa đang đứng trong con lạch, kế bên là một con chó.

Cậu chưa nói với cô ấy một lời nào kể từ cái đêm khiêu vũ ở La Vega. Cô cùng bố đến Mexico và ông ấy trở lại một mình. Chẳng có ai để cậu hỏi thăm về cô ấy. Lúc này cậu đã bắt đầu cưỡi con ngựa giống mà không cần yên cương. Cậu đá chiếc ủng và xốc thẳng lên lưng nó trong lúc Antonio vẫn đứng giữ con ngựa cái đang run rẩy ngay chỗ cái kẹp mũi của nó, nó đứng dang hai chân, đầu cúi xuống, làn hơi nó thở ra hít vào trông như hai làn khói súng. Cậu phóng ra khỏi chuồng với đôi gót trần phía dưới bụng con ngựa. Mồ hôi toát ra trên mình con ngựa, nhỏ giọt xuống dưới và bởi một phần của cái chứng bất kham, nó giẫm đạp dữ dội lên mặt đường lầy lội. Cậu cưỡi đi chỉ với một bộ vòng cương bằng dây thừng. Mùi mồ hôi và mùi ngựa cái còn thấm trên mình nó, những mạch máu co giãn nhịp nhàng phía dưới lớp da sóng ẩm ướt. Cậu cúi sát người xuống dọc theo cổ con ngựa nói chuyện với nó bằng một cử chỉ dịu dàng và khiêu khích. Chính trong hoàn cảnh này mà một buổi tối nọ cậu bất ngờ gặp cô ấy đang trở về trên con ngựa ô Ả Rập tại con đường lầy lội ấy.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của cormac mccarthy