Trang Trại Của Đức Thánh Mẫu là một nông trại rộng mười một ngàn hecta nằm dọc theo mép lưu vực sông Bolson de Cuatro Cienagas ở tiểu bang Coahuila. Những khu vực phía tây giáp với rặng núi Sierra de Anteojo ở độ cao chín ngàn bộ so với mặt biển, nhưng ở hướng nam và hướng đông trang trại này chiếm một phần của khu đất bùn rộng lớn hoặc đáy lưu vực sông Bolson, quanh năm được tưới tiêu rất tốt nhờ những con suối tự nhiên hoặc những con lạch trong vắt, lác đác đó đây là những vũng đầm lầy và hồ cạn hoặc hồ nhỏ. Trong những ao hồ sông suối này là những loài cá chưa từng được biết đến ở những nơi khác trên trái đất, cùng những loài chim, bò sát và các dạng sống khác, cũng như tất cả loài sinh vật cổ có từ lâu đời ở sa mạc xuất hiện khắp mọi nơi.
La Purísima là một trong rất ít các trang trại thuộc đất nước Mexico giữ được trọn vẹn sáu lý vuông đất được phân chia bởi pháp chế thuộc địa năm 1824, và Don Hector Rocha y Villareal là một trong vài người chủ đất thực sự sống trên mảnh đất mà ông sở hữu, mảnh đất vốn thuộc gia đình ông trong một trăm bảy mươi năm. Ông bốn mươi bảy tuổi và là người thừa kế đầu tiên trong dòng giống của thế giới mới này đã sống đến độ tuổi đó.
Ông cai quản hơn một ngàn gia súc trên mảnh đất này. Ông có một ngôi nhà ở Mexico City nơi vợ ông đang sống. Ông có máy bay riêng, ông yêu ngựa. Khi cưỡi ngựa đến ngôi nhà của ông quản lý ở trang trại vào buổi sáng hôm đó, ông được bốn người bạn hộ tống cùng một đoàn trợ lý và hai con vật thồ với hai cái thùng làm bằng gỗ cứng; một thùng trống không, thùng kia đựng những đồ dự phòng cho bữa trưa. Họ còn được hộ tống bởi một bầy chó săn, những con chó này trông chắc thịt và lông lốm đốm bạc. Chúng chạy lon ton giữa những bước chân ngựa và những con ngựa chẳng để tâm gì đến chúng. Ông chủ chào cả nhà, rồi người quản lý xuất hiện trong y phục giản dị và họ nói chuyện qua loa. Sau đó người quản lý gật đầu còn ông chủ nói chuyện với bạn của mình và tất cả họ cùng cưỡi ngựa đi. Khi họ băng ngang qua ngôi nhà dành cho những gã chăn dắt và đi qua cánh cổng, rẽ vào con đường dẫn về thị trấn, một vài gã chăn dắt đang đưa ngựa ra khỏi chuồng, thắng yên để chuẩn bị cho công việc trong ngày. John Grady và Rawlins đứng ở cửa ra vào và uống cà phê.
- Ông ta đấy. - Rawlins nói.
John Grady gật đầu và hất phần cặn cà phê xuống sân.
- Cậu nghĩ họ đi đâu thế? - Rawlins nói.
- Tôi cho là họ đi săn sói đấy.
- Họ không có súng.
- Họ có dây thừng.
Rawlins nhìn John: Cậu đùa tôi đấy à?
- Tôi không nghĩ vậy.
- Chết tiệt, tôi thích nhìn thấy vậy.
- Tôi cũng vậy. Cậu sẵn sàng chưa?
Họ làm việc hai ngày trong những bãi quây đánh dấu, tiêm chủng, cưa sừng và thiến. Ngày thứ ba, những gã chăn dắt mang về một đàn ngựa hoang ba tuổi từ núi đỉnh bằng và nhốt chúng lại. Tối hôm đó, Rawlins và John Grady đi bộ ra để trông chừng chúng.
Chúng được lùa chung với nhau vào cái hàng rào ở phía bên kia khu vực giam giữ. Chúng là một bầy đủ loại, từ ngựa lang, ngựa nâu xám cho đến những con ngựa hồng và một vài con bạch tạng với đủ kích cỡ và hình thể. John Grady mở cổng. Cậu cùng Rawlins bước vào và cậu đóng cổng lại. Những con vật hoảng sợ bắt đầu giẫm đạp lên nhau, chạy tán loạn và nhảy lung tung dọc theo hàng rào theo hai hướng.
- Một bầy ngựa nhút nhát tôi chưa từng thấy bao giờ. - Rawlins nói.
- Chúng không biết chúng ta làm gì cả.
- Không biết chúng ta làm gì à?
- Tôi không nghĩ vậy. Tôi không nghĩ chúng đã từng nhìn thấy con người.
Rawlins cúi người và phun nước bọt.
- Cậu có nhìn thấy gì ở đằng kia không?
- Những con ngựa.
- Ở đâu?
- Nhìn con ngựa hồng thẫm kìa. Bên tay phải cậu đấy.
- Tôi đang nhìn đây.
- Nhìn lại đi.
- Con ngựa đó không nặng đến tám trăm cân Anh.
- Chắc là vậy. Nhìn cái thân sau nó kìa. Nó làm một gã chăn bò được đấy. Nhìn con ngựa lang kia kìa.
- Ôi con khốn này có móng dị tật?
- Ừ, không nhiều lắm. Nhìn con ngựa lang kia kìa. Con thứ ba phía bên phải.
- Con với đốm trắng trên lưng phải không?
- Phải.
- Đây đúng là con ngựa trông buồn cười thật.
- Không, nó không vậy đâu. Màu da nó hơi kỳ quặc.
- Cậu không nghĩ điều đó chẳng có nghĩa gì sao? Mấy bàn chân của nó đều màu trắng.
- Đó là một con ngựa tuyệt đấy. Nhìn đầu nó đây này. Nhìn vào cằm nó. Cậu phải nhớ những cái đuôi của chúng đều vểnh ra ngoài
- Ừ. Có thể. - Rawlins lắc đầu có vẻ hoài nghi. - Cậu từng là người có năng khiếu đặc biệt về ngựa mà. Có thể lâu lắm rồi cậu chưa thấy một con ngựa nào.
John Grady gật đầu. - Phải. - Cậu nói. - Ừ, tôi không quên những nét đặc trưng của chúng.
Những con ngựa lại tụ thành nhóm với nhau ở tận cuối bãi quây, giương cặp mắt tròn xoe và chạy đầu con này dọc theo cổ con kia.
- Chúng có một điều. - Rawlins nói.
- Điều gì?
- Chúng không được người Mexico nào cưỡi thử và huấn luyện.
John Grady gật đầu.
Họ nhìn những con ngựa.
- Bao nhiêu con cả thảy? - John Grady hỏi.
Rawlins nhìn chúng. Mười lăm. Mười sáu.
- Tôi cho là mười sáu.
- Vậy là mười sáu.
- Cậu nghĩ tôi và cậu có thể thuần chúng trong vòng bốn ngày không?
- Phụ thuộc vào loại nào cậu có thể thuần.
- Chỉ là những con ngựa được thuần hóa một phần. Sáu cái yên ngựa. Nhân đôi và dừng lại rồi đứng im để thắng yên.
Rawlins rút gói thuốc ra khỏi túi áo và hất ngược chiếc nón về phía sau.
- Cậu đang nghĩ gì? - Anh ta nói.
- Thuần những con ngựa này.
- Tại sao chỉ có bốn ngày?
- Cậu nghĩ chúng ta có thể làm được không?
- Họ định cột chúng bằng những sợi dây thừng? Cảm giác của tôi là bất cứ con ngựa nào được thuần trong bốn ngày thì cũng dễ dàng trở nên bất kham bốn ngày sau đó.
- Chúng chẳng phải là những con ngựa khi chúng vừa mới được mang về đây.
Rawlins rẩy tàn thuốc của mình vào một mảnh giấy được xếp thành hình nón. - Cậu muốn nói với tôi rằng điều chúng ta đang tìm đến là đàn ngựa này sao?
- Tôi đoán là vậy.
- Chúng ta làm sao để cưỡi được vài con ngựa chết tiệt này và một trong số đó sẽ trở thành những loại ngựa thuần của người Mexico.
- Ừ.
Rawlins gật đầu, nói: Cậu muốn làm gì, tách chúng ra à?
- Ừ.
- Cậu nghĩ có nhiều dây thừng ở đây sao?
- Tôi không biết.
- Cậu đúng là thằng khốn lão luyện. Tôi sẽ cho cậu biết điều đó.
- Xem cậu đã ngủ đủ chưa.
Rawlins đưa điếu thuốc lên miệng và mò mò trong túi để lấy que diêm.
- Còn chuyện gì khác cậu nghĩ là chưa cho tôi biết nữa?
- Armando nói rằng ông già đó sở hữu toàn bộ ngựa trên ngọn núi đó.
- Bao nhiêu con tất cả?
- Hình như khoảng bốn trăm.
Rawlins nhìn cậu. Anh ta bật que diêm, đốt điếu thuốc và rồi búng nó ra xa.
- Cái quái gì vậy?
- Trước chiến tranh ông ta đã khởi sự một chương trình nhân giống.
- Loại ngựa gì?
- Ngựa lai.
- Quái thật.
- Những con ngựa Quarter Horse, chúng ta gọi chúng như vậy.
- Ừ?
- Con ngựa lang đằng kia, - John Grady nói. - Là giống Billy chạy hết tốc lực.
- Cậu nghĩ nó xuất xứ từ đâu?
- Từ một loài ngựa gọi là Jose Chiquito.
- Little Joe à?
- Ừ.
- Cùng giống ngựa à?
- Cùng giống.
Rawlins hút thuốc với nét mặt trầm tư.
- Cả hai giống ngựa này được bán ở Mexico. - John Grady nói. - Một và Hai. Kia là một đàn ngựa cái thuộc giống Traveler-Ronda cũ.
- Còn chuyện gì khác không? - Rawlins nói.
- Vậy thôi.
- Chúng ta đến gặp ông ấy đi.
Họ đứng trong nhà bếp với chiếc nón trong tay. Gã cai ngồi ở bàn và quan sát họ.
- Những tay thuần ngựa à? - Ông ta nói.
- Vâng.
- Cả hai luôn à? - Ông hỏi.
- Vâng. Cả hai.
Ông ngửa người về sau. Ông gõ những ngón tay lên mặt bàn kim loại.
- Có mười sáu con trong chuồng. - John Grady nói. - Chúng tôi có thể thuần chúng trong vòng bốn ngày.
Họ băng qua mặt sân trước, quay trở về nhà dành cho cao bồi để rửa tay cho bữa ăn tối.
- Ông ta nói gì? - Rawlins hỏi.
- Ông ta nói chúng ta là đó con lừa. Nhưng theo nghĩa tích cực.
- Cậu không cho đó là một lời nói thẳng thừng sao?
- Tôi không nghĩ vậy. Tôi không nghĩ ông ta có thể bỏ mặc nó như vậy.
Trời rạng sáng và họ chuẩn bị làm việc với những chú ngựa mới. Sáng chủ nhật, họ khoác lên người những chiếc áo vẫn còn ẩm ướt do tối đêm trước mới giặt và bước đến chuồng trước khi sao trên trời lặn, ăn một chiếc bánh ngô đã nguội có phủ những hạt đậu lạnh ngắt xung quanh, không uống cà phê, và cuộn trên vai những vòng dây thừng maguey dài bốn mươi bộ. Họ mang theo những tấm phủ yên ngựa, những sợi thòng lọng hoặc bộ dây ngựa với một miếng băng mũi ngựa bằng kim loại. John Grady mang theo một vài bao cát sạch mà cậu đã lót để ngủ cùng với cái yên ngựa Hamley mà hai bàn đạp đã được làm ngắn lại.
Họ đứng nhìn những con ngựa. Những con ngựa bước qua lại rồi đứng im, những vóc dáng xám xịt trong buổi sáng xám xịt. Chất đống trên mặt đất phía ngoài cổng là những vòng dây thừng đủ loại, bông, tơ chuối abaca, da sống được bện lại, sợi maguey, sợi Mexico cho đến những đoạn dây thừng cũ bằng lông thú kết lại hoặc những sợi dây bện bằng tay. Tựa vào hàng rào là mười sáu vòng cương ngựa bằng dây thừng mà họ đã bỏ ra cả buổi tối ở nhà để thắt lại.
- Vòng dây này sẽ được dùng để thâu tóm chúng ngay khi lên đến núi, phải không nào?
- Tôi nghĩ vậy.
- Họ muốn gì với những con ngựa cái kia?
- Họ cưỡi chúng xuống đây.
- Ừ. - Rawlins nói. - Tôi có thể hiểu được họ khó khăn như thế nào với một con ngựa. Chịu đựng với những con quái đó.
Anh ta lắc đầu và nhét vào miệng phần còn lại của chiếc bánh ngô, chùi tay vào ống quần, tháo sợi dây và mở cổng.
John Grady theo gã cai bước vào và đặt cái yên ngựa xuống đất rồi quay ra ngoài và mang vào một mớ dây thừng cùng bộ vòng cương, đoạn ngồi xổm xuống để phân loại chúng. Rawlins đứng thắt lại những cái vòng thòng lọng.
- Tôi đã làm nó và cậu chẳng thể biết chúng lọt vào vòng nào.
- Cậu làm cho đúng đấy nhé, người anh em.
- Cậu định thuần hóa những con thú hoang đó đấy à, cậu cừ thật đấy!
- Ừ.
- Ông già tôi thường nói rằng mục đích của việc thuần một con ngựa là cưỡi nó và nếu cậu có một con để thuần, cậu chỉ cần đóng yên, trèo lên và cưỡi nó.
John Grady cười toe toét: Ông già cậu là người huấn luyện ngựa có bằng phải không?
- Tôi chưa bao giờ nghe ông thừa nhận như thế cả. Nhưng chắc một điều là tôi đã từng chứng kiến ông ấy bị vắt ngược trên lưng ngựa một hoặc hai lần gì đó.
- Cậu sẽ còn chứng kiến nhiều pha như vậy đấy.
- Chúng ta phải thuần chúng hai lần chứ?
- Để làm gì?
- Tôi chưa bao giờ thấy ai tin tưởng hoàn toàn vào nó lần đầu tiên hoặc phải nghi ngờ đến lần thứ hai.
John Grady mỉm cười. Tôi sẽ khiến cho họ phải tin. - Cậu ta nói. - Cậu sẽ biết mà.
- Tôi sẽ cho cậu biết ngay đây. Đây chỉ là lũ dốt nát mà thôi.
- Blair đã từng nói gì? Chẳng gì khác hơn là một con ngựa hoang kém cỏi?
- Chẳng gì khác hơn là một con ngựa hoang kém cỏi. - Rawlins nói.
Những con ngựa đã bắt đầu bước ra. Anh ta bắt được con đầu tiên và trùm đầu nó bằng sợi thòng lọng, đoạn trói hai chân trước nó lại. Con ngựa bổ nhào xuống mặt đất với một tiếng thịch lớn. Những con khác bắt đầu hoảng loạn, tụm lại với nhau và nhìn ra phía sau với vẻ hoang dại. Trước khi con ngựa có thể chống chọi để đứng dậy, John Grady đã ngồi đè lên cổ nó và giật cái đầu nó nghển lên, trẹo sang một bên rồi giữ chặt cái mõm nó lại bằng cách ép sát cái đầu xương dài ngoằng của nó vào ngực mình. Hơi thở nóng bỏng của nó từ hai hốc mũi đen ngòm phụt vào mặt và cổ của cậu giống như điều mới lạ từ một thế giới khác. Mùi chúng chẳng có vẻ gì là ngựa cả. Chúng có mùi như chính chúng vậy, những con thú hoang. Cậu áp sát mặt con ngựa vào ngực mình và cảm nhận từ hai bắp đùi trong của mình, máu bơm xuyên qua những động mạch. Cậu cũng cảm nhận được sự sợ hãi, cậu úp lòng bàn tay mình lên đôi mắt nó, vuốt ve và không ngừng nói chuyện với nó bằng một giọng đều đều và trầm lắng; nói với nó tất cả những gì cậu định làm, úp lòng bàn tay vào đôi mắt nó và xua tan đi nỗi sợ hãi.
Rawlins lấy ra một trong những đoạn dây cuốn quanh cổ mình và thắt thành một vòng thòng lọng, móc vào cổ chân sau và kéo cái chân lên rồi thắt hờ với hai chân trước của con ngựa. Anh thả sợi dây thừng và quăng nó đi rồi cầm lấy bộ vòng cương và gắn vào mõm và tai của con ngựa. John Grady rà ngón tay cái vào miệng nó và Rawlins gắn sợi dây bịt mõm vào rồi thắt một vòng thòng lọng cho sợi dây thứ hai để cột chân sau kia. Rồi anh ta cột hai sợi dây ngang vào bộ vòng cương ngựa.
- Xong hết rồi chứ? - Anh ta nói.
- Đâu vào đó hết rồi.
Anh ta thả đầu con ngựa ra, đứng dậy và bước đi chỗ khác. Con ngựa cố vùng vẫy đứng dậy, quay đầu lại, đá một chân sau rồi loạng choạng nửa vòng và ngã xuống. Nó đứng dậy, lại đá rồi lại ngã xuống. Khi vùng dậy lần thứ ba, nó đứng đá và giật giật cái đầu trong một vũ điệu. Nó đứng. Nó bước đi rồi đứng lại. Rồi nó đá một chân sau và lại ngã xuống.
Nó nằm đấy một hồi như suy nghĩ gì đó rồi đứng dậy trong khoảng một phút và nhảy cẫng lên xuống, sau đó nó đứng nhìn họ trừng trừng. Rawlins cầm lấy sợi dây thừng và thắt một vòng thòng lọng nữa. Những con ngựa khác nhìn với sự thích thú cao độ từ tận phía bên kia của bãi trống.
- Những con khốn này cũng điên dại như một con chuột nhắt trong hang thôi. - Anh ta nói.
- Cậu lựa ra một con mà cậu cho là hoang dã nhất. - John Grady nói. - Và tôi sẽ biến nó thành một con ngựa hoàn hảo nhất vào chủ nhật này.
- Hoàn hảo cho ai?
- Cho sự thỏa mãn của cậu đấy.
- Nhảm nhí. - Rawlins nói.
Trong lúc họ tiến hành thuần ba trong những con ngựa đang chạy nhảy và hoảng sợ trong chuồng thì có vài gã chăn dắt đứng ở cổng, uống cà phê trong trạng thái nhàn nhã và quan sát diễn tiến công việc. Vào giữa sáng, tám con ngựa bị cột và tám con kia còn hỗn loạn hơn loài hươu nai, chúng chạy tán loạn dọc theo hàng rào và co cụm lại thành nhóm rồi chạy trong một biển bụi bốc lên khi thời tiết ấm áp, chúng như đang ù lì, đối phó với sự tàn nhẫn của việc biến những bản thể hoang dại và bầy đàn của chúng trở thành trạng thái tê cứng bất lực và tách rời vốn dường như tồn tại trong chúng như một căn bệnh lây nhiễm từ từ. Toàn bộ những gã chăn dắt xuất hiện, từ nơi ngủ chạy ra xem. Đến giữa trưa, tất cả mười sáu con ngựa hoang đều đứng quanh quẩn trong chuồng, chân chúng buộc chặt vào cái vòng cương, mặt nhìn khắp mọi hướng và tất cả đều đã được thuần. Chúng trông giống như những con thú bị trói chặt cho trẻ em vui chơi và chúng đứng đợi điều mà chúng không biết với giọng nói của người thuần ngựa vẫn chảy trong não chúng, như giọng nói của một vị thần nào đó đến để cư ngụ trong chúng.
Khi họ đi về nhà trại để ăn tối, những gã cao bồi có vẻ tỏ ra kính trọng đối với họ, nhưng họ không chắc đó là một sự kính trọng dành cho một công trạng đã hoàn thành hay vì những khiếm khuyết trí tuệ. Không ai hỏi ý kiến họ về những con ngựa hay chất vấn họ về phương pháp. Khi họ trở lại bãi trống vào buổi chiều hôm đó, có khoảng hai mươi người đứng quanh quẩn nhìn bầy ngựa - phụ nữ, trẻ em, thiếu nữ và đàn ông - và tất cả đang đợi họ quay lại.
- Quỷ tha ma bắt, họ đến từ đâu thế? - Rawlins nói.
- Tôi không biết.
- Lời truyền miệng lan nhanh khi đoàn xiếc vào thành phố, không phải vậy sao?
Họ đi xuyên qua đám đông, gật đầu chào và bước vào bãi trống rồi cột cánh cổng lại.
- Cậu bắt ra một con đi? - John Grady hỏi.
- Phải. Để tìm con hoang dại chính nòi, tôi chỉ định con đứng ngay đằng kia kìa.
- Giống grullo hả?
- Có vẻ như vậy.
- Gã đó là một tay sành về ngựa.
- Gã còn sành về tính hoang dã.
Anh ta nhìn John Grady bước đến chỗ con thú và dùng một đoạn dây dài chừng mười hai bộ cột vào bộ cương. Rồi John dắt nó ra khỏi chuồng và đi vào bãi quây, nơi mà những con ngựa sẽ được cưỡi. Rawlins nghĩ con ngựa sẽ nhảy hoặc cố chồm lên nhưng không. Anh cầm sợi cương và cái bao bố bước đến và trong lúc John vỗ vỗ con ngựa, anh ta chằng hai chân trước của nó lại với nhau rồi cầm lấy sợi cương, đưa cái bao bố cho John và giữ con ngựa lại. Mười lăm phút sau đó John dùng cái bao bố ve vẩy ngang mặt con ngựa rồi họ xuống dưới, xoa xoa vào đầu nó, đoạn kéo cái bao ngang qua mặt nó và tiếp tục đưa lên xuống và ở giữa những cái chân của nó, trò chuyện với nó một hồi rồi xoa xoa và áp sát vào nó. Rồi cậu cầm lấy chiếc yên ngựa.
- Cậu nghĩ cái mùi toát ra từ bao bố sẽ tác động tốt đến con ngựa theo cách như vậy chứ? - Rawlins nói.
- Tôi không biết. - John Grady nói - Tôi đâu phải là ngựa.
Cậu lấy tấm chăn ra và trải trên lưng con ngựa, xoa xoa cho thẳng thớm rồi đứng vuốt ve và trò chuyện với nó, sau đó cậu cúi xuống nhấc chiếc yên lên ở chỗ cái đai được cột bằng dây da cùng với cái bàn đạp được treo trên cái sừng yên và rồi cậu đặt nó lên lưng và gắn nó vào vị trí. Con ngựa chẳng hề động đậy. Cậu cúi xuống, với tay luồn phía dưới và kéo dây đai lên rồi buộc lại. Hai tai của con ngựa vểnh ra sau và cậu thì thầm với nó, rồi kéo dây đai lên lại và cậu cúi người áp sát vào nó, nói chuyện với nó như thể nó không hoang dại cũng không độc địa. Rawlins phóng mắt nhìn về phía cánh cổng của bãi quây. Có đến năm chục người nữa đến xem. Họ ngồi ăn uống dưới đất. Những ông bố bế những đứa trẻ trên tay. John Grady lấy cái bàn đạp ra khỏi sừng yên và thả nó rơi xuống. Rồi cậu kéo mạnh sợi đai lên và khóa lại.
- Được rồi đấy.
- Giữ nó nhé. - Rawlins nói.
Cậu giữ dây cương trong khi Rawlins tháo những sợi dây chằng ra khỏi bộ dây cương, quỳ xuống và cột chúng vào những sợi dây chằng ở hai chân trước. Rồi họ tháo bộ dây cương ra khỏi đầu con ngựa và John Grady đưa cái rọ bịt mõm lên cao, nhẹ nhàng tròng vào cái mũi nó rồi gắn dây bịt mõm và dây cương buộc quanh đầu. Cậu tập hợp toàn bộ dây cương và thắt lại thành vòng trên đầu nó rồi gật đầu. Rawlins quỳ xuống, tháo những sợi dây chằng và kéo những mối thòng lọng cho đến khi các mối buộc của sợi dây rớt xuống mặt đất cạnh móng sau của nó. Rồi con ngựa bước đi.
John Grady đặt một chân vào bàn đạp và ép sát người mình vào vai con ngựa, thì thầm vỗ về nó, rồi phóng thoắt một cái lên yên.
Con ngựa đứng bất động. Nó đá một chân sau để cảm nhận thử không khí và rồi lại đứng yên, sau đó nó ngoảnh sang một bên và xoay mình, tung chân đá và đứng thở phì phì. John Grady chạm vào hai hông sườn nó bằng đôi gót ủng của mình và nó chồm về trước. Cậu ghì cương và nó dừng lại. Rawlins phun nước bọt khinh miệt. John Grady lái nó quay về lại chỗ cũ.
- Loại ngựa hoang chết tiệt nào thế? - Rawlins nói. - Cậu nghĩ đó là cái mà những người này bỏ tiền ra để xem sao?
Lúc trời về tối, cậu cưỡi được mười một trong mười sáu con. Không phải tất cả chúng đều có thể điều khiển được. Ai đó đã nhóm lên ngọn lửa trên mặt đất bên ngoài bãi trống và hình như có đến một trăm người tụ tập, một vài người đến từ thị trấn La Vega sáu dặm về hướng nam, một số người còn xa hơn. Cậu cưỡi năm con cuối cùng bên cạnh ánh sáng của ngọn lửa, những con ngựa như nhảy nhót, xoay mình trong ánh sáng đó, những đôi mắt đỏ hoe của chúng rực sáng. Khi họ hoàn tất công việc, những con ngựa đứng trong bãi trống hoặc bước đi quanh quẩn kéo lê những sợi dây cương khắp mặt đất dường như với một sự cẩn trọng, không để giẫm đạp lên nhau hoặc va vào những cái mũi đau đớn của chúng để rồi chúng trở nên lịch lãm và nhã nhặn một cách kỳ lạ. Bảy ngựa hoang điên cuồng và man dại chạy xung quanh bãi trống trong buổi sáng hôm đó như những viên ngọc bích cuộn tròn trong một chiếc lọ khó có thể nói là hiện hữu được và những con thú ấy hí lên với nhau trong bóng tối và đáp trả lại như thể một con trong bọn chúng mất tích hoặc bị gì đó.
Khi họ trở về nhà trại trong màn đêm, ngọn lửa mừng vui ấy vẫn cháy rực, và một người mang đàn guitar, một người mang đàn hạc. Ba người khách lạ đã mời họ một ít rượu mùi Mexico trước khi họ rời đám đông.
Nhà bếp trống không và họ vào bàn ăn bữa tối. Rawlins nhìn John Grady. Cậu nhai với vẻ cứng nhắc vụng về và ngồi lào đảo như muốn ngã xuống chiếc ghế dài.
- Cậu không mệt đấy chứ? - Anh ta nói.
- Không. - John Grady đáp. - Cách đây năm tiếng đồng hồ thì có.
Rawlins cười to: Đừng uống thêm cái thứ cà phê đó, nó sẽ khiến cậu thức suốt đêm đấy.
Khi họ bước ra ngoài lúc trời hừng sáng, ngọn lửa vẫn còn âm ỉ và có bốn hoặc năm gã đàn ông đang nằm ngủ trên mặt đất, một vài gã có chăn còn một vài người khác thì không. Tất cả ngựa trong bãi quây đều nhìn chăm chăm khi họ bước qua cánh cổng.
- Cậu nhớ mặt chúng như thế nào chứ? - Rawlins hỏi.
- Có. Tôi nhớ chúng. Tôi biết cậu nhớ mặt gã bạn thân của cậu đằng kia kìa.
- Vâng, tôi biết con quái đó mà.
Khi John bước đến bên con ngựa cùng với cái bao bố, nó ngoảnh mặt và phi nước kiệu. Cậu lùa nó vào hàng rào, nhặt sợi dây thừng lên và kéo ngược nó lại. Nó đứng run lẩy bẩy và cậu bước đến nó, bắt đầu nói chuyện với nó, vuốt ve nó bằng cái bao bố. Rawlins đi lấy những tấm chăn, yên ngựa và cái rọ bịt mõm.
Khoảng mười giờ tối hôm đó, John đã cưỡi toàn bộ mười sáu con ngựa và Rawlins cưỡi mỗi con hai lần. Họ lại cưỡi bảy ngựa ấy vào ngày thứ ba. Sáng ngày thứ tư lúc trời hừng sáng, con ngựa đầu tiên được thắng cương và mặt trời chưa mọc thì John Grady đã cưỡi đến cổng chuồng.
- Dắt nó ra đi. - John nói.
- Hãy để tôi thắng yên một con ngựa non.
- Chúng ta không có thời gian.
- Nếu con khốn đó hất cậu xuống bụi gai, cậu sẽ có thời gian.
- Vậy thì tốt nhất tôi nên ngồi trên yên ngựa.
- Để tôi thắng yên một trong những con ngựa tốt này.
- Được nói.
John ra khỏi chuồng, dắt con ngựa của Rawlins, đứng đợi trong lúc Rawlins đóng cánh cổng và phóng ngựa ngang đến cạnh cậu. Những con ngựa non bước đi khép nép.
- Đây là kiểu người mù dắt người mù đấy, phải không?
Rawlins gật đầu: Một loại gì đó giống lão già T-Bone Watts khi ông ta làm việc cho bố tôi, tất cả họ nhặng xị lẫn với hơi thở nặng mùi của ông ta. Ông bảo họ rằng tốt hơn là đừng có thở.
John Grady há miệng cười to và thúc chiếc ủng vào con ngựa để nó phi nước kiệu về phía trước và họ cùng phóng lên đường.
Lúc giữa chiều, cậu lại cưỡi tất cả những con ngựa và trong lúc Rawlins loay hoay với chúng trong bãi quây thì John cưỡi con grullo nhỏ mà Rawlins đã chọn để vào địa hạt. Phía trên trang trại hai dặm là con đường với những cây lách, cây liễu và mận dại mọc dọc theo bờ của con lạch nhỏ mà cô ấy từng cưỡi con ngựa ô qua mặt cậu.
Cậu nghe tiếng ngựa phía sau và lẽ ra đã ngoái đầu lại nhìn, nhưng cậu nghe chừng bước đi của nó đã thay đổi. Cậu không nhìn cô ấy cho đến khi con ngựa Ả Rập ở ngay sát cạnh cậu, nó bước đi với cái cổ cong lại và một con mắt nhìn vào con ngựa non không phải với sự dè chừng mà bằng một vẻ khinh miệt của loài ngựa. Cô vượt qua được năm bộ và ngoảnh khuôn mặt xương xẩu của mình liếc nhìn cậu. Cô có đôi mắt xanh. Cô gật đầu hoặc có thể chỉ hơi hạ thấp đầu xuống cốt để nhìn rõ hơn cái loại ngựa nào mà cậu cưỡi, độ nghiêng mỏng mảnh nhất của chiếc nón rộng vành màu đen ngang bằng trên đầu cô, cái hất lên nhẹ nhàng của mái tóc dài đen. Cô vượt qua và con ngựa lại chuyển bước. Cô ngồi trên lưng ngựa theo cách có thể nói là không thể tốt hơn được nữa, cô ngồi thẳng với hai bờ vai rộng và thúc con ngựa phi nước kiệu trên đường. Con ngựa non dừng lại và giở chứng bất kham trên đường với hai chân trước của nó soài ra và cậu ngồi, mắt đăm đăm nhìn theo cô ấy. Cậu hình như định nói một điều gì nhưng đôi mắt đó đã biến đổi cái thế giới này mãi mãi theo nhịp đập của trái tim. Cô mất hút xa tận đến những cây liễu bên cạnh bờ lạch. Một đàn chim nhỏ vụt bay lên và hướng ngược về phía cậu với những tiếng kêu yếu ớt.
Tối hôm đó khi Antonio và gã cai xuất hiện ở chỗ bãi quây để xem những con ngựa mà cậu đã huấn luyện, con grullo quay về lại với Rawlins với chiếc yên trên lưng. Họ quan sát, gã cai ngậm cây tăm xỉa răng. Antonio cưỡi hai con ngựa đang đứng với yên cương đã được chuẩn bị, rẽ chúng qua lại và rồi bất ngờ giật ngược đầu chúng lên. Ông xuống ngựa và gật đầu, ông và gã cai hướng mắt nhìn về những con ngựa đang đứng ở cánh bên kia của bãi quây và rồi họ bỏ đi. Rawlins và John Grady nhìn nhau. Họ tháo yên những con ngựa và trả chúng về lại bầy, bước về nhà trại mang theo những chiếc yên ngựa và bộ yên cương, rồi tắm táp chuẩn bị ăn tối. Những gã chăn dắt đã ngồi ở bàn, họ có đĩa và tự lấy thức ăn ở bếp lò cùng cà phê. Họ đến chiếc bàn dài, xốc một chân lên và ngồi xuống. Có một cái đĩa làm bằng đất sét đựng những chiếc bánh bắp nằm ở giữa bàn với một cái khăn phủ lên đó. Khi John Grady chỉ và hỏi thì chiếc đĩa được chuyển đi từ tay này đến tay kia từ hai bên bàn theo thể thức giống như một chén thánh.
Ba ngày sau họ ở trên núi. Gã cai gửi đi một người phụ việc để lo nấu ăn và chăm sóc ngựa. Gã cũng gửi thêm ba người chăn gia súc trẻ tuổi có lẽ không lớn hơn họ là mấy. Người phụ việc là một ông lớn tuổi bị tật một chân tên là Luis. Luis từng là chiến binh ở Torreon, San Pedro và Zacatecas, còn những người chăn dắt kia đến từ đất nước này, hai trong số họ được sinh ra ở trang trại. Một trong ba gã đó từng ở xa đến tận Monterrey. Họ lên núi, mỗi người kéo theo ba con trong đàn ngựa thuần cùng với những con ngựa thồ để chở thức ăn và lều trại. Họ săn ngựa hoang ở những khu rừng vùng cao giữa những cây thông, bụi dâu và giữa những con suối nơi họ ẩn nấp rồi lùa chúng chạy lên núi cao đỉnh bằng và nhốt chúng trong hẻm núi đá có sẵn hàng rào và cổng từ mười năm trước. Ở đó chúng nhe răng, la rống và trèo chới với trên những vách đá dốc và rồi xoay mình giẫm đạp lên nhau, cắn và đá loạn xạ. Trong khi ấy, John Grady bước đi ở giữa chúng trong mồ hôi, khói bụi và cảnh tượng hỗn độn với sợi dây thừng như thể chúng không khác gì là một niềm khát khao cháy bỏng về ngựa. Ban đêm, họ cắm trại ở mũi đất nơi ngọn lửa tà tơi bởi gió đung đưa qua lại giữa màn đêm. Luis kể cho họ nghe những câu chuyện về đất nước này, về những người từng sống trong đó, những người đã chết và cách mà họ chết. Ông yêu ngựa cả cuộc đời. Ông, cha ông và hai người em của ông đã chiến đấu trong đội kỵ binh và họ đã hy sinh. Thế nhưng tất cả họ
đều căm phẫn Victoriano Huerta hơn tất cả những người đàn ông khác và những chiến công của Huerta trên tất cả những thảm họa ám ảnh khác. Ông nói rằng nếu so với Judas phản Chúa, Huerta chính là Judas, ngoại trừ có một Đấng Cứu Thế khác. Một trong những gã chăn dắt trẻ nhìn đi chỗ khác và một gã khác cầu Chúa phù hộ cho ông. Ông nói rằng chiến tranh đã hủy hoại toàn bộ vùng đất và người ta tin rằng giải pháp cho chiến tranh là chiến tranh cũng như thầy lang băm dùng thịt rắn để trị vết cắn của nó. Ông kể về những chiến dịch của ông trong những vùng hoang mạc Mexico, ông cũng kể cho họ nghe về những con ngựa bị giết trước mặt ông và ông nói rằng linh hồn của những con ngựa đó phản ánh chính linh hồn của những người đàn ông một cách chính xác hơn là họ nghĩ; và những con ngựa cũng ưa sống cùng với chiến tranh. Họ nói rằng họ hiểu điều này nhưng ông cho rằng không ai có thể hiểu được điều mà thậm chí trái tim ông cũng chẳng thể hiểu. Cha ông đã từng nói rằng không người đàn ông nào không ra trận trên lưng ngựa lại có thể thực sự hiểu về ngựa; và ông nói rằng ông mong muốn điều này đừng là như thế, nhưng nó vẫn là thế.
Cuối cùng, ông nói đã từng nhìn thấy linh hồn của những con ngựa và nhìn thấy việc đó thật là khủng khiếp, ông nói rằng điều đó có thể được nhìn thấy trong hoàn cảnh nào đó khi tham dự lễ chôn cất một con ngựa bởi vì nó có cùng một linh hồn và khi ra đi, nó sẽ mang lấy linh hồn của tất cả những con ngựa khác, điều này khiến nó trở nên bất tử. Ông nói rằng nếu một người hiểu được linh hồn của con ngựa đó thì sẽ hiểu tất cả những con ngựa vốn từng là như vậy.
Họ ngồi hút thuốc, mắt chăm chăm nhìn những cục than hồng sâu thẳm chính giữa ngọn lửa, nơi những mẩu than vụn đỏ rực nứt kêu răng rắc và vỡ vụn.
- Còn những người đàn ông thì sao? - John Grady hỏi.
Ông già lẩm bẩm trong miệng nghĩ ra cách trả lời. Cuối cùng ông nói rằng giữa những người đàn ông không có sự đồng cảm như giữa những con ngựa, và ý niệm rằng những người đàn ông có thể được cảm thông chỉ là một ảo tưởng. Rawlins hỏi ông bằng tiếng Tây Ban Nha rất tồi của mình rằng liệu có thiên đàng cho những con ngựa không, nhưng ông lắc đầu và nói rằng một con ngựa không có thiên đàng. Cuối cùng John Grady thắc mắc với ông rằng sẽ không đúng nếu nói tất cả những con ngựa biến mất khỏi bề mặt trái đất thì linh hồn của chúng cũng sẽ không chết, bởi vì chẳng có gì trong thế giới này để tái tạo lại chúng. Thế nhưng ông già chỉ nói rằng thật là vô nghĩa khi nói rằng không có những con ngựa nào trên trái đất này vì Chúa không cho phép một điều như thế.
Họ lùa những con ngựa cái qua những con rạch và con suối nhỏ bên ngoài những ngọn núi và băng ngang qua những bãi cỏ ngập nước của vùng đồng bằng rồi nhốt chúng lại. Họ làm công việc này trong ba tuần cho đến cuối tháng tư thì có được hơn tám mươi con ngựa cái trong bãi quây, phần lớn chúng đã được thuần, một vài con được lựa ra để làm ngựa cưỡi. Khoảng thời gian ấy vẫn tiến hành công việc dồn đuổi và hàng đàn gia súc di chuyển mỗi ngày ra khỏi vùng đất trống vào những vùng đồng cỏ của trang trại; và mặc dù một vài gã chăn dắt không có nổi đến hai hoặc ba con ngựa trong đàn của mình, song những con ngựa mới vẫn ở trong bãi quây. Vào buổi sáng thứ hai của tháng năm, chiếc máy bay Cessna màu đỏ từ phía nam đến lượn vòng quanh trang trại, nghiêng cánh và hạ xuống rồi lượn ra khỏi tầm nhìn bên kia những hàng cây.
Một giờ sau, John Grady đứng trong nhà bếp của nhà trại với chiếc nón trong tay. Một người phụ nữ đang rửa những cái đĩa ở chậu rửa chén và một người đàn ông đang ngồi ở bàn đọc báo. Người phụ nữ lau hai bàn tay vào chiếc tạp dề của mình và biến mất vào một khu vực khác của ngôi nhà, rồi chỉ trong vài phút bà xuất hiện trở lại. Đợi một tí nhé. - Bà nói.
John Grady gật đầu. Cảm ơn. - Cậu nói.
Người đàn ông đứng dậy, gấp tờ báo và bước đến nhà bếp rồi trở lại với một cái giá thịt bằng gỗ cùng những con dao róc xương với một thỏi đá mài và đặt chúng trên một tờ giấy. Cùng lúc đó Don Hector xuất hiện ở cánh cửa ra vào và đứng nhìn John Grady.
Ông là một người gầy gò với đôi vai rộng và mái tóc hoa râm, vóc người cao theo đặc tính của người miền Bắc với làn da ngăm. Ông bước vào bếp, tự giới thiệu mình. John Grady chuyển chiếc nón sang tay trái và họ bắt tay nhau.
- Mary. - Ông chủ nói. - Cà phê nhé.
Ông chìa lòng bàn tay hướng lên về phía lối ra vào và John Grady băng qua nhà bếp, bước vào gian phòng. Ngôi nhà mát lạnh, yên tĩnh, thoang thoảng mùi sáp và hoa. Một chiếc đồng hồ quả lắc dựng đứng ở hành lang về phía trái. Những quả cân bằng đồng chuyển động phía sau hai cánh cửa ra vào, quả lắc dao động chầm chậm. Cậu ngoảnh mặt nhìn về phía sau và ông chủ mỉm cười, duỗi bàn tay hướng về phía cửa phòng ăn. - Vào đi. - Ông nói.
Họ ngồi ở một cái bàn dài làm bằng gỗ óc chó theo kiểu người Anh. Tường được phủ gấm Đa-mát màu xanh và có treo những bức chân dung của người và ngựa. Cuối gian phòng là một chiếc bàn thường bằng gỗ óc chó, bày biện trên đó là vài nồi hầm thức ăn cùng những bình thon cổ đựng rượu; dọc theo bậu cửa sổ bên ngoài là bốn chú mèo đang nô giỡn trong ánh nắng mặt trời. Don Hector bước vào từ phía sau, lấy một cái gạt tàn bằng sứ trên bàn, đặt trước mặt họ và rút từ túi áo ra một hộp thiếc nhỏ đựng thuốc lá Anh quốc, rồi mở hộp mời John Grady và cậu cầm lấy một điếu.
- Cảm ơn. - Cậu nói.
Ông chủ đặt hộp thiếc lên bàn ở giữa họ và rút chiếc bật lửa màu bạc từ túi áo, đoạn mồi điếu thuốc của cậu rồi đến điếu của ông.
- Cảm ơn.
Người đàn ông phà một làn khói mỏng nhẹ nhàng xuống dưới bàn và cười.
- Được rồi. - Ông nói. - Chúng ta có thể nói tiếng Anh.
- Bất cứ điều gì ông cảm thấy thích hợp. - John Grady nói.
- Armando nói với tôi rằng cậu am hiểu về ngựa.
- Tôi đã sống cạnh chúng một thời gian.