Những Con Tuấn Mã

Lượt đọc: 469 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I Tiếp theo

Trưa ngày hôm sau họ cưỡi ngựa vào thị trấn Encantada nằm phía dưới dãy núi thấp bị xén ngọn. Họ đi dọc theo mép núi và điều đầu tiên họ nhìn thấy là cây súng lục của Blevins vắt bên ngoài túi sau của một gã đàn ông đang khom người vào khoang xe của chiếc xe hiệu Dodge. John Grady nhìn thấy trước và lẽ ra cậu đã có thể gọi tên những thứ mà mình nhìn thấy.

- Ôi kìa, chết tiệt, cây súng của tôi. - Blevins la lên.

John Grady quay người ra sau và túm lấy chiếc áo nó mặc nếu không nó đã trượt khỏi con ngựa.

- Từ từ, thằng ngốc. - Cậu nói.

- Từ từ cái quái gì chứ. - Blevins nói.

- Mày nghĩ mày sẽ làm gì nào?

Rawlins thúc ngựa lên sát bên cạnh họ. Nào tiếp tục cưỡi đi thôi. - Anh ta huýt lên một tiếng. - Thượng đế toàn năng.

Một vài đứa trẻ đang nhìn từ một cánh cửa ra vào và Blevins ngoảnh mặt nhìn về phía sau.

- Nếu con ngựa đó ở đây. - Rawlins nói. - Họ sẽ không mời Dick Tracy đến để tìm hiểu nó là của ai.

- Cậu muốn làm gì?

- Tôi không biết. Rút khỏi con đường chết tiệt này. Dù sao có thể cũng đã quá muộn rồi. Tôi nói chúng ta có thể giấu nó ở một nơi an toàn nào đó cho đến khi có thể tìm ra con ngựa.

- Như vậy có hợp với mày không, Blevins?

- Quỷ tha ma bắt, hợp hay không thì nó cũng phải chịu vậy thôi. - Rawlins nói. - Nó không có tiếng nói ở đây. Nếu nó không muốn sự giúp đỡ của tôi thì nó sẽ không được gì.

Anh ta vượt qua mặt họ và rẽ xuống một con rãnh đất sét dẫn ra đường.

- Chết tiệt, đừng nhìn lại. - John Grady nói.

Họ để lại cho nó một bi đông nước dưới bóng râm của những cây dương và bảo nó đừng ló mặt ra và rồi họ chậm rãi cưỡi ngược trở lại xuyên qua thị trấn. Họ di chuyển cẩn thận dọc theo một trong những con rãnh có nhiều vết lún sâu vốn là đặc điểm của thị trấn này và nhìn thấy con ngựa ló đầu ra khỏi khung cửa sổ không có kính của một ngôi nhà bằng bùn bỏ hoang.

- Nào cứ cưỡi tiếp đi. - Rawlins nói.

John Grady gật đầu.

Khi họ trở về bụi dương thì không thấy Blevins đâu cả. Rawlins ngồi nhìn ra một vùng đất cằn cỗi và đầy bụi. Anh thọc tay vào túi lấy thuốc lá.

- Tôi sẽ nói với cậu một chuyện, anh bạn thân à.

John Grady cúi người và phun nước bọt: Được.

- Trong mọi điều ngu xuẩn mà tôi từng làm trong cuộc đời mình, luôn có một quyết định tôi phải đưa ra trước khi nó kéo tôi vào. Đó không bao giờ là điều ngu xuẩn. Luôn luôn là một sự lựa chọn mà tôi phải thực hiện trước khi gặp rắc rối. Cậu hiểu điều tôi nói chứ?

- Ừ. Tôi cũng nghĩ vậy. Ý cậu là sao chứ?

- Nghĩa là thế đấy. Đây là cơ hội cuối cùng của chúng ta. Ngay lúc này. Đây là thời điểm và sẽ chẳng có thời điểm nào khác nữa; tôi đảm bảo với cậu.

- Ý cậu là bỏ hắn ở đây?

- Phải, đúng vậy.

- Điều gì sẽ xảy ra nếu đó là cậu?

- Không phải là tôi.

- Nếu vậy thì sao?

Rawlins ngoéo điếu thuốc vào khóe miệng, lấy một que diêm từ trong túi ra và bật nó đỏ lên bằng móng ngón tay cái của mình. Anh nhìn John Grady.

- Tôi sẽ không bỏ cậu và cậu cũng sẽ không bỏ tôi. Đừng có tranh cãi.

- Cậu có nhận ra tình thế khó khăn mà nó sẽ rơi vào không?

- Có. Tôi nhận thấy điều đó. Đó là cái mà nó tự đưa mình vào.

Họ ngồi. Rawlins hút thuốc. John Grady ngồi vòng tay trên quả táo yên ngựa và nhìn chúng. Sau một hồi cậu ngẩng đầu lên.

- Tôi không thể làm chuyện đó. - Cậu nói.

- Được.

- Là sao?

- Là sao cũng được. Nếu cậu không thể thì cậu không thể. Tôi nghĩ dù sao thì tôi cũng hiểu những điều cậu nói.

- Ừ, được rồi. Tôi không làm như vậy.

Họ tháo yên ngựa, cột chúng lại rồi nằm trên đám lá khô dưới những cây dương, sau một chốc họ thiếp đi. Khi họ thức dậy, trời hầu như tối đen. Thằng bé ngồi xổm ở đó đang nhìn họ.

- Rất may tôi không phải là thằng đểu. - Nó nói. - Lẽ ra tôi có thể lừa bịp các anh và cuỗm đi tất cả những gì các anh có.

Rawlins ngoảnh sang nhìn nó từ phía dưới vành nón của mình và rồi quay mặt lại. John Grady ngồi dậy.

- Các anh đã tìm được gì rồi? - Blevins nói.

- Con ngựa của mày ở đây.

- Các anh có thấy nó không?

- Có.

- Còn cái yên ngựa?

- Bọn tao không nhìn thấy cái yên ngựa.

- Tôi sẽ không rời khỏi đây cho đến khi lấy lại được tất cả những thứ của mình.

- Được rồi. - Rawlins nói. - Hãy nhớ điều đó.

- Anh ta nói gì vậy? - Blevins hỏi.

- Đừng bận tâm. - John Grady nói.

- Nếu đó là đồ của nó, tôi cược vấn đề sẽ khác. Vậy thì nó sẽ sẵn sàng lấy lại khẩu súng?

- Đừng xúi giục.

- Nghe này, thằng ngốc. - Rawlins nói. - Nếu không vì anh chàng này, tao sẽ chẳng ở đây. Có thể tao đã bỏ mày ở tận con lạch trên kia. Không, tao phải bỏ nó lại. Lẽ ra tao đã bỏ mày ở con sông Pecos.

- Bọn tao sẽ cố gắng lấy lại con ngựa cho mày," John Grady nói. "Nếu điều đó vẫn chưa thỏa mãn mày thì hãy cho tao biết ngay bây giờ."

Blevins nhìn chằm chằm xuống đất.

- Nó chẳng hề quan tâm," Rawlins nói. "Việc chúng ta bị bắn chết vì tội ăn trộm ngựa chẳng màng gì đến nó cả. Nó mong muốn như vậy."

- Không phải ăn trộm," Blevins nói. "Đó là con ngựa của tôi."

- Hãy cho anh chàng kia biết những điều mày dự tính, bởi vì tao không bận tâm.

- Được rồi," Blevins nói.

John Grady dò xét nó: Bọn tao lấy lại con ngựa và mày sẵn sàng cưỡi nhé.

- Ừ.

- Bọn tao ghi nhận lời nói của mày nhé?

- Lời của thằng ngốc," Rawlins nói.

- Ừ," Blevins nói.

John Grady nhìn Rawlins. Rawlins nằm dưới chiếc nón của mình. Anh ta quay mặt về phía Blevins. "Được rồi," anh ta nói.

Anh đứng dậy lấy chiếc túi ngủ của mình và quay lại trao cho Blevins một tấm chăn.

- Chúng ta ngủ bây giờ à?" Blevins hỏi.

- Tao chuẩn bị ngủ đấy.

- Các anh đã ăn chưa?

- Rồi," Rawlins đáp. "Dĩ nhiên bọn tao đã ăn rồi. Mày không ăn à? Bọn tao ăn mỗi người một miếng thịt nướng và chừa lại một miếng thứ ba."

- Chết tiệt," Blevins nói.

Họ ngủ cho đến khi mặt trăng lặn; rồi họ ngồi trong bóng đêm và hút thuốc. John Grady ngắm sao.

- Cậu biết bây giờ là mấy giờ rồi không?" Rawlins hỏi.

- Trăng non chỉ vào lúc nửa đêm ở nơi tôi ra đi.

Rawlins hút thuốc.

- Quỷ tha ma bắt. Tôi phải ngủ lại thôi.

- Cứ ngủ đi. Tôi sẽ đánh thức cậu dậy.

- Vậy nhé.

Blevins cũng đi ngủ. John Grady ngồi ngắm nhìn bầu trời đang cuộn lên từ phía sau những dãy núi đen về hướng đông. Theo hướng về khu làng hoàn toàn là một màu đen. Ngay cả một tiếng chó sủa cũng không có. Cậu nhìn Rawlins đang cuộn tròn trong chiếc túi ngủ, cậu biết anh ta đúng trong mọi điều anh ta đã nói và không có sự giúp đỡ nào cho điều đó. Con chim xinclut đậu ở rìa bắc của thế giới chuyển hướng và đêm tối trôi qua một cách chậm chạp.

Khi cậu đánh thức họ, vẫn còn một tiếng đồng hồ nữa trời mới sáng.

- Cậu sẵn sàng chưa?" Rawlins hỏi.

- Sẵn sàng như đó là trách nhiệm của tôi.

Họ thắng yên và John Grady đưa cho Blevins sợi dây cột ngựa của mình. "Mày có thể dùng nó để làm sợi dây cương," cậu nói.

- Được rồi.

- Đặt nó dưới áo của mày đấy," Rawlins nói. "Đừng để ai trông thấy."

- Chẳng có ai nhìn thấy được," Blevins nói.

- Đừng có đánh đố nữa. Tao nhìn thấy một vệt sáng ở kia kìa.

- Nào đi thôi," John Grady nói.

Không có một ngọn đèn nào trên đường nơi họ nhìn thấy con ngựa. Họ chầm chậm đi dọc theo con đường. Một con chó đang nằm ngủ dưới đất bỗng vụt đứng dậy và bắt đầu sủa; Rawlins làm động tác như ném một vật gì đó vào con chó và nó lỉnh mất. Khi họ đến ngôi nhà nơi con ngựa bị nhốt, John Grady xuống ngựa, bước đến, nhìn vào cửa sổ rồi quay trở ra.

- Nó không có ở đó," anh ta nói.

Không khí hoàn toàn tĩnh mịch trên con đường bùn bé nhỏ. Rawlins cúi người và phun nước bọt. "Chết tiệt," anh ta nói.

- Các anh có chắc đúng là nơi này không?" Blevins nói.

- Nơi này đấy.

Thằng bé trượt xuống ngựa và rón rén bước đi với hai bàn chân trần ngang qua con đường hướng đến ngôi nhà và nhìn vào. Rồi nó trèo qua cửa sổ.

- Nó đang làm cái quái gì thế?" Rawlins nói.

- Cậu đừng lo.

Họ đợi. Nó không trở lại.

- Có ai đến kìa.

Một vài con chó bắt đầu sủa. John Grady phóng lên lưng ngựa trở lại con đường và ngồi yên trong bóng tối. Rawlins theo sau. Những con chó bắt đầu sủa vang khắp cả thị trấn. Một ánh đèn sáng lên.

- Chúa ơi phải nó không đấy?" Rawlins nói.

John Grady nhìn Rawlins. Anh ta đang ngồi với khẩu cacbin ngay trên đùi. Xa xa tận bên kia những ngôi nhà, trong tiếng ầm ĩ của lũ chó vang lên một tiếng thét lớn.

- Cậu có biết lũ chó chết này định làm gì chúng ta không?" Rawlins nói. "Cậu có nghĩ về điều đó không?"

John Grady cúi người về trước và vỗ vỗ con ngựa rồi đặt bàn tay lên lưng nó. Con ngựa bắt đầu chồm lên, mà thật ra nó không phải thuộc loại ngựa chứng. Nó nhìn về những ngôi nhà sáng đèn. Một con ngựa hí lên trong đêm tối.

- Ôi, cái thằng chết tiệt," Rawlins nói. "Cái thằng chết tiệt."

Bên ngoài, tất cả sự hỗn độn như nổ ra dọc theo bãi đất nhỏ. Rawlins quay đầu và con ngựa giậm chân rồi chuyển sang nước kiệu. Anh ta dùng nòng súng quất mạnh vào mông nó. Con ngựa nằm bẹp xuống rồi thọc mạnh những móng chân sau xuống mặt đất. Blevins chỉ với một chiếc quần lót trên người đã ngồi trên lưng con xích mã vốn được canh gác cẩn mật bởi một đàn chó; và bây giờ chúng gào rú

Tràn xuống con đường làm bụi bay mù mịt ở chỗ hàng rào xương rồng ocotillo đã mục nát mà Blevins vừa thúc ngựa chạy qua.

Con ngựa phóng nhanh qua sát cạnh Rawlins, Blevins bám chặt lấy bờm của con vật và chộp lấy chiếc nón của mình. Đàn chó chia thành từng toán lùng sục điên dại khắp con đường còn ngựa của Rawlins thì đang đứng, xoay mình và lắc đầu. Con xích mã xoay một vòng ba trăm sáu mươi độ rồi bỗng có ba phát súng ngắn từ đầu đó trong bóng đêm vang lên cách đều nhau, pằng pằng pằng. John Grady thúc gót ủng vào hông ngựa và cúi rạp mình trên yên ngựa. Cậu và Rawlins cùng chạy lên con đường. Blevins phóng qua mặt họ, hai cái đầu gối xanh nhợt của nó ép chặt vào con ngựa và vạt áo tung bay trong gió.

Trước khi họ đến khúc rẽ ở đỉnh đồi, lại có thêm ba phát súng nữa xuất phát từ con đường phía sau. Họ rẽ vào con đường mòn chính nam và tiếp tục đi xuyên qua thị trấn. Lúc này đã có thêm vài ngọn đèn khác sáng lên trong những cánh cửa sổ nhỏ. Họ phi nước đại rồi lên những ngọn đồi thấp. Ánh sáng đầu tiên đang định hình vùng đất mới về hướng đông. Đi tiếp một dặm nữa về hướng nam của thị trấn, họ đuổi kịp Blevins. Nó quay đầu ngựa và nhìn họ đang trên đường phía sau.

- Dừng lại. - Nó nói. - Nghe kìa.

Họ cố giữ cho ngựa bớt thở hổn hển.

- Thằng chết tiệt. - Rawlins nói.

Blevins không trả lời. Nó trượt khỏi yên ngựa và nằm sát xuống đường để lắng nghe. Rồi nó đứng dậy và thoắt trở lại lên lưng ngựa.

- Những thằng cao bồi. - Nó nói. - Bọn chúng đang đến đấy.

- Ngựa à?

- Ừ. Tôi sẽ cho các anh biết rằng ngay dưới kia không cách nào các anh có thể đuổi kịp tôi. Hãy để tôi chạy trên con đường này bởi chính tôi là người đang bị săn đuổi. Bọn chúng sẽ bám theo bụi mù và các anh có thể chuồn vào vùng này. Tôi sẽ gặp lại các anh ở cuối đường.

Trước khi họ kịp đưa ra ý kiến, nó đã giật con ngựa quay đầu lại và phóng lên đường mòn.

- Nó đúng. - John Grady nói. - Tốt nhất chúng ta nên chuồn khỏi con đường chết tiệt này.

- Được.

Họ phóng qua những bụi cây trong bóng đêm, di chuyển vào vùng đất thấp nhất mà họ có thể bám theo, nằm áp sát cổ ngựa để không bị phản chiếu ánh sáng từ trên cao.

- Chúng ta sắp sửa để cho những con ngựa này bị rắn cắn chắc chắn. - Rawlins nói.

- Trời sẽ sáng mau thôi.

- Vậy thì chúng ta có thể bị bắn chết.

Trong một thoáng, họ nghe tiếng ngựa trên đường. Rồi nhiều con ngựa khác nữa. Thế rồi tất cả trở nên im bặt.

- Tốt nhất chúng ta nên tìm một nơi nào đó. - Rawlins nói. - Trời sắp sáng rồi.

- Phải, tôi biết.

- Cậu có nghĩ khi quay lại, họ sẽ biết nơi chúng ta rời bỏ con đường này không?

- Trừ khi chúng có đủ người cưỡi trên đó.

- Điều gì xảy ra nếu họ bắt được nó?

John Grady không trả lời.

- Nó không ngại gì về việc chỉ cho bọn chúng hướng đi của chúng ta.

- Có thể sẽ không.

- Cậu không biết đấy thôi. Tất cả những gì bọn chúng phải làm là nhìn nó theo hướng chéo.

- Vậy tốt nhất chúng ta tiếp tục đi.

- Ừ, tôi không biết cậu thế nào chứ tôi sắp sửa kiệt sức rồi đây.

- Được rồi, vậy cho tôi biết cậu muốn gì?

- Chết tiệt. - Rawlins nói. - Chúng ta không có sự lựa chọn. Chúng ta sẽ chứng kiến ngày mai xảy ra điều gì. Có thể sắp tới chúng ta có thể tìm thấy một ít ngũ cốc ở một nơi nào đó trong vùng đất này.

- Có thể.

Họ kìm ngựa chậm lại và lên đến đỉnh của rặng núi dài. Chẳng có gì di chuyển trong toàn bộ cái khung cảnh xám xịt đó. Họ xuống ngựa và bước đi dọc theo rặng núi. Những con chim nhỏ bắt đầu hót lên từ vùng đồng cỏ chaparral.

- Cậu có biết chúng ta ăn cách đây bao lâu rồi không? - Rawlins nói.

- Tôi thậm chí còn không nghĩ đến điều đó.

- Tôi cũng vậy cho đến lúc này. Bị đeo bám chắc chắn sẽ khiến cậu mất đi cảm giác ngon miệng, phải không?

- Đợi một phút.

- Chuyện gì vậy?

- Đừng ồn.

Họ đứng và lắng nghe.

- Tôi chẳng nghe thấy gì cả.

- Có mấy tay cưỡi ngựa ngoài kia.

- Trên đường à?

- Tôi không biết.

- Cậu có nhìn thấy gì không?

- Không.

- Nào, chúng ta tiếp tục đi thôi.

John Grady phun nước bọt và đứng lắng nghe. Rồi họ tiếp tục đi.

Lúc trời sáng, họ để ngựa lại ở một bãi cát sỏi, trèo lên đỉnh ngọn đồi nhỏ, ngồi thu mình giữa những bụi xương rồng ocotillo và quan sát vùng đất về hướng đông bắc. Vài con nai thơ thẩn gặm cỏ dọc theo rặng núi đối diện. Ngoài ra họ chẳng nhìn thấy gì cả.

- Cậu có nhìn thấy con đường không? - Rawlins nói.

- Không.

Họ ngồi xuống. Rawlins tựa khẩu súng trường vào đầu gối của mình và rút gói thuốc ra khỏi túi áo. - Tôi nghĩ mình hút thuốc được rồi đấy. - Anh ta nói.

Một vệt ánh sáng dài tràn ra từ hướng đông và mặt trời lên cao làm đậm thêm cái sắc màu đỏ máu dọc theo chân trời.

- Nhìn kia kìa. - John Grady nói.

- Cái gì.

- Kia kìa.

Cách xa đó hai dặm những tay cưỡi ngựa đang đứng trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ. Một, hai. Một phần ba. Rồi họ lại lao xuống mất hút.

- Họ đi theo hướng nào?

- Này, người anh em, tôi không chắc lắm nhưng tôi có một ý nghĩ khá hay.

Rawlins ngồi xuống, tay vẫn cầm điếu thuốc. Chúng ta sẽ chết trong vùng đất chết tiệt này. - Anh ta nói.

- Không, chúng ta sẽ không chết.

- Cậu có nghĩ chúng lần theo được dấu vết của chúng ta ở khu vực này không?

- Tôi không biết. Tôi không cho rằng họ không thể.

- Tôi sẽ cho cậu biết sự việc như thế nào, anh bạn ạ. Nếu họ phong tỏa chúng ta ở một nơi nào đó trong vùng đất này với những con ngựa đã kiệt sức, thì họ sẽ phải đối diện với nòng súng trường này.

John Grady nhìn anh ta và rồi quay mặt nhìn ra ngoài, nơi mà những tay cưỡi ngựa vừa mới xuất hiện.

- Tôi ghét phải quay trở về lại Texas. - Anh ta nói.

- Súng của cậu đâu?

- Trong túi yên ngựa.

Rawlins mồi điếu thuốc: Nếu gặp lại thằng khốn đó, chính tôi sẽ giết nó. Quỷ tha ma bắt tôi đi nếu tôi không làm chuyện đó.

- Nào đi thôi. - John Grady nói. - Họ vẫn còn nhiều chỗ để sục sạo. Chúng ta phải chạy như một sự chống đỡ tồi tệ.

Họ đi về hướng tây với ánh nắng mặt trời trên lưng và bóng của họ, ngựa và người, trải dài trước mặt như những cây cao. Vùng đất họ vừa nhìn thấy là một nơi thường xảy ra núi lửa trước đây và họ bám theo bờ rìa của một cánh đồng sỏi đá đen thoai thoải và luôn dè chừng ở đằng sau. Họ lại nhìn thấy những tay cưỡi ngựa, ở hướng nam nơi mà bọn chúng có thể đã phát hiện ra họ. Và rồi một lần nữa.

- Nếu ngựa của bọn chúng không kiệt sức thì tôi tin bọn chúng bám đuổi còn ráo riết hơn thế. - Rawlins nói.

- Tôi cũng nghĩ vậy.

Giữa sáng, họ cưỡi ngựa lên đỉnh một rặng núi lửa thấp, quay đầu ngựa và ngồi quan sát.

- Cậu nghĩ gì vậy? - Rawlins hỏi.

- À, bọn chúng biết rằng chúng ta không giữ con ngựa đó. Chắc chắn là như thế. Chúng có vẻ nhưng không nóng lòng lao trên mảnh đất này như cậu và tôi.

- Cậu đúng đấy.

Họ ngồi một hồi lâu. Không có động tĩnh gì.

- Tôi nghĩ họ đã bỏ chúng ta.

- Tôi cũng nghĩ vậy.

- Nào, tiếp tục đi thôi.

Đến chiều tối, ngựa bắt đầu loạng choạng. Họ lấy nón của mình tắm cho chúng và đổ đầy những bình nước đã cạn khô, lên ngựa và tiếp tục hành trình. Họ không còn nhìn thấy những tay cưỡi ngựa nữa. Lúc trời tối họ tình cờ gặp một nhóm người chăn cừu cắm trại ở bờ bên kia của con lạch sâu, dưới đáy toàn đá cuội. Những người chăn cừu dường như chọn khu đất này với mục đích tự vệ, hệt như các thổ dân trước đây ở vùng này; và họ thận trọng quan sát hai tay cưỡi ngựa đang di chuyển dọc theo mép bờ bên kia.

- Cậu nghĩ sao? - John Grady hỏi.

- Tôi nghĩ chúng ta phải tiếp tục đi thôi. Tôi bất bình với những người dân ở vùng đất này.

- Tôi nghĩ cậu đúng.

Họ tiếp tục đi một dặm nữa và xuống con lạch để tìm nước. Họ không tìm thấy nước. Họ xuống ngựa và dắt chúng đi, tất cả bước đi loạng choạng vào trong bóng tối như đen dần. Rawlins vẫn mang cây súng trường, bước theo những dấu vết vô hồn còn in trên cát của bầy chim hoặc đàn heo rừng.

Đêm tối chứng kiến họ ngồi trên những tấm chăn ở bãi đất còn ngựa được cột cách họ chỉ vài sải chân. Họ ngồi vậy trong màn đêm mà không đốt lửa, không nói một lời nào. Một lúc sau, Rawlins nói: Lẽ ra chúng ta nên xin nước từ những người chăn cừu.

- Chúng ta sẽ tìm thấy nước vào sáng mai.

- Ước gì bây giờ trời sáng nhỉ.

John Grady không trả lời.

- Con Junior chết tiệt sẽ đái, càu nhàu và bực mình suốt đêm. Tôi biết nó sẽ như thế.

- Có thể chúng nghĩ chúng ta điên.

- Chúng ta không như vậy sao?

- Cậu có nghĩ họ bắt nó không?

- Tôi không biết.

- Tôi sẽ nộp nó.

Họ nằm trong những tấm chăn dưới đất. Mấy con ngựa dịch chuyển một cách khó khăn trong bóng đêm.

- Tôi sẽ nói một điều về nó. - Rawlins nói.

- Ai?

- Blevins.

- Chuyện gì?

- Thằng nhóc khốn đó sẽ không yên thân vì chẳng ai cướp con ngựa của nó cả!

Sáng hôm sau họ thả ngựa ở con lạch và trèo lên trên để ngắm mặt trời mọc, xem những điều mà vùng đất này có thể ban phát. Đêm qua thời tiết rất lạnh dưới vùng trũng và khi mặt trời ló dạng, họ ngồi quay lưng lại hướng mặt trời. Về hướng bắc một làn khói mỏng như cái hình chóp bốc lên trong bầu trời yên lặng không có gió.

- Cậu có nghĩ đó là trại cừu không? - Rawlins nói.

- Tốt hơn chúng ta nên hy vọng là vậy.

- Cậu có muốn quay ngược lại đó và xem liệu họ có cho chúng ta một ít nước uống và thức ăn không?

- Không.

- Tôi cũng vậy.

Họ quan sát vùng đất.

Rawlins vụt đứng dậy và bước đi cùng với khẩu súng trường. Sau một hồi anh ta trở lại với một ít quả tai tiên trong chiếc nón của mình và đổ chúng ra trên một tảng đá bằng phẳng, ngồi xuống dùng dao gọt vỏ.

- Cậu có muốn ăn vài quả không? - Anh ta hỏi.

John Grady bước đến, ngồi xổm xuống và lấy con dao của mình ra. Quả tai tiên vẫn còn mát lạnh do khí trời đêm qua và nó vấy một màu đỏ máu lên tay của họ. Họ cùng ngồi với nhau lột vỏ, ăn và phun ra những hạt nhỏ cứng rồi gỡ mấy cái gai ra khỏi ngón tay. Rawlins diễn tả cử chỉ về vùng đất này:

- Ở đây chẳng có biến động gì nhiều, phải không nhỉ?

John Grady gật đầu:

- Vấn đề lớn nhất mà chúng ta gặp phải là chúng ta có thể bổ nhào vào họ mà thậm chí không biết rõ về nó. Ngay cả việc chiêm ngưỡng những con ngựa của họ cũng không bao giờ có.

Rawlins phun nước bọt.

- Họ cũng gặp phải vấn đề như thế. Họ cũng không biết chúng ta.

- Họ sẽ biết chúng ta thôi.

- Ừ. - Rawlins nói. - Cậu có mục đích đấy.

- Dĩ nhiên, đối với Blevins chúng ta chẳng gặp vấn đề gì cả. Nó phải sơn con ngựa màu đỏ và đi vòng quanh thổi kèn.

- Đó không phải là sự thật.

Rawlins chùi lưỡi dao vào ống quần và gấp nó lại.

- Tôi nghĩ tôi phải rút lui khỏi những điều này.

- Điều khác thường là, những gì nó nói là đúng. Đó chính là con ngựa của nó.

- Phải, con ngựa của một ai đó.

- Chắc chắn nó chẳng phải của những người Mexico.

- Ừ. Chúng ta không có lý do để chứng minh điều đó.

Rawlins đút con dao vào túi và ngồi kiểm tra những chiếc gai còn dính trên nón. Một con tuấn mã giống như một phụ nữ đẹp. - Anh nói. - Chúng luôn gây ra nhiều rắc rối hơn là giá trị thật của chúng. Điều mà một người đàn ông cần là cái sẽ khiến cho công việc được hoàn tất.

- Cậu nghe điều đó ở đâu?

- Tôi không biết.

John Grady gấp con dao của mình lại. Được rồi. - Anh ta nói. - Có nhiều cư dân dưới kia.

- Ừ, nhiều lắm.

- Chỉ có Chúa mới biết nó đang ở đâu.

Rawlins gật đầu.

- Tôi sẽ cho cậu biết điều cậu đã nói với tôi.

- Chuyện gì?

- Chúng ta rồi sẽ gặp lại nó.

Họ đi suốt cả ngày trên một đồng cỏ rộng lớn về hướng nam. Trời đã trưa trước khi họ tìm thấy nước, phần lắng bùn dưới đáy một cái thùng bằng đất sống. Tối đến, khi băng qua con đèo giữa những ngọn đồi thấp, họ thúc một con hươu đực nhảy ra khỏi bụi cây bách xù và Rawlins rút khẩu súng trường khỏi vỏ bọc ống giầy, giương lên bắn. Anh thả sợi dây cương rơi xuống và con ngựa chồm lên, nhảy sang một bên, đứng run rẩy, còn anh bước xuống và chạy đến chỗ đã nhìn thấy con hươu. Nó nằm chết, máu chảy lênh láng ra mặt đất. John Grady phóng lên và dắt con ngựa của Rawlins. Con hươu bị bắn xuyên qua đáy sọ, hai mắt đờ đẫn. Rawlins đẩy cái vỏ đạn đã bắn ra, nạp vào một viên mới rồi dùng ngón cái hạ cái búa gõ và nhìn lên.

- Một phát súng chết tiệt. - John Grady nói.

- May mắn thôi. Tôi chỉ giương súng và bắn.

- Vẫn là một phát súng chết tiệt.

- Đưa con dao của cậu cho tôi. Nếu chúng ta không ăn thịt con hươu này thì tôi sẽ là một gã châu Á ngu đần.

Họ mổ con hươu và treo nó ở những cây bách xù rồi họ đến một khu đất dốc để lấy củi. Họ nhóm lên một ngọn lửa và chặt cây paloverde làm thành những cây cột hình chữ chi dựng đứng rồi đặt chúng vào ngọn lửa. Rawlins lột da con hươu, thái thịt thành từng lát và đặt lên trên những cây cột để hun khói. Khi ngọn lửa lụi dần, anh ta xiên hai nhành cây vào miếng thịt lưng và tựa nó lên những viên đá phía trên các mẩu than đang âm ỉ. Rồi họ ngồi nhìn miếng thịt vàng ươm và hít hà cái hơi khói bốc lên do mỡ chảy xì xèo xuống những mẩu than.

John Grady bước đến tháo yên ngựa, chằng chân chúng lại và thả ra rồi anh quay lại với tấm chăn và cái yên ngựa của mình.

- Đây. - Cậu nói.

- Gì thế?

- Muối.

- Giá mà có vài ổ bánh mì.

- Thế còn một ít bắp sống, khoai tây và bánh nhân táo thì sao?

- Đừng làm bộ khờ khạo nữa.

- Chín chưa?

- Chưa. Ngồi xuống đi. Chúng sẽ chẳng bao giờ chín được nếu cậu cứ đứng theo kiểu như vậy.

Họ ăn mỗi người một miếng thịt thăn và lật lại những lát thịt đặt trên cây cột rồi nằm ngửa ra cuốn thuốc lá.

- Tôi đã từng chứng kiến những gã chăn bò làm việc cho Blair cắt thịt những con bê một tuổi thành những miếng thịt mỏng dính đến mức cậu có thể nhìn xuyên qua. Họ gỡ xương ra chỉ bằng một lá thép mỏng dài. Họ để thịt lên trên những cây cột quanh ngọn lửa giống như phơi quần áo và nếu đến gần vào ban đêm, cậu sẽ không biết đó là gì cả. Nó giống như nhìn xuyên qua một vật gì đó và thấy trái tim của nó. Ban đêm họ lật thịt qua mặt kia và chỉnh lại ngọn lửa. Cậu sẽ thấy họ di chuyển đây đó bên trong ngọn lửa. Lúc ấy, cậu thức dậy và thứ này sẽ được đặt giữa đống cỏ trong ngọn gió, nó sẽ sáng lên như một bếp lò nóng. Đỏ như máu.

- Thịt này sắp có mùi vị như cây tuyết tùng. - John Grady nói.

- Tôi biết.

*34

Những con sói Bắc Mỹ đang sủa ăng ẳng dọc theo rặng núi về hướng nam. Rawlins cúi người và dụi cái tàn thuốc của mình vào ngọn lửa rồi ngửa người ra sau.

- Cậu có bao giờ nghĩ đến cái chết không?

- Có. Thỉnh thoảng. Còn cậu?

- Có. Thỉnh thoảng. Cậu nghĩ có thiên đàng không?

- Có. Cậu không tin sao?

- Tôi không biết. Vâng. Có thể. Nếu không tin vào địa ngục, cậu nghĩ mình có thể tin vào thiên đàng sao?

- Tôi đoán cậu có thể tin vào điều cậu muốn tin.

Rawlins gật đầu. Cậu nghĩ về tất cả những điều có thể xảy ra cho mình. - Anh ta nói. - Chẳng có điểm tận cùng với nó.

- Cậu định đem tôn giáo áp đặt cho chúng ta đấy à?

- Không. Đôi khi tôi hoang mang không biết liệu mình có tốt hơn không nếu đã làm thế.

- Cậu không có ý định bỏ rơi tôi đó chứ?

- Tôi nói là không mà.

John Grady gật đầu.

- Cậu có nghĩ chỗ thịt này có thể dụ được một con sư tử không? - Rawlins nói.

- Có thể.

- Cậu có bao giờ nhìn thấy chưa?

- Chưa. Còn cậu?

- Julius Ramsey cùng bầy chó đã giết một con ở Grape Creek. Ông ta leo lên một gốc cây và dùng một cây gậy hất nó xuống đất cho những con chó phía dưới.

- Cậu có nghĩ ông ấy thật sự làm được chuyện đó?

- Có. Tôi nghĩ có thể ông ấy làm được.

John Grady gật đầu, nói: Có thể ông ấy làm được.

Những con sói bắt đầu rên rỉ, sau đó ngưng bặt rồi lại bắt đầu.

- Cậu có tin Chúa quan phòng tất cả mọi người không? - Rawlins hỏi.

- Có. Tôi đoán là Ngài có làm thế. Còn cậu?

- Có. Tôi cũng tin vậy. Con đường của thế gian. Một ai đó có thể thức dậy và hắt hơi ở đâu đó tại Arkansas hoặc một nơi chết tiệt nào đó. Trước khi cậu chết đi, vẫn luôn tồn tại những cuộc chiến tranh, những sự hủy diệt và chết chóc để đương đầu. Cậu không biết những gì sẽ xảy ra. Tôi nói Ngài sẽ đếm xỉa đến thế giới đáng thương này. Tôi không tin chúng ta sẽ làm được gì nếu không có Ngài.

John Grady gật đầu.

- Cậu không nghĩ bọn khốn đó có thể đã bắt nó rồi à?

- Blevins?

- Tôi không biết. Tôi nghĩ cậu sẽ hạnh phúc lắm để kết thúc thằng nhóc đó.

- Tôi không muốn nhìn thấy những điều tồi tệ xảy ra với nó.

- Tôi cũng thế.

- Cậu có cho rằng tên nó là Jimmy Blevins không?

- Ai mà biết được.

Đêm đến, bầy sói làm họ thức giấc. Họ nằm trong bóng đêm và lắng nghe tiếng chúng tụ tập xung quanh xác con hươu, giành giật và kêu gào như những con mèo.

- Tôi muốn anh lắng nghe tiếng huyên náo đó. - Rawlins nói.

Anh ta đứng dậy cầm lấy một cây củi từ đống lửa và hét vào chúng rồi ném cành cây đi. Chúng im bặt. Anh sửa lại ngọn lửa và lật miếng thịt trên những cái giá làm từ cành cây xanh. Lúc anh trở lại tấm chăn, chúng lại nhào đến cái xác.

Ngày hôm sau họ đi suốt ngày về hướng tây xuyên qua một vùng đất nhiều đồi núi. Họ vừa đi vừa cắt những lát thịt hun khói đã được phơi khô một phần và nhai ngấu nghiến. Bàn tay họ đen và dính đầy mỡ, họ chùi tay lên vai ngựa. Họ chuyền qua chuyền lại bình nước cho nhau và chiêm ngưỡng vùng đất mới. Có những cơn gió mạnh thổi về hướng nam, và những đám mây lững lờ trôi dọc theo chân trời với những đường tua dài đen của chúng quét qua trong cơn mưa. Đêm hôm đó họ cắm trại trên rìa đá phía trên những đồng cỏ và trong bóng tối mịt mùng, họ nhìn những tia sét lóe tắt liên tục ở phía chân trời làm lộ ra những dãy núi xa xa. Sáng hôm sau, khi băng qua vùng đồng cỏ, họ tình cờ gặp một vũng nước tù ở dưới chân núi. Họ tắm cho ngựa và uống nước mưa từ những hõm đá rồi trèo vào một nơi mát mẻ trong núi, cho đến tối hôm đó từ trên đỉnh của những dãy núi, họ nhìn thấy phía dưới một vùng đất mà họ đã từng được nghe

đến. Những bãi cỏ nằm trong một màn sương màu tím đậm, về hướng tây là những đàn chim nước thưa thớt đang bay về hướng bắc phía dưới những đám mây cuồn cuộn trước khi mặt trời lặn, như một đàn cá trong một bãi cát đang nung cháy; trên một mũi đất nhô ra, họ nhìn thấy những gã chăn bò đang lùa đàn gia súc qua một làn bụi vàng óng.

Họ dựng trại ở sườn núi thoai thoải về hướng nam và trải chăn trên mặt đất khô ráo phía dưới một mõm đá nhô ra. Rawlins dắt ngựa đến một gốc cây khô héo phía trước trại và họ nhóm lên ngọn lửa lớn, chống lại cái lạnh cắt da. Phía ngoài đồng cỏ trong cái đêm vô tận đó, họ nhìn thấy ngọn lửa của những gã chăn bò cách xa năm dặm như hình ảnh phản chiếu ngọn lửa của họ trong hồ nước tối đen. Trời mưa suốt đêm và tiếng nước mưa xì xèo trong ngọn lửa; những con ngựa đứng trong bóng tối, cặp mắt đỏ rực của chúng chớp nháy láo liên. Sáng hôm sau, trời trở nên xám xịt, lạnh lẽo và ánh nắng mặt trời đến thật chậm.

Lúc giữa trưa, họ tiếp tục đi trên đồng cỏ, qua những bãi cỏ mà họ chưa bao giờ nhìn thấy trước đây. Con đường mòn của đàn gia súc được lùa qua đây dẫn xuyên bãi cỏ giống như một dòng nước chảy; lúc xế chiều họ có thể nhìn thấy đàn gia súc đó đi ngang qua, di chuyển về hướng tây và chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ họ đã đuổi kịp chúng.

Những gã chăn bò biết họ qua cách họ ngồi trên lưng ngựa, họ gọi những anh cao bồi này là kỵ sĩ rồi trao đổi thuốc lá và kể cho họ nghe về đất nước này. Họ lùa đàn gia súc về hướng tây, lội qua những con lạch, một con sông nhỏ và lùa đàn linh dương cùng bầy nai đuôi trắng ra khỏi các lùm dương khổng lồ mà họ đã băng qua, sau đó tiếp tục di chuyển cho đến khi trời xế chiều, họ đến một hàng rào và bắt đầu dẫn chúng về hướng nam. Ở phía bên kia hàng rào có một con đường, trên con đường ấy in hằn dấu lốp bánh xe cùng dấu chân ngựa do những cơn mưa gần đây và một cô gái trẻ đang cưỡi ngựa xuống con đường, băng ngang qua họ. Họ dừng lại nói chuyện. Cô ta mặc quần và mang ủng theo kiểu Anh, chiếc áo bó xẻ tà dệt chéo màu xanh và một cái roi ngựa: Con ngựa cô cưỡi là loại ngựa Ả Rập. Cô hẳn đã cưỡi qua con sông hoặc qua một vũng lầy bởi con ngựa bị thấm ướt đến ngang bụng, và phần dưới cái tấm da ngăn mồ hôi của yên ngựa cũng như đôi ủng của cô đen sẫm. Cô đội chiếc mũ phớt màu đen, vành rộng, tóc đen buông xõa gần đến hông. Đi ngang qua, cô ngoảnh mặt lại mỉm cười và dùng cái tay cầm roi da chạm vào vành nón. Những gã chăn bò từng người một chạm vào vành nón, họ còn có vẻ giả vờ không nhìn thấy cô khi cô cưỡi ngựa ngang qua. Rồi cô thúc ngựa phi nước kiệu và mất hút xuống con đường.

Rawlins nhìn gã cai trong nhóm những gã chăn bò, nhưng gã đã thúc ngựa tiến thẳng và phóng lên con đường. Rawlins rút ngựa lùi về phía sau những tay chăn bò kia và đi sát cạnh John Grady.

- Cậu có nhìn thấy cô gái xinh đẹp đó không? - Rawlins lên tiếng.

John Grady không trả lời. Cậu nhìn xuống con đường nơi cô ấy vừa mới đi qua. Chẳng có gì ở đó cả nhưng cậu vẫn cứ nhìn.

Một giờ sau, khi trời chạng vạng tối, họ giúp những gã chăn bò lùa đàn gia súc vào trong một bãi quây. Gã cai phóng ngựa lên từ ngôi nhà, gã ngồi yên trên lưng ngựa, cầm cây tăm xỉa răng và quan sát công việc mà không một lời chỉ trích nào. Khi công việc hoàn tất, gã cai và một gã chăn bò khác đưa họ đến và giới thiệu họ với ông quản lý mà không đoái hoài gì đến tên tuổi, sau đó năm người họ cùng nhau cưỡi ngựa về nhà ông quản lý. Tại chiếc bàn kim loại phía dưới một bóng đèn trơ trụi trong nhà bếp, ông quản lý hỏi thăm rất kỹ về sự hiểu biết của họ về công việc chăn thả, trong khi đó gã cai tán thành mọi yêu sách của họ và gã chăn bò gật đầu. Gã cai tình nguyện đưa ra những chứng thực riêng của mình liên quan đến phẩm chất của những kỵ sĩ mà chính bản thân họ thậm chí cũng không nhận thấy, phẩy tay phớt lờ đi những hoài nghi như thể để nói rằng đây là điều mà ai cũng biết, ông quản lý ngả người về phía sau trong chiếc ghế của mình và nhìn họ chăm chú. Sau cùng họ đánh vần tên của những anh chàng mới đến; ông quản lý ghi vào cuốn sổ rồi họ cùng đứng dậy bắt tay và bước ra ngoài trong bóng tối chạng vạng. Lúc ấy, mặt trăng bắt đầu ló lên và đàn gia súc la hét ầm ĩ giữa những ánh đèn vàng hắt ra từ những ô cửa sổ hình vuông mang lại hơi ấm và khung cảnh mới trong một thế giới xa lạ.

Họ tháo yên ngựa và dẫn chúng vào chuồng rồi bước theo gã cai về nhà nghỉ. Một tòa nhà đất sét dài gồm hai phòng với mái che bằng thép và sàn nhà bằng bê-tông. Trong một căn phòng chứa đến mười hai chiếc giường làm bằng gỗ hoặc kim loại. Một chiếc lò nhỏ bằng thép lá. Phòng kia kê một chiếc bàn dài với những chiếc ghế dài để ngồi và cái lò nấu dùng củi. Một chiếc kệ bằng gỗ cũ kỹ dùng để đựng các vật dụng bằng kính và đồ ngũ kim. Một chậu rửa bằng đá men bề mặt phủ kẽm. Những gã đàn ông đã ngồi sẵn ở bàn ăn khi họ bước vào và họ tới chậu rửa lấy chén đĩa, đến bên lò và tự múc đậu, bánh bắp và món dê non hãm. Sau đó họ đến chiếc bàn nơi những gã chăn bò gật đầu và mời họ ngồi bằng những cử chỉ cởi mở.

Sau bữa tối, họ ngồi vào bàn, hút thuốc và uống cà phê. Những gã chăn bò đặt nhiều câu hỏi về nước Mỹ và nhiều câu hỏi khác về ngựa, gia súc mà chẳng màng gì đến họ cả. Một số người có bạn bè và người thân ở đó, nhưng đối với phần đông trong số họ, một vùng đất ở hướng bắc chẳng hơn gì một tin đồn, một điều dường như không thể lý giải. Ai đó mang một chiếc đèn sáp đến bàn và đốt lên, ngay sau đó máy phát điện tắt và những bóng đèn treo trên trần nhà mờ dần thành một sợi dây màu cam mỏng manh rồi tắt. Họ chăm chú lắng nghe John Grady trả lời tất cả những câu hỏi, họ nghiêm nghị gật đầu và cư xử thận trọng để chứng tỏ mình không có bất cứ ý kiến nào về những gì nghe được. Bởi lẽ phần lớn những người đàn ông rành nghề sẽ tỏ ra khinh miệt đối với bất kỳ đề nghị nào dù là nhỏ nhất về những gì không được trải nghiệm trực tiếp.

Họ mang đĩa đến bồn rửa mạ kẽm đựng đầy nước và xà phòng. Sau đó, họ cầm đèn tới mấy cái giường ở cuối nhà, trải nệm rồi trải chăn lên mặt giường lò xo đã gỉ sét, cởi quần áo và tắt đèn. Mệt mỏi, họ nằm hồi lâu trong bóng tối sau khi những gã chăn bò kia đã ngủ hết. Họ có thể nghe tiếng thở sâu trong căn phòng nồng nặc mùi ngựa, da và đàn ông; họ có thể nghe từ đằng xa tiếng đàn gia súc mới vẫn còn chưa được đưa vào chuồng.

- Tôi tin đây là những ông già tốt bụng. - Rawlins thì thầm.

- Ừ, tôi cũng nghĩ thế.

- Cậu có thấy những khẩu súng trường cổ lỗ sĩ của họ chưa?

- Thấy.

- Cậu có cho rằng họ sẽ nghĩ chúng ta chuồn khỏi đây không?

- Chúng ta sẽ không chuồn chứ?

Rawlins không trả lời. Sau một hồi anh ta nói: Tôi thích nghe tiếng gia súc ngoài kia.

- Ừ. Tôi cũng vậy.

- Ông ta không nói nhiều về Rocha, có phải thế không?

- Không nhiều lắm.

- Cậu có nghĩ đó là con gái ông ấy?

- Tôi cho là vậy.

- Đây là một vùng đất nào đó, phải không?

- Đúng vậy. Nào, ngủ đi.

- Này anh bạn?

- Gì?

- Đây là lối sống của những gã chăn bò già nua phải không?

- Phải.

- Cậu nghĩ cậu muốn sống ở đây đến bao lâu?

- Khoảng một trăm năm. Thôi ngủ đi.

CHÚ THÍCH

[1] Những đoạn hội thoại được in nghiêng trong quyển sách này là để biểu thị nhân vật nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây Ban Nha.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của cormac mccarthy