Họ là những người thu nhặt cỏ khô, tìm đến những ngọn núi này để gặt cỏ chino. Nếu có ngạc nhiên khi nhìn thấy người Mỹ trên lưng ngựa trong vùng đất đó thì họ cũng chẳng tỏ dấu hiệu gì. Họ hỏi những anh chàng cao bồi có nhìn thấy một người anh em của họ đến ngọn núi này cùng vợ và hai đứa con gái mới lớn không, nhưng mấy anh cao bồi nói không nhìn thấy ai cả. Những người Mexico bắt đầu cột ngựa và mặc những bộ đồ chuyên dụng với ánh mắt lờ đờ đen nhánh. Bản thân họ khá nhọc nhằn, quần áo tả tơi, mũ dính đầy dầu mỡ và mồ hôi, ủng được đóng chặt thêm
với loại da bò sống. Họ cưỡi những chiếc yên ngựa cũ kỹ với phần gỗ bị mài mòn do cọ xát thường xuyên với các sợi dây da. Họ cuốn những điếu thuốc bằng mảnh vỏ bắp khô, châm lửa theo cách nẹt đá lửa và thép cùng một ít bông mềm trong một cái vỏ đạn rỗng. Một trong số họ giắt khẩu Colt mòn cũ ở thắt lưng, cái nắp mở bật lên để giữ cho nó khỏi trượt xuống; mình mẩy họ sặc mùi khói, mỡ động vật và mồ hôi; trông họ mạnh mẽ và khác lạ như chính mảnh đất mà họ đang sống.
- Các anh đến từ Texas à? - Họ hỏi.
- Vâng. - John Grady trả lời.
Họ gật đầu.
John Grady hút thuốc và nhìn họ. Dù là những con người xoàng xĩnh, song họ được trang bị rất kỹ, và cậu nhìn những đôi mắt đen nhánh đó để đoán xem họ đang nghĩ gì nhưng không thể đoán được. Họ nói về đất nước và thời tiết, nói rằng trên núi trời vẫn còn lạnh. Họ nhìn ra khắp địa hình như thể đó là một vấn đề đối với họ. Một điều gì đó mà họ không hoàn toàn quyết định được. Những con la nhỏ kéo theo phía sau họ ngủ gà ngủ gật gần như ngay khi họ dừng lại.
Gã trưởng nhóm hút xong điếu thuốc và ném cái tàn xuống con đường mòn. - Nào. - Gã nói. - Chúng ta đi thôi.
Gã gật đầu chào những người Mỹ. - Chúc may mắn nhé. - Gã nói. Gã thúc ngựa bằng đinh thúc ngựa và họ tiếp tục đi. Những con la bước đi phía sau mà mắt nhìn chằm chằm vào bãi cỏ trên đường, đuôi vẫy vẫy mặc dù có vẻ như ở đây chẳng có một con nhặng nào.
Chiều về, họ tắm cho ngựa tại một con suối trong chảy từ thượng nguồn tây-nam xuống. Họ bám theo con suối, uống, đổ đầy và đóng nút bình bi đông. Từ một khoảng cách xa chừng hai dặm trên đồng cỏ là những con linh dương đang đứng nghểnh đầu.
Họ tiếp tục đi. Dưới thung lũng là những bãi cỏ tươi tốt và các đàn gia súc với màu sắc từ của mèo nhà cho đến mai rùa và vải hoa chạy nhảy liên tục trước mặt họ. Chúng phóng lên xuyên qua những bụi rậm, hoặc đứng dọc theo một ngọn đồi thấp của vùng đất cổ xưa chênh chếch về hướng đông để nhìn họ khi họ băng ngang trên con đường. Đêm đó họ cắm trại giữa những ngọn đồi thấp và họ làm thịt một con thỏ lớn Nam Mỹ mà Blevins đã dùng khẩu súng lục của mình bắn hạ. Nó mổ con thú bằng lưỡi dao bấm và chôn nó xuống mặt đất cát với lớp da phía trên rồi nhóm lửa xung quanh. Nó nói đó là cách các thổ dân da đỏ thường làm.
- Mày có bao giờ ăn một con thỏ lớn như thế này chưa? - Rawlins hỏi.
Nó lắc đầu đáp: Chưa.
- Tốt hơn hết là mày nên cho thêm củi nếu muốn ăn kiểu này.
- Nó sẽ chín mà.
- Thứ lạ nhất mà mày từng ăn là gì?
- Thứ lạ nhất mà tôi từng ăn à? - Blevins nói. - Tôi nghĩ chắc là con hàu.
- Một con hàu núi hay con hàu thiệt?
- Hàu thiệt.
- Ăn như thế nào?
- Ăn sống. Cứ để nguyên vỏ rồi rưới thêm nước chấm thật cay.
- Mày ăn thế à?
- Phải.
- Mùi vị ra sao?
- Đại loại như anh biết vậy.
Họ ngồi nhìn ngọn lửa.
- Mày đến từ đâu, Blevins? - Rawlins hỏi.
Blevins nhìn Rawlins rồi quay đầu nhìn ngọn lửa. "Hạt Uvalde," nó nói, "phía trên con sông Sabinal."
- Mày trốn chạy vì chuyện gì?
- Anh thì sao?
- Tao mười bảy tuổi rồi. Tao có thể đi bất cứ nơi nào tao muốn.
- Tôi cũng vậy.
John Grady ngồi, hai chân bắt chéo nhau trước mặt, ngả người dựa vào cái yên ngựa của mình và hút thuốc. - Trước đây mày đã từng trốn chạy à? - Cậu hỏi.
- Ừ.
- Họ làm gì, bắt mày à?
- Ừ. Tôi sắp những con ky tại bãi chơi ky ở Ardmore, Oklahoma; tôi bị con chó bun táp vào cẳng chân một miếng to như miếng thịt cho ngày lễ Chủ Nhật. Vết thương nhiễm trùng và ông chủ đưa tôi đến bác sĩ; họ cho rằng tôi đã mắc bệnh dại hay một bệnh gì đó không thể tưởng tượng nổi và tôi được trả về lại Hạt Uvalde.
- Mày làm gì ở Ardmore, Oklahoma?
- Sắp những con ky bowling.
- Làm sao mà mày lảng vảng đến đó được?
- Có một chương trình biểu diễn dự kiến ghé lại Uvalde, thị trấn của Uvalde. Tôi đã dành dụm tiền để đi xem nhưng họ không bao giờ xuất hiện, bởi lẽ người đàn ông điều hành chương trình đã bị ném vào nhà giam ở Tyler, Texas vì tội thực hiện chương trình tục tĩu. Múa thoát y là một phần của sự kiện. Tôi xuống đó và thấy một thông báo trên áp phích rằng họ sẽ đến Ardmore, Oklahoma trong hai tuần nữa, và điều đó thúc giục tôi đến Ardmore, Oklahoma để xem chương trình.
- Mày đi thẳng đến Oklahoma để xem chương trình à?
- Đó là việc khiến tôi dành dụm tiền và tôi có ý định như vậy.
- Mày có xem được chương trình tại Ardmore không?
- Không. Họ cũng không xuất hiện ở đó.
Blevins kéo một chân ra khỏi ống quần của chiếc áo liền thân và chìa nó ở chỗ ánh sáng ngọn lửa.
- Xem này, con chó khốn kiếp đó cắn tôi đấy. - Nó nói. - Tôi thà bị cá sấu Mỹ cắn còn hơn.
- Điều gì khiến mày hành trình đến Mexico? - Rawlins hỏi nó.
- Cùng lý do như anh.
- Là lý do gì?
- Bởi anh biết đấy, họ sẽ đi bằng đôi chân vòng kiềng và chẳng biết đường nào mà lần mò chúng ta ở đây.
- Chẳng ai săn đuổi tao cả.
Blevins luồn chân vào chiếc áo liền thân của mình và dùng cái que xóc xóc vào ngọn lửa.
- Tôi đã nói với tên khốn kiếp đó rằng hắn sẽ không còn đánh đòn tôi nữa.
- Cha của mày?
- Sau chiến tranh ông ấy không bao giờ trở lại nữa.
- Cha dượng của mày?
- Ừ.
Rawlins cúi người về trước và phun nước bọt vào lửa.
- Mày không bắn ông ấy chứ?
- Lẽ ra tôi đừng nên làm thế. Hắn cũng biết điều đó.
- Con chó bun làm gì ở bãi ky?
- Tôi không bị cắn trong bãi ky. Tôi làm việc trong đó, vậy thôi.
- Mày làm gì mà bị chó cắn như vậy?
- Không có gì. Tôi chẳng làm gì cả.
Rawlins cúi người và phun nước bọt vào ngọn lửa.
- Lúc đó mày ở đâu?
- Anh hỏi lắm thế. Và đừng khạc nhổ vào đống lửa nơi tôi đang làm một món ăn siêu hạng.
- Cái gì? - Rawlins nói.
- Tôi nói đừng có mà phun nước bọt vào ngọn lửa nơi tôi đang chuẩn bị bữa ăn độc đáo đây.
Rawlins nhìn John Grady. John Grady bắt đầu cười to. Rawlins nhìn Blevins. Siêu hạng à? - Anh ta nói. - Mày phải nghĩ là siêu hạng khi mày có ăn cái món thịt dai nhách của con chó chết tiệt kia.
Blevins gật đầu. Cho tôi biết nếu anh không muốn ăn phần của mình. - Nó nói.
Họ kéo từ mặt đất lên một thứ trông giống hình nộm bị sấy khô dưới mồ. Blevins đặt nó lên một tảng đá phẳng, lột lớp da ngoài, róc tất cả thịt cho vào đĩa, rưới lên đó nước sốt cay rồi cuộn nó vào trong những chiếc bánh bắp cuối cùng. Họ nhai và nhìn nhau.
- Ô. - Rawlins kêu lên. - Cũng không đến nỗi tệ.
- Không, không tệ đâu. - Blevins nói. - Sự thật là, tôi không biết anh có thể ăn cả con.
John Grady dừng nhai và nhìn họ. Rồi cậu tiếp tục nhai. Các cậu ở ngoài kia lâu hơn tôi rồi đấy. - Cậu nói. - Tôi nghĩ tất cả chúng ta cùng khởi hành thôi.
Ngày hôm sau trên con đường mòn về hướng nam, họ bắt đầu chạm trán với những nhóm người lẻ tẻ gồm các nhà buôn di cư đi về biên giới phía bắc. Những người đàn ông da nâu sạm nắng với những con lừa thồ xếp thành hàng ba hoặc hàng bốn, trên lưng chất đầy cây candelilla hoặc lông thú, da dê sống, những cuộn dây thừng làm thủ công từ loài cây lechugilla hay các loại nước uống lên men thường gọi là sotol được chiết vào trong thùng lớn và lon, rồi được cột chặt vào những chiếc khung được làm từ phiến lá. Họ mang nước
đựng trong những chiếc túi bằng da lợn hoặc bằng loại vải bạt không thấm nước nhờ lớp sáp candelilla, chúng có gắn vòi làm bằng sừng bò. Một vài nhóm có dẫn theo phụ nữ và trẻ em. Họ ép đoàn vật thô đó vào sát bụi rậm để nhường đường cho các kỵ sĩ. Mấy tay này chúc họ một ngày tốt lành, họ tươi cười đáp trả và gật đầu cho đến khi người ngựa đã đi qua.
Họ cố mua nước từ những nhóm người này nhưng không có một cắc bạc nào, dù là đủ nhỏ để có thể trao đổi. Khi Rawlins ngỏ ý với một người đàn ông là sẽ đưa nửa peso đổi lấy một lượng nước chỉ đáng giá nửa xu để làm đầy những chiếc bi đông của họ, người đàn ông không phản đối. Khi trời tối họ mua một bi đông nước lên men sotol và truyền tay nhau uống trên lưng ngựa để rồi chẳng bao lâu sau đã say ngất. Rawlins tiếp tục uống và cầm sợi dây gắn vào nắp bi đông xoay xoay rồi siết chặt, cầm chiếc quai cầm và quay người lại đưa cho Blevins. Rồi anh ta giật lại. Con ngựa của Blevins nặng nề bước theo sau với cái yên trống không. Rawlins đờ đẫn nhìn con vật rồi giật cương lớn tiếng gọi John Grady đang cưỡi phía trước.
John Grady ngoảnh mặt lại nhìn.
- Nó đâu rồi?
- Ai mà biết được? Tôi cho rằng hắn ngả người nằm ở một nơi nào đó rồi.
Họ thúc ngựa quay trở lại. Rawlins cầm sợi dây cương của con ngựa không có người cưỡi và dẫn đi. Blevins đang ngồi ở giữa đường. Nó vẫn để chiếc nón trên đầu. Ồ. - Nó nói khi nhìn thấy họ. - Tôi say bí tỉ rồi đây.
Họ ngồi trên lưng ngựa và nhìn nó đang ngồi dưới đất.
- Mày cưỡi ngựa tiếp được không? - Rawlins hỏi.
- Một con gấu có đi trong rừng được không? Chết tiệt, tôi có thể mà. Tôi đang cưỡi thì té xuống.
Nó loạng choạng đứng dậy rồi nhìn quanh. Nó lảo đảo bước qua trước mặt họ và mò mẫm tìm lối đi giữa những con ngựa, nép ở cạnh sườn và thót lên trúng ngay đầu gối của Rawlins. Cứ tưởng các anh đi mất và bỏ tôi lại đây. - Nó nói.
- Lần sau bọn tao sẽ bỏ mặc mày ở đây đấy.
John Grady với tay nắm lấy dây cương và giữ con ngựa trong khi Blevins tròng trành trên yên ngựa.
- Đưa dây cương cho tôi. Tôi là một gã cao bồi chết tiệt, đó là bản chất của tôi.
John Grady lắc đầu. Blevins đánh rơi dây cương nhưng ngay lập tức nó với tay tóm lấy và suýt tí nữa là trượt khỏi lưng ngựa. Nó tự giữ thăng bằng và ngồi dậy, cầm sợi cương trong tay, bất thình lình giật mạnh con ngựa. Một Brone Peeler chết tiệt được công nhận, ý tôi là như vậy đấy. - Nó nói.
Nó thúc mạnh gót chân vào phía dưới con ngựa; con ngựa nhảy chồm lên và lao về trước. Blevins ngã ra sau và rớt xuống đường. Rawlins phun nước bọt tỏ vẻ khinh miệt. Cứ mặc cho thằng khốn nằm đó. - Anh ta nói.
- Nào, lên ngựa đi, đồ chết tiệt. - John Grady nói. - Và ngưng quấy nhiễu kiểu con lừa đó đi.
Lúc gần tối, khắp chân trời hướng bắc đã trở nên tối đen và địa vật trơ trụi mà họ cưỡi lên đã chuyển thành một màu xám xịt xa đến tận nơi mà mắt có thể nhìn thấy. Họ xáp lại ở đầu dốc và ngoái nhìn. Cơn bão phía trước đã ập đến trên họ và gió lạnh tạt vào những khuôn mặt đầm đìa mồ hôi. Họ cúi rạp trên những chiếc yên ngựa, đờ đẫn nhìn nhau. Bị che khuất phía sau những đám mây đen, những tia chớp từ xa lóe lên lặng câm như những tia sáng hàn điện được nhìn thấy xuyên qua một làn khói xưởng đúc. Như thế những công việc sửa chữa đang được tiến hành đối với một chỗ rạn nứt nào đó trên mặt sắt tối sẫm của thế giới.
- Trời đang chuyển mình tốt hơn đấy. - Rawlins nói.
- Tôi không ở ngoài như thế này. - Blevins nói.
Rawlins cười to và lắc đầu. Nghe kìa. - Anh ta nói.
- Mày nghĩ mày sẽ đi đâu? - John Grady hỏi.
- Tôi không biết. Nhưng tôi phải tìm một nơi nào đó.
- Tại sao mày không thể ở ngoài như thế này?
- Vì sét.
- Sét à?
- Ừ.
- Chết tiệt, giá như mày đừng nửa mê nửa tỉnh đột ngột như vậy. - Rawlins nói.
- Mày sợ sét à? - John Grady hỏi.
- Chắc chắn tôi sẽ bị sét đánh như cái thế giới này đã bị.
Rawlins gật đầu, nhìn vào chiếc bi đông treo lủng lẳng từ quả táo yên ngựa của John Grady. Đừng cho nó thêm một tí nào nữa cái thứ chết tiệt đó. Nó sẽ theo cùng với chứng mê sảng của kẻ nghiện rượu nặng đấy.
- Nó xảy ra trong gia đình tôi. - Blevins nói. - Ông ngoại tôi chết trong một chiếc xe đào mỏ ở West Virginia. Tia sét giáng xuống cái hố sâu năm mươi lăm mét, giết chết ông và thậm chí không thể đợi ông lên đến nóc. Họ phải xối nước vào chiếc máy đào để làm nguội trước khi có thể lấy xác ông ra, cùng với hai người đàn ông khác. Nó thiêu họ như thịt lợn xông khói. Bác tôi bị hất văng khỏi giàn khoan ở mỏ dầu Batson vào năm 1904, tháp khoan dây cáp với cần trục bằng gỗ nhưng sét vẫn giết chết ông ấy lúc ông chưa được mười chín tuổi. Cậu cả thì bị giết chết trên lưng ngựa. Tia sét không làm cháy một sợi lông con ngựa nhưng đã đánh ông ấy chết ngay tại chỗ. Người ta phải dùng dao cắt cái thắt lưng khỏi ông ấy bởi tia sét đã hàn chặt cái khóa nịt. Tôi còn có một người anh họ lớn hơn tôi chưa tới bốn tuổi. Anh bị sét đánh chết ngay sân nhà trong lúc chạy về từ chuồng gia súc. Tia sét làm tê liệt toàn bộ nửa thân bên của anh ấy, gây nóng chảy chất trám răng và hàn chặt cứng hàm răng anh ấy.
- Tôi đã bảo cậu mà. - Rawlins nói. - Nó chỉ là thứ ngốc nghếch.
Họ không biết điều gì đã xảy ra với nó. Nó chỉ co giật, lầm bầm và chỉ vào miệng mình.
- Hoàn toàn là lời bịa đặt hoặc tao chưa bao giờ nghe thấy cả. - Rawlins nói.
Blevins không nghe. Mồ hôi rịn trên trán nó.
- Một ông bác khác bị sét đánh cháy tóc. Những đồng bạc cắc trong túi ông nóng chảy, tràn xuống mặt đất và làm đám cỏ xanh lân cận bốc lửa. Tôi đã từng bị sét đánh hai lần và đó là lý do vì sao bây giờ tôi bị điếc một tai. Tôi được sinh ra phải chết bởi lửa. Các anh phải tránh xa bất cứ vật gì bằng
kim loại. Các anh không biết hậu quả mình sẽ nhận lấy thế nào đâu. Những chiếc ghim nhỏ trên chiếc áo liền thân của các anh. Những chiếc đinh trong các đôi ủng.
"Vậy mày định làm gì đây?"
Nó nhìn lung tung về hướng bắc. "Nào, hãy cố vượt qua," nó nói, "cơ hội duy nhất mà tôi có."
Rawlins nhìn John Grady. Anh ta cúi người, phun nước bọt. "Được rồi," anh ta nói, "nếu có bất kỳ sự nghi ngờ nào trước khi tôi đoán, cần phải xử lý ngay."
"Mày không thể thoát được sấm sét," John Grady nói. "Chuyện chết tiệt gì xảy ra cho mày vậy?"
"Đó là cơ hội duy nhất mà tôi có."
Nó vừa nói xong thì một tiếng nổ nhẹ đầu tiên của tia sét đến gần, âm thanh không lớn hơn tiếng một cành cây khô bị giẫm lên. Blevins lấy nón xuống, dùng ống tay áo lau mồ hôi trán, nắm chặt sợi dây cương và ném một cái nhìn tuyệt vọng cuối cùng về phía sau rồi dùng chiếc nón đánh mạnh vào cái mông ngựa.
Họ nhìn nó chạy. Nó cố đội nón lên nhưng lại đánh rơi. Chiếc nón lăn xuống đường. Nó tiếp tục chạy đi, hai khuỷu tay đập như đôi cánh và nó trở nên nhỏ dần nhỏ dần trên đồng cỏ phía trước, trông càng lố bịch hơn.
"Tôi không chịu trách nhiệm với nó," Rawlins nói. Anh ta với tay và lấy chiếc bi-đông đang treo ở quả táo yên ngựa của John Grady và thúc ngựa lao về trước. "Blevins sẽ nằm dưới đường. Cậu nghĩ con ngựa đó sẽ ở đâu?"
Anh ta tiếp tục đi, uổng và lẩm bẩm. "Tôi sẽ cho anh biết con ngựa đó ở đâu," anh ta ngoảnh mặt lại nói lớn.
John Grady theo sau. Bụi tung tóe dưới những bước chân ngựa và cuồn cuộn thổi xuống con đường trước mặt họ.
"Chạy ngay ra khỏi vùng đất này đi," Rawlins gọi. "Nhìn kìa. Quỷ tha ma bắt một ngày thứ sáu tồi tệ. Đó là nơi mà cậu sẽ tìm thấy con ngựa chết tiệt đó."
Họ phóng đi. Mưa lất phất trong gió. Chiếc nón của Blevins nằm trên đường và Rawlins cố cưỡi con ngựa giẫm lên đó nhưng nó lại bước vòng qua. John Grady rút một chân ra khỏi bàn đạp, cúi người xuống và nhặt chiếc nón lên mà không phải xuống ngựa. Họ có thể nghe tiếng mưa trút xuống trên con đường phía sau họ như sự di trú của một bóng ma nào đó.
Con ngựa của Blevins đang đứng bên lề đường và được cột vào một lùm cây liễu. Rawlins quay lại, ngồi im trên lưng ngựa và nhìn John Grady trong cơn mưa. John Grady đi qua những cây liễu và xuống những con lạch, lần theo vài dấu chân rời rạc trong bãi đất mùn bị đốm bẩn bởi cơn mưa cho đến khi nhìn thấy Blevins ngồi co ro dưới gốc của một cây dương chết trong một cái hốc nơi một nhánh suối hướng ra ngoài đồng cỏ. Nó chỉ mặc độc cái quần lót quá cỡ bị vấy bẩn.
"Mày làm cái quái gì ở đây?" John Grady nói.
Blevins ngồi hai tay ghì chặt đôi vai trắng bệt gầy guộc của mình. "Ngồi đây thôi chứ làm gì," nó nói.
John Grady nhìn ra ngoài đồng cỏ, nơi những giọt nắng còn rơi rớt lại cũng đang bị đẩy lùi đến những ngọn đồi thấp về hướng nam. Cậu cúi người và thả chiếc nón của Blevins xuống ngay bàn chân của nó.
"Quần áo của mày đâu?"
"Tôi cởi ra hết rồi."
"Tao biết. Vậy mày để ở đâu?"
"Phía kia kìa. Chiếc áo có những cái nút bằng đồng đấy."
"Nếu trời mưa lớn tất sẽ có một dòng nước lớn chảy xuyên qua đây như một con tàu. Mày có nghĩ đến điều đó không?"
"Anh chưa bao giờ bị sét đánh," Blevins nói. "Anh không biết nó như thế nào đâu."
"Mày sẽ chết đuối nếu cứ ngồi đây."
"Không sao. Trước đây tôi chẳng bao giờ chết đuối cả."
"Mày vẫn cứ ngồi đó sao?"
"Tôi thích thế."
John Grady đặt hai tay lên đầu gối nó. "Được rồi," cậu nói, "tao không nói nữa."
Một tiếng sấm vang rền kéo dài xuống tận chân trời về hướng bắc. Mặt đất rung lên. Blevins choàng hai cánh tay lên đầu. John Grady quay ngựa lại và cưỡi ngược lên con suối. Những hạt mưa lớn trút xuống tạo nên những cái lỗ lớn dưới mặt cát ướt. Cậu quay nhìn Blevins một lần nữa. Blevins vẫn ngồi như trước.
Một điều hầu như khó lý giải trong khung cảnh này.
"Nó đâu rồi?" Rawlins hỏi.
"Nó ngồi đằng kia. Tốt hơn là cậu nên mặc áo mưa."
"Mới gặp, tôi đã biết thằng bé đó hơi khác thường," Rawlins nói. "Điều đó thể hiện trên khuôn mặt nó."
Mưa tiếp tục trút xuống trên những vỉa đất. Con ngựa của Blevins đứng giữa cơn mưa như một bóng ma. Họ rời con đường và cưỡi theo lớp đất bồi hướng đến một lùm cây và núp phía dưới một mái đá trơ trụi, ngồi đưa hai đầu gối ra ngoài mưa và giữ dây cương. Những con ngựa nhảy cẫng lên và lắc đầu. Tiếng sét rền vang và gió thốc xuyên qua những bụi cây leo, cây paloverde rồi mưa tiếp tục trút xuống. Họ nghe tiếng ngựa chạy đâu đó trong cơn mưa và rồi chỉ còn tiếng mưa.
- Cậu biết đó là tiếng gì chứ? - Rawlins nói.
- Ừ.
- Cậu có muốn uống một tí thứ này không?
- Không. Nó làm tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu.
Rawlins gật đầu và uống. - Hình như tôi cũng vậy. - Anh ta nói.
Lúc trời tối, cơn bão yếu đi và mưa cũng có vẻ như ngưng hẳn.
Họ tháo những chiếc yên thấm nước ra khỏi ngựa, cột chân để chúng khỏi đi xa rồi họ bước theo hai hướng khác nhau xuyên qua cánh đồng xanh, đứng dạng chân, níu chặt lấy hai đầu gối và ói. Bầy ngựa đang gặm cỏ cũng giật mình nhìn lên. Thứ âm thanh đó trước giờ chúng chưa bao giờ nghe thấy. Trong cái khung cảnh chạng vạng tối đen u ám đó, âm thanh nôn mửa nghe như thể tiếng kêu của loài côn trùng dơ bẩn đang bám vào cái chất ô uế đó. Một điều gì đó kệch cỡm và dị biệt bám vào cốt lõi của sự sống.
Sáng hôm sau họ tháo ngựa, chuẩn bị yên cương, cột những chiếc túi ngủ bị ướt và dắt ngựa ra đường.
- Cậu muốn làm gì? - Rawlins hỏi.
- Tôi nghĩ tốt nhất chúng ta phải đi tìm cái thằng chết tiệt đó.
- Cứ đi tiếp thì có chuyện gì đâu.
John Grady nhảy lên ngựa, nhìn Rawlins và nói: - Tôi không tin là chúng ta có thể để nó một mình trơ trụi ở đây.
Rawlins gật đầu. Ừ. - Anh ta nói. - Tôi cũng nghĩ vậy.
Cậu cưỡi ngựa xuống suối và bắt gặp Blevins xuất hiện cũng với tình trạng hệt như lúc cậu bỏ đi. Cậu ngồi trên lưng ngựa, còn nó khập khiễng bước đi với đôi chân trần dọc theo bãi đất bồi, kéo theo một chiếc ủng. Nó ngước nhìn cậu.
- Quần áo của mày đâu? - John Grady nói.
- Nước cuốn trôi hết rồi.
- Con ngựa của mày mất rồi.
- Tôi biết. Tôi đã ra ngoài đường kiểm tra một lần rồi.
- Mày định làm gì nữa đây?
- Tôi không biết.
- Trông có vẻ như cái thứ rượu nặng đó đối xử không tốt với mày.
- Cái đầu tôi cảm giác như có một bà béo mập ngồi lên ấy.
John Grady nhìn ra ngoài bãi đất hoang buổi sáng chói lọi trong mặt trời mới. Cậu nhìn thằng bé.
- Mày đã làm cho Rawlins kiệt sức hoàn toàn rồi đấy. Tao nghĩ mày biết điều đó.
- Anh không bao giờ biết được rằng khi anh cần họ thì anh đã chê bai họ. - Blevins nói.
- Quỷ tha ma bắt, mày nghe ở đâu vậy?
- Tôi không biết. Tôi chỉ quyết định nói như vậy.
John Grady lắc đầu. Cậu với tay và mở khóa yên ngựa, lấy ra chiếc áo sơmi chưa mặc của mình và ném xuống cho Blevins.
- Khoác chiếc áo đó lên trước khi mày bị nung nóng ở ngoài đó. Tao sẽ cưỡi ngựa xuống dưới kia để xem liệu có tìm thấy quần áo của mày ở đâu không.
- Cảm ơn anh. - Blevins nói.
Cậu xuống bãi đất bồi rồi quay ngược trở lại. Blevins ngồi giữa bãi cát với chiếc áo trên người.
- Đêm qua nước ngập tới đâu trong bãi đất bồi này?
- Nhiều.
- Mày tìm được một chiếc ủng đó ở đâu?
- Dưới một gốc cây.
Cậu xuống bãi đất bồi, đến vùng trũng cát sỏi và ngồi nhìn. Cậu không nhìn thấy chiếc ủng nào hết. Khi cậu quay lại, Blevins vẫn đang ngồi như khi nãy.
- Chiếc kia mất rồi. - Cậu nói.
- Tôi đoán trước như vậy.
John Grady cúi người đưa tay ra: - Chúng ta đi thôi.
Cậu xốc Blevins, lúc này chỉ còn chiếc quần lót trên người, ra phía sau. - Rawlins sẽ nổi cơn tam bành khi nhìn thấy mày. - Cậu nói.
Nhìn thấy thằng bé, Rawlins dường như mất hết tinh thần để nói chuyện với nó.
- Nó mất hết quần áo rồi, John Grady.
Rawlins quay ngựa và chậm rãi xuống con đường. Hai người kia theo sau. Không ai nói lời nào. Sau một hồi, John Grady nghe tiếng một vật gì đó rơi xuống đường; cậu ngoái đầu nhìn về phía sau và thấy chiếc ủng của Blevins nằm ở đó. Cậu nhìn Blevins nhưng Blevins lại nhìn chằm chằm về phía trước, dưới cái rìa của chiếc nón rộng vành rồi họ tiếp tục cưỡi đi. Những con ngựa tinh nghịch phi nước kiệu giữa những chiếc bóng phủ xuống con đường, những cây dương xỉ phủ đầy nước. Họ đi ngang qua một bụi xương rồng cholla, trên đó lủng lẳng những chú chim non bị cơn bão thổi tấp vào. Những chú chim xám vô danh bị mắc lên trong điệu bộ của những con chim non sắp chết hoặc treo lủng lẳng trên những chiếc lông của chúng. Một số vẫn còn sống và chúng cục cựa khi bầy ngựa đi ngang qua; mấy con chim ngẩng đầu lên, kêu gào ầm ĩ nhưng những kỵ sĩ vẫn tiếp tục tiến bước như không nghe thấy gì. Mặt trời lên cao và vùng đất đang chuyển sang một sắc thái mới, một màu xanh sáng rực từ những cây keo và cây paloverde, một màu xanh từ những bụi cỏ mọc dọc hai bên đường và rực rỡ với những cây ocotillo. Như thể cơn mưa mang trong nó một dòng điện, một mạch nối giữa bầu trời và mặt đất để dòng điện chạy xuyên qua.
Trưa hôm đó họ cưỡi ngựa vào một trại sáp được dựng lên trong những bãi đất nhấp nhô dưới chân một ngọn núi đá thấp đỉnh bằng chạy theo hướng đông tây phía trước họ. Ở đây có một nhánh suối nhỏ nước trong vắt và những người Mexico đào một bếp lửa ngoài trời, phủ lên một lớp đá rồi họ đặt lên đó một nồi đun lớn. Nồi đun này được làm từ nửa phần dưới của một thùng nước mạ kẽm và để mang được nó đến đây, họ dùng một cần trục bằng gỗ đâm xuyên qua mặt đáy, mặt bên kia họ làm một cái khiêng bằng gỗ để giữ cần trục. Và cần cả một đoàn ngựa mới kéo thùng nước ngang qua sa mạc từ Zaragoza tám mươi dặm về hướng đông. Con đường mòn của đồng cỏ chaparral bằng phẳng vẫn có thể nhìn thấy uốn lượn trên mặt của sa mạc. Khi những người Mỹ cưỡi ngựa đi vào trại, vài con lừa thồ đang đứng đó. Chúng vừa mới được mang xuống từ ngọn núi đỉnh bằng, trên lưng chất đầy cây candelilla nấu để lấy sáp và những người Mexico để cho những con vật đứng đó trong lúc họ dùng bữa tối. Mười hai gã đàn ông trong y phục giống như những chiếc xà rông rách tả tơi ngồi xổm dưới bóng mát của một vài cây liễu và ăn bằng muỗng thiếc với đĩa đất sét. Họ nhìn lên nhưng vẫn không ngừng ăn.
- Chào buổi sáng. - John Grady nói. Họ đồng thanh đáp lại một giọng điệu nhanh và cộc cằn. Cậu xuống ngựa; họ nhìn vào chỗ cậu đứng rồi lại nhìn nhau và tiếp tục ăn.
- Các anh có gì ăn không?
Những anh chàng cưỡi ngựa lấy đĩa và bộ đồ ăn ra khỏi những chiếc túi yên, John Grady thì lấy một chiếc bình nhỏ tráng men từ chiếc túi yên màu đen và đưa cho Blevins cùng với cái nĩa có quai cầm bằng gỗ cũ kỹ của mình. Họ đi đến ngọn lửa, múc đậu và ớt vào đầy đĩa, mỗi người lấy vài cái bánh bắp đen từ một mảnh thép lá được đặt phía trên ngọn lửa và rồi bước đến ngồi cùng những người công nhân kia dưới góc cây liễu cách đó không xa. Blevins ngồi duỗi thẳng hai chân trần về trước, nhưng chúng trắng và ló lộ ra đất đến mức nó xấu hổ. Nó cố thu chân lại và dùng vạt áo mượn tạm đang mặc trên người để phủ lên hai cái đầu gối. Họ ăn. Những công nhân hầu như đã ăn xong và họ ngửa lưng hút thuốc, phát ra những tiếng ợ nhè nhẹ.
- Anh sẽ hỏi họ về con ngựa của tôi chứ? - Blevins nói.
John Grady lặng lẽ nhai. Được rồi. - Cậu nói. - Nếu con ngựa ở đây họ có thể nghĩ rằng nó là của chúng ta.
- Anh có nghĩ là họ lấy không?
- Mày sẽ không bao giờ lấy lại được con ngựa đó. - Rawlins nói. - Bọn tao sẽ đến một nơi nào đó ở thị trấn dưới kìa; còn mày, tốt nhất là xem liệu có thể bán khẩu súng ngắn kia để đổi lấy quần áo và một chiếc vé xe buýt trở về lại nơi mà mày xuất phát. Nếu như có xe buýt. Anh bạn thân kia của mày có thể sẵn sàng kéo lê cái mông của mày khắp đất nước Mexico này, nhưng chết tiệt, tao chắc là tao không làm vậy.
- Tôi không có súng. - Blevins nói. - Nó ở chỗ con ngựa.
- Chết tiệt. - Rawlins nói.
Blevins ăn. Sau một hồi nó nhìn lên. Tôi đã từng làm gì với anh cơ chứ? - Nó nói.
- Mày chẳng làm gì tao cả. Và mày cũng sẽ không làm gì cả. Đó là vấn đề.
- Mặc kệ nó Lacey. Chẳng có trở ngại gì cho chúng ta, cố giúp thằng bé tìm lại con ngựa của nó.
- Tôi chỉ muốn nói cho nó biết sự thật. - Rawlins nói.
- Nó biết sự thật đó.
- Nó không hành xử như thế.
John vét sạch đĩa bằng mẩu bánh bắp cuối cùng rồi đặt đĩa xuống đất, bắt đầu cuốn một điếu thuốc.
- Quỷ tha ma bắt, tôi đói muốn chết đi được. - Rawlins nói. - Cậu nghĩ họ có để ý không nếu chúng ta ra phía sau trong vòng vài giây?
- Không đâu. - Blevins nói. - Cứ làm đi.
- Ai hỏi mày? - Rawlins nói.
John Grady bắt đầu thọc tay vào túi áo rút ra một que diêm rồi cậu đứng dậy, bước đến gần những công nhân, ngồi xổm xuống xin lửa. Hai người trong số họ rút bật lửa trong túi áo ra và một người mồi lửa. Cậu cúi người, mồi thuốc rồi gật đầu. Cậu hỏi về cái nồi đun và những bao candelilla vẫn còn cột trên lưng lừa thồ. Những công nhân kể cho họ nghe về sáp và một người trong số họ đứng dậy, bước đi rồi quay lại đưa cho cậu một cái bánh nhỏ màu xám. Nó trông giống một cái bánh xà phòng. Cậu dùng ngón tay cà cà vào cái bánh, hít hít rồi đưa nó lên nhìn.
- Giá bao nhiêu? - Cậu hỏi.
Họ nhún vai.
- Nó phải mất nhiều công sức.
- Thôi đủ rồi.
Một gã đàn ông gầy guộc trong chiếc áo khoác bằng da vấy bẩn có hình thêu ở mặt trước đang nheo mắt nhìn John Grady như soi mói. John Grady trả lại cái bánh sáp cho người đàn ông và gã này huýt hoáy, hất đầu tỏ vẻ giận dữ.
- Nó là người anh em của mày à?
Ông ta muốn ám chỉ đến Blevins. John Grady lắc đầu: Không.
- Vậy nó là ai? - Gã đàn ông nói.
Cậu nhìn ra khoảng đất trống. Gã đầu bếp cho Blevins một ít mỡ lợn và nó ngồi xuống chà vào hai bàn chân bị cháy nắng của mình.
- Một thằng nhóc, không gì hơn. - Cậu nói.
- Có họ hàng gì không?
- Không.
- Một người bạn.
John Grady kéo một hơi thuốc và gạt mẩu tàn vào gót chiếc ủng. Không gì cả. - Cậu nói.
Chẳng ai nói lời nào. Gã đàn ông trong chiếc áo khoác dò xét John Grady và nhìn Blevins đang ngồi trên bãi đất trống. Rồi gã hỏi John Grady có muốn bán thằng bé không.
Cậu im bặt trong thoáng chốc. Gã đàn ông đó chắc tưởng rằng cậu đang cân nhắc vấn đề. Họ đợi. Cậu nhìn lên. Không. - Cậu nói.
- Giá bao nhiêu? - Gã đàn ông nói.
John Grady dập tắt điếu thuốc phía dưới cái đế của chiếc ủng và rồi đứng dậy.
- Cảm ơn vì sự hiếu khách của mấy ông. - Cậu nói.
Gã đàn ông ngỏ ý rằng sẽ trao đổi với cậu bằng sáp. Những người khác quay đầu và lắng nghe. Bây giờ họ lại ngoảnh mặt nhìn John Grady.
John Grady dò xét họ. Họ trông chẳng có gì xấu xa nhưng cũng không dễ chịu tí nào đối với cậu. Cậu quay đầu và băng ngang qua bãi đất trống, hướng về phía những con ngựa đang đứng. Blevins và Rawlins đứng dậy.
- Bọn họ nói gì vậy? - Blevins nói.
- Chẳng nói gì cả.
- Anh có hỏi họ về con ngựa của tôi không?
- Không.
- Tại sao không?
- Họ không lấy con ngựa của mày.
- Gã kia nói gì?
- Chẳng nói gì cả. Thu gom đĩa đi. Chúng ta đi thôi.
Rawlins nhìn những gã đàn ông đang ngồi xuyên qua bãi đất trống. Anh ta cầm chặt dây cương và xốc lên yên ngựa.
- Chuyện gì vậy, anh bạn? - Rawlins hỏi.
John Grady thốc lên và xoay đầu ngựa. Cậu quay đầu nhìn những gã đàn ông và rồi nhìn Blevins. Blevins đứng với những chiếc đĩa trong tay.
- Anh nhìn tôi có chuyện gì không? - Nó hỏi.
- Bỏ chúng vào túi đi và quẳng cái mông mày lên đây.
- Đĩa chưa rửa mà.
- Cứ làm như tao bảo.
Một vài gã đứng dậy. Blevins nhét mấy cái đĩa vào túi rồi John Grady cúi người, xốc mạnh nó lên sau lưng mình.
Cậu giật con ngựa quay ngược trở lại và phóng ra ngoài trại rồi tiến lên con đường thẳng về hướng nam. Rawlins ngoái đầu nhìn lại phía sau, thúc ngựa chuyển sang nước kiệu còn John Grady tiến nhanh bên cạnh anh ta và họ đi cạnh nhau xuống con đường mòn chật hẹp hằn sâu những vết bánh xe. Không ai nói lời nào. Khi họ mất hút khỏi trại sáp khoảng một dặm, Blevins thăm dò xem gã đàn ông trong chiếc áo khoác muốn gì nhưng John Grady không trả lời. Khi Blevins hỏi một lần nữa, Rawlins quay đầu về phía sau nhìn nó.
- Hắn muốn mua mày. - Anh ta nói. - Đó là điều hắn muốn.
John Grady không nhìn Blevins.
Họ tiếp tục đi trong thinh lặng.
- Mày đi mà hỏi hắn mua mày để làm gì? - John Grady nói. - Không cần phải làm điều đó.
Đêm đó họ cắm trại trong một dãy đồi thấp phía dưới rặng núi Sierra de la Encantada và ba người ngồi thinh lặng xung quanh ngọn lửa. Hai cái chân xương xẩu của thằng bé tái nhợt dưới ánh sáng ngọn lửa và dính đầy bụi đường cùng những mảnh rơm rạ bám vào chỗ mỡ lợn. Chiếc quần đùi nó mặc rộng thùng thình, dơ dáy và trông nó thật chẳng khác nào một người nông nô bị ngược đãi hoặc thậm chí còn tệ hơn. John Grady chia cho nó phần chăn bên dưới từ chiếc túi ngủ của mình; nó tự thu mình trong đó và nằm bên cạnh ngọn lửa rồi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Rawlins lắc đầu, phun nước bọt.
- Chết tiệt, đáng thương thật. - Anh ta nói. - Cậu có nghĩ gì khác về những điều tôi nói không?
- Vâng. - John Grady nói. - Tôi đã nghĩ về điều đó.
Rawlins nhìn chằm chằm vào tâm điểm đỏ rực của ngọn lửa.
- Tôi sẽ cho cậu biết một chuyện. - John nói.
- Nói đi.
- Một điều thật tồi tệ sắp xảy ra.
John Grady phì phà khói thuốc một cách khoan thai, hai cánh tay cậu vòng quanh hai đầu gối.
- Đây là một món hời lớn. - Rawlins nói. - Vấn đề là ở chỗ đấy.