Họ dắt ngựa và chuẩn bị yên cương. Thằng bé dập tắt ngọn lửa và lên ngựa. Họ cưỡi ngựa cạnh nhau trên vùng đồng cỏ sỏi đá mênh mông nhấp nhô dọc theo rìa của dòng thượng lưu trong vùng đất đầy cây bụi. Họ cưỡi mà không nói với nhau lời nào và nhìn về một đất nước mới. Một con diều hâu đậu trên đầu bụi cây mesquite chúc xuống, bay là là và rồi vụt bay lên một cành cây cao cách xa nửa dặm về hướng đông. Khi họ đi ngang qua, nó bay ngược trở lại.
- Mày cất khẩu súng đó trong áo lúc còn ở Pecos phải không? - Rawlins hỏi.
Thằng bé nhìn anh ta dưới chiếc mũ rộng vành của mình. Ừ. - Nó đáp.
Họ tiếp tục đi. Rawlins cúi người phun nước bọt và nói: Tao đoán mày suýt bắn tao với khẩu súng đó.
Thằng bé cũng phun nước bọt. Tôi không muốn bị bắn chết. - Nó nói.
Họ đi xuyên qua những ngọn đồi thấp đầy cây tai tiên và thảo mộc creozot. Khoảng xế trưa, họ đến một con đường mòn với những dấu chân ngựa còn in trên đó và rẽ về hướng nam. Đến trưa họ đã có mặt trong thị trấn Reforma.
Họ đi thành hàng xuống con hẻm dành cho xe kéo gia súc được dùng làm đường tạm. Gần một chục ngôi nhà lụp xụp với những bức tường làm bằng gạch bùn đổ sụp xuống thành đống đổ nát. Một vài túp lều được xây bằng bùn và rơm rạ có mái lợp bằng rơm, một bãi quây gia súc nhốt năm con ngựa còm cõi với những cái đầu to khoan thai đứng nhìn những con ngựa chạy qua trên đường.
Họ xuống ngựa và cột chúng ở một quán tạp hóa nhỏ được xây bằng bùn rồi bước vào. Một cô gái đang ngồi trong chiếc ghế lưng dựa thẳng, đặt cạnh lò sưởi bằng thép lá gần chính giữa nhà, đọc cuốn truyện tranh bên cạnh bóng đèn ở cánh cửa ra vào. Cô ta nhìn lên và rồi nhìn cuốn sách và rồi lại nhìn lên. Cô đứng dậy và ném cái nhìn về phía sau quán nơi một bức màn xanh giăng ngang lối ra vào. Cô đặt cuốn sách xuống ghế và bước trên sàn nhà nện đất sét đến chỗ quầy hàng, rồi trở lại và đứng nhìn. Trên mặt quầy là ba chiếc bình làm bằng đất sét hoặc ba nồi đất. Hai trong số đó không có gì còn chiếc thứ ba có cái nắp đậy bằng thiếc, đẽo hình chữ V, nhờ đó quai cầm của cái môi bằng thiếc được tráng men có thể xuyên qua. Dọc theo bức tường phía sau cô là ba hoặc bốn cái kệ lớn đựng những mặt hàng đóng lon, quần áo, chỉ và kẹo. Tựa vào bức tường ở xa xa là một thùng bột xay thô bằng ván thông được làm thủ công. Phía trên đó là một tấm lịch được đóng chặt vào bức tường bùn bằng que củi. Tất cả chỉ có vậy ngoài cái lò sưởi và chiếc ghế.
Rawlins lấy nón xuống và dùng cẳng tay chùi mồ hôi trên trán rồi đội mũ lên lại. Anh ta nhìn John Grady, nói: Cô ta có gì để uống không?
- "Cô có gì uống không?" - John Grady hỏi.
- "Có ạ." - Cô gái đáp. Cô đi đến khu vực bán hàng phía sau những chiếc bình và mở nắp đậy ra. Ba chàng cao bồi đứng ở quầy nhìn theo.
- "Cái gì vậy?" - Rawlins nói.
- "Rượu táo." - Cô gái nói.
John Grady nhìn cô hỏi: - "Nói tiếng Anh được không?"
- "Ồ, không." - Cô nói.
- "Cái gì vậy?" - Rawlins nói.
- "Rượu táo đấy."
Anh ta nhìn vào chiếc bình và nói: "Chúng ta thử xem. Cho chúng ta ba cốc."
- "Phục vụ chứ?"
- "Ba." - Rawlins nói. - "Ba." - Anh giơ lên ba ngón tay.
Anh ta rút chiếc ví ra. Cô gái với tay lấy ba chiếc cốc vại trên kệ phía sau, đặt chúng lên quầy, cầm muỗng múc chất lỏng màu nâu nhạt và đổ vào cốc. Rawlins đặt tờ một đôla lên quầy. Nó bị lủng một lỗ ở cuối cạnh bên. Họ với lấy những cốc vại và John Grady gật đầu nhìn tờ bạc.
- "Nó xoáy một lỗ ở giữa chiếc ví cậu phải không?"
- "Ừ." - Rawlins nói.
Nó nâng chiếc vại của mình lên và họ uống. Rawlins đứng với vẻ trầm tư.
- "Tôi chẳng biết cái quái gì đây." - Anh ta nói, "Nhưng vị của nó khá tốt cho một gã cao bồi. Chúng ta làm ba cốc nữa nhé."
Họ đặt ba chiếc cốc xuống và cô ta lại đổ đầy.
- "Chúng tôi trả bao nhiêu?" - Rawlins nói.
Cô nhìn John Grady.
- "Bao nhiêu tiền?" - John Grady nói.
- "Tính hết à?"
- "Ừ."
- "15 xu."
- "Bao nhiêu vậy?" - Rawlins hỏi.
- "Khoảng ba xu một cốc."
Rawlins đẩy tờ bạc nằm trên chiếc quầy. "Anh để bố già anh trả nhé." - Anh ta nói.
Cô ta lấy bạc lẻ từ một hộp thuốc xì gà phía dưới quầy, bỏ những đồng cắc Mexico lên trên và ngước mắt nhìn. Rawlins đặt chiếc cốc trống không của mình xuống và ra dấu gọi thêm ba cốc nữa, nhận lấy tiền lẻ và họ cầm ba cốc rượu táo rồi đi ra ngoài.
Họ ngồi dưới bóng râm của cái chòi rơm phía trước quán tạp hóa, nhâm nhi nước uống của mình và nhìn ra ngoài khung cảnh yên tĩnh hoang vắng với những con đường nhỏ giao nhau trong cái nắng giữa trưa. Những túp lều bằng bùn đất. Những cây thùa bám đầy bụi cát và những đồi sỏi cằn cỗi xa xa ở tận bên kia. Một con lạch nhỏ chứa nước mưa chảy xuống cái máng bằng đất sét phía trước quán tạp hóa, một con dê đứng trên con đường đất đá ngó nghiêng nhìn những con ngựa.
- "Ở đây không có điện." - Rawlins nói.
Anh nhấp một hớp rượu rồi nhìn ra con đường.
- "Tôi nghĩ thậm chí cũng chẳng có chiếc xe nào ở đây."
- "Tôi chẳng biết nó xuất phát từ đâu." - John Grady nói.
Rawlins gật đầu. Anh ta giơ chiếc cốc vại ra giữa ánh sáng, lắc lắc và nhìn nước rượu táo.
- "Cậu có nghĩ đây là nước cất từ cây xương rồng không?"
- "Tôi không biết." - John nói: - "Thứ rượu này mạnh đó, đúng không?"
- "Tôi cũng nghĩ vậy."
- "Nào, tốt hơn là đừng để cậu nhóc kia uống thêm một tí nào nữa."
- "Tôi đã từng uống whisky." - Blevins nói: - "Thứ này chẳng ăn thua gì."
Rawlins lắc đầu. "Uống nước xương rồng ở vùng đất Mexico cổ này." - Anh ta nói. - "Cậu nghĩ họ đang nói chuyện gì ở nhà lúc này?"
- "Tôi nghĩ họ nói về việc chúng ta bỏ đi." - John nói.
Rawlins ngồi, hai chân duỗi thẳng về trước, hai chiếc ủng gác lên nhau, chiếc nón chụp lên một đầu gối và nhìn về vùng đất xa lạ rồi gật đầu. "Chúng ta à?" - Anh ta nói.
Họ tắm cho ngựa và nới lỏng đai yên để chúng lấy hơi, rồi theo con đường về hướng nam, họ phi thành hàng một trong bụi cát mịt mù. Trên đường là những dấu vết của bò, lợn rừng, nai, chó sói Bắc Mỹ. Lúc chiều tối họ đi ngang qua một khu vực với những túp lều nhưng họ không dừng lại.
Con đường hằn sâu những khe rãnh và bị xói mòn thành những cái hố, nơi hàng đàn gia súc bị hủy diệt do một trận hạn hán trước đây, mà nay chỉ còn là những mẩu xương chồng chéo lên nhau với những mảnh da đen úa và khô cứng.
- "Vùng đất này phù hợp thế nào được với cậu chứ?" - John Grady nói.
Rawlins nghiêng người và phun nước bọt nhưng không trả lời.
Tối đến họ dừng chân tại một ngôi nhà nhỏ và cột ngựa ở hàng rào. Phía sau ngôi nhà rải rác một vài tòa nhà và một bãi quây gia súc với hai con ngựa được nhốt trong đó. Hai cô gái nhỏ trong những chiếc áo dài trắng đứng ở trong sân. Họ nhìn mấy chàng cao bồi rồi quay người chạy vào nhà. Một người đàn ông xuất hiện.
- "Chào buổi chiều." - ông nói.
Ông ta bước ra ngoài hàng rào đến cái cổng và ra dấu mời họ vào rồi chỉ cho họ chỗ để tắm ngựa. "Mời vào." - Ông nói. - "Mời vào."
Họ ăn bên cạnh bóng đèn dầu ở một chiếc bàn nhỏ bằng gỗ thông được trang trí cầu kỳ. Những bức tường bùn đất xung quanh treo những tấm lịch cũ kỹ và những tấm ảnh từ tạp chí. Trên một bức tường là bức ảnh nghệ thuật Đức Mẹ Đồng Trinh được đóng khung. Dưới đó là một tấm bảng được đỡ bởi hai cái tắc-kê đóng chặt vào tường và trên tấm bảng là một mặt kính nhỏ màu xanh với một chân nến ố đen bên trong. Những anh chàng người Mỹ ngồi cạnh nhau dọc theo cạnh bàn, và hai cô gái nhỏ ngồi ở mặt bàn bên kia nhìn họ trong một trạng thái gần như nín thở. Người phụ nữ khác cúi đầu ăn, người đàn ông đùa giỡn với họ và chuyển các đĩa thức ăn. Họ ăn đậu, bánh ngô và một món thịt dê được múc ra từ một cái nồi bằng đất sét. Họ uống cà phê bằng những chiếc cốc thiếc tráng men và người đàn ông đẩy những cái chén về phía họ rồi ra dấu một cách tinh tế. "Các anh phải ăn đấy!" - Ông ta nói.
Ông ta muốn biết về nước Mỹ, ba mươi dặm về hướng bắc. Ông đã từng nhìn thấy nó khi còn là một cậu bé, bên kia con sông ở thành phố Acuna, ông có những người anh em làm việc ở đó, một người chú đã sống vài năm ở Uvalde Texas nhưng ông nghĩ rằng ông ấy đã chết.
Rawlins ăn xong phần thức ăn trong đĩa của mình và cảm ơn người phụ nữ. John Grady nói lại cho bà điều mà Rawlins nói và bà ấy mỉm cười, gật đầu một cách e dè. Rawlins làm trò tháo ngón tay của mình ra rồi ráp nó vào lại trước mặt hai cô bé trong khi Blevins đặt bộ dụng cụ ăn lên chiếc đĩa trước mặt, dùng cánh tay áo chùi miệng và dựa người ra phía sau. Chiếc ghế dài không có cái tựa lưng và Blevins chới với quay cuồng trong một chốc và rồi ngã dụi xuống đất phía sau, chân nó đá cái bàn từ phía dưới và làm chén đĩa văng đổ hỗn độn khắp bàn, suýt nữa thì đã kéo ngã chiếc ghế cùng với Rawlins và John Grady. Hai cô bé đứng dậy ngay lập tức, vỗ tay và hét lên với cả sự thích thú. Rawlins bám chặt vào thành bàn để tự giữ mình và nhìn xuống cậu bé đang nằm sõng soài dưới mặt đất. "Trời đánh thánh đâm tôi mất!" - Thằng bé nói. - "Xin lỗi, thưa bà."
Blevins loạng choạng đứng dậy, chỉ có người đàn ông ngỏ ý giúp nó.
- "Không sao chứ?" - Ông ta nói.
- "Nó ổn mà." - Rawlins nói. - "Ông không thể làm đau một gã khờ.
Người phụ nữ chồm người dựng lại chiếc tách và bảo bọn trẻ thôi ngay trò ầm ĩ. Bà không cười trước cảnh chướng mắt này nhưng ánh rực sáng trong mắt bà không giấu được, thậm chí là với Blevins. Nó bước qua chiếc ghế và rồi ngồi lại.
- "Các anh đã chuẩn bị đi chưa?" - Nó thì thầm.
- "Chúng ta chưa ăn xong mà." - Rawlins nói.
Nó nhìn quanh một cách bất an. "Tôi không thể ngồi đây." - Nó nói.
Nó ngồi, đầu chùn thấp xuống và thì thầm với cái giọng khàn khàn.
- "Tại sao mày không thể ngồi đây?" - Rawlins nói.
- "Tôi không muốn mọi người cười vào mặt tôi."
Rawlins nhìn hai cô bé. Chúng đã ngồi lại vào bàn, mắt tròn xoe và nghiêm nghị trở lại. "Chết tiệt!" - Anh ta nói. - "Đúng là trẻ con."
- "Tôi không muốn mọi người cười tôi." - Blevins thì thầm.
Cả người đàn ông và người phụ nữ kia nhìn họ với sự lo lắng.
- "Nếu mày không muốn bị cười vào mặt thì đừng ngã phệt đít như vậy." - Rawlins nói.
- "Các anh bỏ qua cho tôi." - Blevins nói.
Nó bước ra khỏi ghế, cầm chiếc nón, đội lên và đi khỏi. Ông chủ nhà tỏ vẻ lo lắng rồi cúi người thì thầm dò hỏi gì đó vào tai John Grady. Hai cô bé ngồi ngó đĩa thức ăn của mình.
- "Cậu có nghĩ nó sẽ cưỡi ngựa đi mất không?" - Rawlins nói.
John Grady nhún vai. "Tôi không chắc."
Ông bà chủ nhà dường như đợi một người trong họ đứng dậy và bám theo nó, nhưng họ đã không làm. Họ uống cà phê và sau một hồi người phụ nữ đứng dậy dọn dẹp bát đĩa trên bàn.
John Grady nhìn thấy nó đứng dưới đất như một bóng người đang trầm tư mặc tưởng.
- "Mày đang làm gì thế?" - Cậu nói.
- "Chẳng làm gì cả."
- "Tại sao mày không quay lại?"
- "Tôi ổn mà."
- "Họ ngỏ ý cho chúng ta ở lại qua đêm."
- "Vậy thì cứ ở lại."
- "Mày định làm gì?"
- "Tôi ổn mà."
John Grady đứng nhìn nó. "Thôi được." - Cậu nói. - "Tùy mày."
Blevins không trả lời và cậu để mặc nó ngồi đó.
Căn phòng nơi họ ngủ nằm phía sau ngôi nhà, và nó bốc mùi cỏ khô hoặc rơm rạ. Căn phòng nhỏ ấy không có cửa sổ và trên sàn nhà là hai ổ rơm cùng với bao bố được trùm lên bằng những tấm khăn choàng của người Tây Ban Nha ở Mỹ. Họ cầm ngọn đèn mà ông chủ nhà đã đưa và nói lời cảm ơn. Ông ta cúi người bước ra khỏi cánh cửa ra
vào thấp lụp xụp và chúc họ ngủ ngon. Ông ta chẳng hỏi gì về Blevins.
John Grady đặt ngọn đèn xuống sàn nhà, họ ngồi trên những bao rơm rồi tháo ủng ra.
- Tôi muốn kiệt sức rồi. - Rawlins nói.
- Hiểu mà.
- Ông già đó nói thế nào về công việc ở vùng này?
- Ông ta nói có một vài trang trại lớn ở phía bên kia dãy núi Sierra del Carmen. Khoảng ba trăm kilômét.
- Bao xa?
- Một trăm sáu mươi, một trăm bảy mươi dặm.
- Cậu có nghĩ ông ta coi chúng ta như là những kẻ liều mạng tuyệt vọng không?
- Tôi không biết. Nếu có thế thì cũng tốt thôi.
- Tôi sẽ nói như thế.
- Ông ta nói nghe có vẻ như vùng đất đó là Ngọn núi Big Rock Candy. Rằng ở đó có sông hồ, nước chảy, cỏ lá và cả bàn đạp ngựa. Tôi không thể hình dung một vùng đất nào như thế ở đây từ những gì mà tôi đã chứng kiến cho đến lúc này, có phải không?
- Có lẽ ông ấy cố thuyết phục ta tiếp tục hành trình.
- Có thể là vậy. - John Grady nói. Cậu cởi nón và nằm ngửa xuống, kéo tấm khăn choàng đắp lên người.
Thằng nhãi đó định sẽ làm cái quái gì vậy? - Rawlins nói. - Ngủ ngoài sân à?
- Tôi cho là vậy.
- Có lẽ nó sẽ chuồn vào sáng mai.
- Có thể.
Anh ta nhắm mắt. Đừng để ngọn đèn đó cháy. - Anh ta nói. - Nó sẽ thui đen cả cái nhà này đấy.
- Một phút nữa tôi sẽ thổi tắt.
Cậu nằm lắng nghe. Xung quanh yên tĩnh không có một âm thanh nào.
- Cậu đang làm gì vậy? - Rawlins hỏi.
Cậu mở mắt, quay đầu nhìn Rawlins. Rawlins mở chiếc ví của mình ra trên tấm chăn đang đắp.
- Cậu làm gì vậy?
- Tôi muốn xem cái bằng lái xe chết tiệt.
- Cậu chẳng cần cái thứ đó ở đây.
- Còn đây là thẻ thành viên bida lỗ của tớ. Nó cũng bị thủng rồi.
- Ngủ đi.
- Nhìn cái quái này nữa nè. Nó nhìn ngay giữa hai mắt của Betty Ward.
- Cô ta làm gì mà cậu lại có ảnh này? Tôi không biết cậu thích cô ta đấy.
- Cô ta cho tôi bức ảnh đó. Đó là bức ảnh thời còn đi học của cô ấy.
Sáng hôm sau họ ăn một bữa điểm tâm lớn với trứng, đậu và bánh bắp trên cùng một chiếc bàn hôm trước. Không ai ra ngoài để gọi Blevins và cũng chẳng có ai hỏi han gì về nó. Người phụ nữ gói cho họ một bữa trưa trong một chiếc khăn vải và họ cảm ơn bà ấy, bắt tay người đàn ông và bước đi trong một buổi sáng mát mẻ. Con ngựa của Blevins không có trong bãi quây.
- Cậu có nghĩ chúng ta được may mắn như thế này không? - Rawlins hỏi.
John Grady lắc đầu một cách hoài nghi.
Họ chuẩn bị yên cương và ngỏ ý trả tiền các bữa ăn, nhưng người đàn ông cau mày và vẫy tay bảo họ đi. Họ lại bắt tay ông và ông chúc họ một chuyến đi tốt đẹp. Họ lên ngựa, phi xuống con đường mòn gập ghềnh thẳng về hướng nam. Một con chó đuổi theo họ ra ngoài một đoạn rồi đứng dõi mắt nhìn theo.
Buổi sáng thật trong lành, mát mẻ và phảng phất đâu đó mùi khói củi bay là đà trong không khí. Khi họ lên đến đỉnh ngọn đồi đầu tiên, Rawlins phun nước bọt trong sự khinh miệt. Nhìn kia kìa. - Anh ta nói.
Blevins ngồi một bên trên lưng con ngựa hồng đang đứng giữa đường.
Họ cưỡi ngựa chậm lại. Theo cậu, điều chết tiệt gì xảy đến với nó? - Rawlins nói.
- Nó chỉ là một thằng bé.
- Nhàm nhí. - Rawlins nói.
Khi họ đi tới, Blevins cười. Nó đang nhai kẹo thuốc lá, cúi người phun nước bọt và dùng mặt dưới của cánh tay áo chùi miệng.
- Mày cười gì thế?
- Chào buổi sáng. - Blevins nói.
- Mày mua kẹo thuốc lá đó ở đâu vậy? - Rawlins nói.
- Ông chủ nhà cho tôi.
- Ông chủ nhà cho mày à?
- Ừ. Thế các anh ở đâu?
Họ đi hai bên, qua mặt nó và nó tụt lại phía sau.
- Các anh có gì để ăn không? - Nó hỏi.
- Một bữa ăn trưa bà ấy gói cho bọn tao. - Rawlins nói.
- Món gì thế?
- Không biết. Chưa xem.
- Sao không xem thử?
- Có vẻ như đã đến giờ ăn trưa của mày sao?
- Joe, bảo anh ấy đưa tôi chút gì để ăn đi.
- Tên anh ta không phải là Joe. - Rawlins nói. - Và ngay cả nếu là Evelyn, anh ta cũng sẽ không cho mày ăn trưa vào bảy giờ sáng như thế này.
- Chết tiệt. - Blevins nói.
Họ cưỡi đi cho đến giữa trưa rồi xế chiều. Chẳng nhìn thấy gì dọc con đường ngoại trừ vùng đất mà họ băng qua và cũng chẳng có gì ở vùng đất đó. Âm thanh duy nhất là tiếng lộc cộc đều đặn của những con ngựa trên con đường và thỉnh thoảng là tiếng phun bã thuốc lá của Blevins phía sau. Rawlins cưỡi ngựa, một chân vắt lên phía trước, tựa người lên đầu gối và vừa trầm ngâm hút thuốc vừa chăm chú nhìn về vùng đất mới.
- Tôi tin là mình đã nhìn thấy những khu rừng bông xa xa bên kia. - Anh ta nói.
- Tôi cũng tin vậy. - John Grady nói.
Họ ăn trưa dưới những gốc cây ở ria của một vũng lầy nhỏ. Những con ngựa đứng trong bãi cỏ đầm lầy và lặng lẽ nhúng mõm vào mặt nước và uống. Bà ấy đã gói thức ăn trong một tấm khăn vuông bằng vải muslin. Họ trải tấm khăn xuống đất và chọn lựa giữa các món quesadillas, bánh thịt chiên giòn Mexico và món bizcochos như những người du lịch dã ngoại. Họ chống khuỷu tay, ngả người ra sau dưới bóng râm, bắt chéo chân trước mặt, miệng nhai thong thả và mắt nhìn bầy ngựa.
- Hồi xưa, - Blevins nói. - Đây là nơi mà những chiến binh da đỏ Comanches nằm đợi và phục kích.
- Tao hy vọng họ có mang theo bộ bài hoặc bàn cờ đam trong lúc chờ đợi. - Rawlins nói. - Dường như đối với tao, chẳng có một mống nào bén mảng trên con đường này trong một năm trời.
- Những ngày ấy du khách lai vãng đến đây rất nhiều. - Blevins nói.
Rawlins hoài nghi nhìn vào cái đã khiến cho địa hình này trở nên cứng cỏi. Làm cái quái gì mà mày biết về những ngày xa xưa đó? - Anh ta nói.
- Dùng thêm thứ này không? - John Grady hỏi.
- Tôi no cành hông rồi.
Nó cột cái khăn vải lại, đứng lên, cởi hết quần áo và mình trần bước xuyên qua bãi cỏ, ngang qua bầy ngựa rồi lội xuống nước; nó ngồi dưới mực nước ngang hông. Nó dang hai cánh tay, nằm ngửa ra sau và biến mất. Bầy ngựa nhìn nó. Nó ngồi dậy khỏi mặt nước, hất mái tóc ra sau và dụi mắt. Rồi nó ngồi đó.
Đêm đó, họ cắm trại ở thềm của một bãi đất bồi mé ngoài con đường và thắp một ngọn lửa, ngồi trên bãi cát và nhìn chằm chằm vào những cục than hồng.
- Blevins, mày có phải là dân cao bồi không? - Rawlins hỏi.
- Tôi thích được như vậy lắm.
- Ai chả thích.
- Tôi không muốn nói mình là tay cừ. Nhưng tôi có thể cưỡi ngựa.
- Ủa? - Rawlins nói.
- Anh chàng đằng kia có thể cưỡi. - Blevins nói. Nó gật đầu và ném cái nhìn qua đống lửa về phía John Grady.
- Điều gì khiến mày nói như thế?
- Anh ta có thể cưỡi, vậy thôi.
- Giả sử tao nói với mày rằng anh ta chỉ mới tập tành. Giả sử anh ta chưa bao giờ ngồi lên lưng một con ngựa mà con gái không thể cưỡi.
- Tôi cho rằng anh đang kéo chân tôi.
- Giả sử tao nói với mày rằng anh ta là thằng cừ nhất mà tao từng biết.
Blevins phun nước bọt vào đống lửa.
- Mày nghi ngờ à?
- Không, tôi không nghi ngờ. Tùy vào người anh nhìn thấy họ cưỡi.
- Tao đã từng nhìn thấy Booger Red phi ngựa rồi. - Rawlins nói.
- Thật à? - Blevins nói.
- Anh có nghĩ anh ta vượt qua nó?
- Thật ra tao biết là có.
- Có thể có và có thể không.
- Mày chẳng biết quái gì. - Rawlins nói. - Booger Red đã chết lâu rồi.
- Đừng chú ý đến nó. - John Grady nói.
Rawlins bắt chéo chân qua lại và gật đầu nhìn John Grady: Nó không thể đứng về phía tôi mà không phải tự hào về chính mình, phải không?
- Nó chỉ là cái thứ chết tiệt - John Grady nói.
- Cậu nghe điều đó à? - Rawlins nói.
Blevins hướng cằm về phía ngọn lửa và phun nước bọt. - Tôi chẳng hiểu làm thế nào mà anh có thể nói một người nào đó là tài giỏi nhất.
- Cậu không thể đâu. - John Grady nói. - Thằng nhóc đó không biết, vậy thôi.
- Có nhiều tay cưỡi ngựa tài giỏi. - Blevins nói.
- Đúng đó. - Rawlins nói. Có nhiều tay cưỡi ngựa tài giỏi. Nhưng chỉ có một người là cừ nhất. Và người đó tình cờ ngồi ở đây này.
- Mặc xác nó đi. - John Grady nói.
- Tôi không làm phiền nó. - Rawlins nói. - Tôi đang làm phiền cậu phải không?
- Không.
- Hãy bảo với Joe rằng tao không làm phiền mày.
- Tôi đã nói rồi.
- Để nó yên đi. - John Grady nói.
Những ngày tiếp sau đó họ cưỡi xuyên qua những ngọn núi và đến một thung lũng khô cằn. Họ cột ngựa giữa những tảng đá và nhìn qua vùng đất về hướng nam, nơi những chiếc bóng cuối cùng đang phủ lên vùng đất trước khi cơn gió và ánh nắng mặt trời về hướng tây chuyển sang màu máu giữa những đám mây đang thu dần, và những ngọn núi đằng xa trải dài xuống chân trời phai dần từ màu tái đến tái xanh và rồi mất hút hoàn toàn.
- Cậu nghĩ cái thiên đường đó nằm ở đâu? - Rawlins hỏi.
John Grady cởi nón để gió thổi mát đầu tóc. Cậu chẳng thể biết gì cả trong một vùng đất như thế cho đến khi xuống tận đó. - John nói.
- Chắc là có đủ thứ trong đó.
John Grady gật đầu: Đó là lý do vì sao tôi đến đây.
- Tôi hiểu cậu, anh bạn ạ.
Họ đi xuống, xuyên qua vùng đất xé bóng lạnh lẽo tĩnh mịch của sườn dốc thoai thoải về hướng bắc. Những cây tán xanh tươi mọc lên từ những rãnh đá. Cây thông vàng, cây bạch đàn núi. Một con diều hâu phía dưới họ bắt đầu bay đi tìm mồi; nó lượn vòng tròn trong màn sương mù dày đặc rồi đậu xuống. Họ thúc bàn chân vào hông ngựa và hướng chúng về phía trước với sự cẩn trọng khi di chuyển xuống những dốc đá phiến sét dễ vỡ. Lúc trời tối họ dừng chân trên một thềm sỏi rồi dựng trại ở đó, và khi đêm về họ nghe điều mà họ chưa bao giờ được nghe trước đây, ba tiếng hú dài từ hướng tây nam và sau đó là sự yên lặng.
- Cậu có nghe gì không? - Rawlins hỏi.
- Có.
- Đó là một con sói hả?
- Ừ.
Nó nằm ngửa trong tấm chăn của mình và nhìn ra ngoài nơi vầng trăng khuyết chếch về phía chân núi. Trong buổi sớm tinh mơ tĩnh mịch giả tạo đó, quần tinh Pleiades dường như rực sáng lên trên bầu trời đen bao trùm lấy cả thế giới này và kéo theo tất cả những ngôi sao khác, viên kim cương lớn của chòm sao Orion và Capella cùng dấu vết của sao Cassiopeia, tất cả bừng sáng như một tấm lưới bạc. Nó nằm rất lâu lắng nghe những người khác đang thở trong lúc ngủ và ngắm nhìn cảnh tượng hoang dã bao quanh nó, sự hoang dã đến từ bên trong.
Đêm hôm đó trời rất lạnh và lúc rạng sáng trước khi mặt trời mọc, họ thức dậy thì Blevins đã dậy trước đó, nhóm một ngọn lửa dưới mặt đất rồi ngồi co cụm cạnh ngọn lửa trong bộ đồ mỏng manh của mình. John Grady bò ra khỏi trại, mang ủng và mặc áo khoác vào rồi bước ra ngoài nhìn kỹ vùng đất mới khi nó tự định hình từ cái màn đêm phía dưới họ.
Họ uống phần cà phê cuối cùng và ăn những mẩu bánh bắp nguội với một sọc mỏng nước sốt cay đóng chai quét qua chính giữa.
- Theo cậu, chúng ta sẽ mất bao lâu nữa để xuống con đường kia? - Rawlins nói.
- Tôi không lo. - John Grady nói.
- Anh bạn của cậu đằng kia trông có vẻ hơi lo lắng.
- Nó chẳng còn nhiều thịt hông khói để chia sẻ.
- Cậu cũng vậy.
Họ ngắm nhìn mặt trời đang mọc lên phía dưới họ. Những con ngựa đứng ngoài gặm cỏ ngẩng đầu lên nhìn. Rawlins uống nốt chỗ cà phê còn lại và lắc lắc cái tách của mình, thọc tay vào túi áo lấy thuốc lá.
- Có bao giờ cậu nghĩ sẽ có một ngày mặt trời không mọc không?
- Có. - John Grady nói. - Ngày Phán Xét.
- Cậu nghĩ đó là khi nào?
- Bất cứ lúc nào Người quyết định thu lại thế giới này.
- Ngày Phán Xét. - Rawlins nói. - Cậu tin vào điều đó à?
- Tôi không biết. Vâng, tôi cho là vậy. Còn cậu?
Rawlins đưa điếu thuốc vào khóe miệng, đốt và ném cái que diêm: Tôi không biết. Có thể.
- Tôi biết anh là người ngoại đạo. - Blevins nói.
- Mày chẳng biết một chuyện vớ vẩn nào cả. - Rawlins nói. - Hãy câm mồm và đừng làm to thêm cái trò lố bịch của mày hơn một tí nào nữa.
John Grady đứng dậy, bước đến chỗ chiếc yên ngựa của mình và cầm sừng yên nhấc nó lên rồi ném tấm chăn qua vai, ngoảnh đầu lại nhìn. Chúng ta đi thôi. - Cậu nói.
Lúc giữa sáng, họ di chuyển xuống hết những ngọn núi và đi trên một cao nguyên lớn với đầy các loài cỏ grama, cỏ mây và lác đác những bụi rau diếp dại. Ở đây họ chạm mặt những người cưỡi ngựa đầu tiên mà họ từng nhìn thấy. Họ dừng lại và quan sát trong khi những người cưỡi ngựa tiến lên một vùng đồng cỏ cách xa một dặm, ba người đàn ông trên lưng ngựa kéo theo một đoàn gia súc thồ mang những chiếc rổ trống không.
- Cậu nghĩ họ làm gì thế? - Rawlins nói.
- Chúng ta không để phải bị chặn lại như thế này. - Blevins nói. - Nếu chúng ta có thể nhìn thấy họ, họ cũng có thể nhìn thấy chúng ta.
- Mày muốn ám chỉ điều chết tiệt gì thế? - Rawlins nói.
- Anh nghĩ gì nếu anh nhìn thấy bọn họ dừng lại?
- Nó đúng. - John Grady nói. - Chúng ta cứ việc đi.