Gã đội trưởng hẳn đã phải làm một cử chỉ khác bởi vì tên lính bước về trước và rút khúc gỗ có bọc da từ túi sau của hắn và gõ vào sau ót của Rawlins. Căn phòng Rawlins đang đứng được thắp sáng toàn một màu trắng và hai đầu gối anh khụy xuống, chới với.
Anh nằm úp mặt xuống sàn gỗ nứt nẻ. Anh không nhớ là đã bị ngã xuống. Mặt sàn có mùi bụi và gỗ. Anh tự đẩy mình đứng dậy. Họ đợi. Họ dường như chẳng có gì để làm cả.
Anh đứng lên và nhìn gã đội trưởng. Anh cảm thấy khó chịu ở bao tử.
- Mày phải hợp tác. - Gã đội trưởng nói. - Và mày sẽ không gặp phiền toái nữa. Quay mặt lại. Tụt quần xuống!
Anh quay lại, tháo khóa dây nịt và tụt chiếc quần dài xuống đến đầu gối, rồi đến chiếc quần lót bằng vải bông rẻ tiền mà anh đã mua ở siêu thị dã chiến tại La Vegas.
- Kéo áo lên! - Gã đội trưởng nói.
Anh kéo áo lên.
- Quay lại!
Anh quay lại.
- Mặc đó vào!
Anh thả áo xuống và với tay kéo quần lên, cài nút và khóa dây nịt lại.
Gã đội trưởng ngồi, tay cầm cái bằng lái xe lấy từ trong ví của anh.
- Ngày tháng năm sinh của mày? - Gã nói.
- 26 tháng 09 năm 1932.
- Địa chỉ?
- Đường số 4 Knickerbocker Texas, Mỹ.
- Mày cao bao nhiêu?
- Một mét năm mươi sáu.
- Nặng?
- Bảy mươi hai ký.
Gã đội trưởng gõ gõ chiếc ví lên bàn. Gã nhìn Rawlins.
- Mày có trí nhớ tốt đấy. Gã này đâu?
- Ai cơ?
Gã giơ cái bằng lái xe lên và nói: Đây này, Rawlins.
Rawlins nuốt nước bọt. Anh nhìn tên lính rồi lại nhìn gã đội trưởng. - Tôi là Rawlins. - Anh ta nói.
Gã đội trưởng cười một cách buồn bã. Gã lắc đầu.
Rawlins đứng hai tay lủng lẳng.
- Tại sao không phải là tôi chứ? - Anh nói.
- Tại sao mày đến đây? - Gã đội trưởng hỏi.
- Đến đâu cơ?
- Đây. Đến đất nước này.
- Chúng tôi đến đây kiếm việc làm. Những tên cao bồi.
- Nói tiếng Anh đi. Mày đến để mua gia súc à?
- Không, thưa ông.
- Không à. Mày không có giấy phép, đúng không?
- Chúng tôi chỉ đến đây kiếm việc làm.
- Ở La Purisima?
- Bất cứ đâu. Chỉ cần kiếm được việc làm.
- Họ trả cho mày như thế nào?
- Chúng tôi nhận hai trăm peso một tháng.
- Ở Texas họ trả lương ra sao cho công việc như thế này?
- Tôi không biết. Một trăm một tháng.
- Một trăm đôla?
- Vâng, thưa ông.
- Tám trăm peso.
- Vâng, thưa ông, tôi nghĩ là vậy.
Gã đội trưởng lại cười.
- Tại sao bọn mày buộc phải rời bỏ Texas?
- Chúng tôi chỉ bỏ đi. Chúng tôi không bị buộc làm thế.
- Vậy tên thật của mày?
- Lacey Rawlins.
Gã dụi cánh tay vào trán và đồng thời mong rằng anh ta không phải như vậy.
- Blevins là em mày?
- Không. Chúng tôi chẳng liên quan gì đến nó.
- Mày đã ăn trộm bao nhiêu con ngựa?
- Chúng tôi không bao giờ ăn trộm ngựa.
- Những con ngựa này không có thương hiệu.
- Chúng xuất xứ từ Mỹ.
- Mày có hóa đơn cho những con ngựa này không?
- Không. Chúng tôi cưỡi đến đây từ San Angelo Texas. Chúng tôi không có giấy tờ nào về chúng cả. Chúng chỉ là những con ngựa của chúng tôi.
- Mày băng qua biên giới nào?
- Chỉ ngoài Langtry Texas.
- Mày giết bao nhiêu người?
- Tôi không giết ai cả. Trong đời, tôi chưa bao giờ đánh cắp thứ gì cả. Đó là sự thật.
- Vậy mày mang súng để làm gì?
- Trò chơi săn bắt.
- Trò chơi à?
- Trò chơi. Săn bắt. Người đi săn.
- Bây giờ bọn mày là những thợ săn à? Rawlins đâu.
Rawlins gần như rớt nước mắt. - Ông đang nhìn nó đó, chết tiệt.
- Tên thật của tên giết người Blevins này là gì?
- Tôi không biết.
- Mày quen nó bao lâu rồi?
- Tôi không biết nó. Tôi chẳng biết gì về nó cả.
Gã đội trưởng đẩy cái ghế lùi ra sau và đứng dậy. Gã kéo cái đường viền của chiếc áo khoác để sửa lại những vết nhăn và nhìn Rawlins. - Mày khờ lắm. - Gã nói. - Tại sao mày lại muốn gặp phiền toái?
Chúng để Rawlins vừa lọt đủ vào cánh cửa và anh ta quỵ xuống sàn nhà, ngồi một chốc rồi cúi người từ từ về trước, ngả sang một bên rồi nằm xuống tự ôm lấy mình, lén lút cong cong ngón tay về John Grady, cậu đang ngồi hé mắt nhìn lên bọn chúng trong ánh sáng đột ngột. Cậu đứng dậy. Cậu nhìn xuống Rawlins.
- Cậu là thằng khốn. - Cậu nói.
- Hãy nói với họ bất cứ điều gì họ muốn nghe, anh bạn à. - Rawlins thì thầm. - Sẽ chẳng gặp phiền toái...
- Nào đi thôi, tên lính nói.
- Cậu nói gì với họ?
- Nói với họ chúng ta là những kẻ cưỡi ngựa và giết người. Cậu cũng nên nói như vậy.
Nhưng vừa lúc ấy, tên lính bước về trước và chộp lấy cánh tay cậu rồi đẩy ra khỏi cánh cửa. Tên lính kia đóng cửa lại và đẩy cái móc khóa vào lại ổ khóa.
Khi họ bước vào văn phòng, gã đội trưởng vẫn ngồi như trước. Tóc gã vừa mới được làm bóng. John Grady đứng trước mặt gã. Trong căn phòng ngoại trừ chiếc bàn và chiếc ghế mà gã đội trưởng đang ngồi còn có ba chiếc ghế xếp bằng kim loại dựa vào bức tường xa vốn tạo một khoảng trống khó chịu cho họ. Như thể có ai đó đứng dậy và bỏ đi. Như thể có ai đó đang đợi nhưng chưa đến. Một tờ lịch của công ty hạt giống cũ kỹ từ Monterrey được đóng vào bức tường phía trên đó và trong góc phòng là một cái chuồng chim làm bằng dây thép trống không được treo từ bệ cột trông như cái chân đèn nào đó theo nghệ thuật Baroque.
Trên bàn của gã đội trưởng là một cái đèn dầu bằng thủy tinh với cái ống khói đã bị đen. Một cái gạt tàn. Một cây bút chì đã được gọt bằng con dao. - Tháo còng. - Gã nói.
Tên lính bước về phía trước và mở còng. Gã đội trưởng nhìn ra ngoài cửa sổ. Gã lấy cây bút chì từ cái bàn và gõ gõ vào hàm răng dưới của mình. Gã quay mặt lại và dùng cây bút chì gõ hai cái vào bàn và bỏ nó xuống. Giống như một người đàn ông triệu tập một cuộc họp để ra lệnh.
- Bạn của mày đã nói với tao mọi thứ. - Gã nói.
Cậu nhìn lên.
- Tốt nhất mày nên khai báo mọi thứ ngay. Như vậy mày sẽ chẳng gặp phiền toái.
- Ông chẳng có lý do gì để đánh thằng bé đó. - John Grady nói - Chúng tôi chẳng biết gì về Blevins. Nó đòi đi chung với chúng tôi, vậy thôi. Chúng tôi cũng chẳng biết gì về con ngựa. Con ngựa đó lạc mất trong một cơn bão rồi xuất hiện ở đây, và đó là lúc phiền toái xảy ra. Chúng tôi chẳng liên can gì đến con ngựa đó. Chúng tôi làm việc cho Ngài Rocha trong ba tháng ở La Purisima. Ông đến đó và nói láo đủ điều với ông ấy. Lacey Rawlins là một người tốt đến từ Hạt Tom Green.
- Nó là tên tội phạm Smith.
- Tên anh ta không phải là Smith. Anh ta không phải là tội phạm. Tôi biết anh ấy rất rõ. Chúng tôi bên nhau từ hồi còn nhỏ. Chúng tôi học chung một trường.
Gã đội trưởng ngả người ra sau. Gã tháo nút túi áo của mình, đẩy mấy điếu thuốc từ dưới đáy hộp và rút ra một điếu mà không cần phải lấy gói thuốc ra rồi cài nút lại. Chiếc áo sơmi được may theo kiểu quân đội, bó sát và những điếu thuốc cũng được bó chặt trong túi. Gã nghiêng người trong chiếc ghế của mình và rút cái bật lửa từ chiếc áo khoác, châm điếu thuốc và đặt cái bật lửa lên bàn, cạnh cây bút chì. Tiếp theo gã kéo cái gạt tàn về phía mình bằng một ngón tay rồi ngả người ra sau cánh tay thẳng đứng, điếu thuốc cháy chỉ cách tai gã vài centimet trong một cử chỉ mà có vẻ xa lạ với cậu. Như thể gã thán phục một cái gì đó.
- Tuổi của mày? - Gã nói.
- Mười sáu. Sáu tuần nữa tôi sẽ mười bảy.
- Tuổi của thằng giết người Blevins?
- Tôi không biết. Tôi chẳng biết gì về nó. Nó nói nó mười sáu. Tôi đoán chỉ chừng mười bốn. Thậm chí là mười ba.
- Nó không có lông.
- Sao?
- Nó không có lông.
- Tôi không biết chuyện đó. Điều đó không làm tôi quan tâm.
Khuôn mặt của gã đội trưởng tối sầm lại. Gã bập bập điếu thuốc. Rồi gã đặt bàn tay lên bàn, lòng bàn tay ngửa lên rồi gã búng ngón tay lách tách.
- Đưa tao xem cái ví của mày.
John Grady lấy cái ví của mình từ túi quần bên hông và bước về trước rồi đặt nó lên bàn và bước lùi lại. Gã đội trưởng nhìn cậu. Gã cúi người về trước và cầm lấy cái ví rồi ngả người ra sau và mở nó ra. Gã moi tiền ra, những tấm thẻ. Những bức ảnh. Gã trải mọi thứ lên bàn và nhìn lên.
- Giấy phép hành nghề của mày đâu?
- Tôi không có.
- Mày đã hủy nó.
- Tôi không có. Tôi chưa bao giờ có.
- Thằng giết người Blevins không có giấy tờ nào cả.
- Có thể là không.
- Tại sao nó không có giấy tờ nào cả?
- Nó bị mất quần áo.
- Nó mất quần áo à?
- Vâng.
- Tại sao nó đến đây để ăn trộm ngựa?
- Đó là con ngựa của nó.
Gã đội trưởng ngả người về sau, rít thuốc.
- Con ngựa đó không phải là ngựa của nó.
- Vâng, ông hiểu theo cách thiếu hiểu biết của ông.
- Cái gì?
- Theo tôi biết, con ngựa đó là của nó. Nó có con ngựa đó ở Texas và tôi biết nó mang con ngựa đó vào Mexico bởi vì tôi nhìn thấy nó cưỡi ngang qua con sông.
Gã đội trưởng ngồi gõ mấy ngón tay lên cái thanh đòn của chiếc ghế. Tao không tin mày. - Gã nói.
John Grady không trả lời.
- Đây không phải là sự thật.
Gã xoay một phần trong chiếc ghế của mình để nhìn ra ngoài.
- Không phải là sự thật. - Gã nói. Gã quay mặt lại và nhìn tên tù nhân ngang qua vai của gã.
- Mày có cơ hội để nói sự thật ở đây. Ở đây. Trong ba ngày nữa mày sẽ đi đến Saltillo và rồi mày sẽ không có được cơ hội này. Không còn nữa. Rồi sự thật sẽ thuộc về tay những kẻ khác. Mày hiểu chứ. Chúng tao có thể tạo ra sự thật ở đây. Hoặc chúng tao có thể đánh mất nó. Nhưng khi mày rời khỏi đây thì sẽ quá muộn. Quá muộn cho sự thật. Rồi mày sẽ thuộc vào tay của những nhóm khác. Lúc đó ai có thể nói sự thật là như thế nào? Vào lúc đó? Rồi mày sẽ tự trách mình. Mày sẽ biết điều đó.
- Chẳng có gì ngoài sự thật. - John nói. - Sự thật là điều đã xảy ra. Nó không phải là cái đến từ miệng của người khác.
- Mày có thích thị trấn bé nhỏ này không? - Gã đội trưởng hỏi.
- Được.
- Ở đây rất yên tĩnh.
- Vâng.
- Những người trong thị trấn này là những người rất ít nói. Mọi người ở đây đều trầm lặng mọi lúc mọi nơi.
Gã cúi người về trước và dập tắt điếu thuốc trong cái gạt tàn.
- Rồi tên giết người Blevins xuất hiện, ăn trộm ngựa và giết mọi người ở đây. Tại sao lại như vậy? Nó là một thằng bé ít nói và chưa bao giờ làm tổn hại đến ai và rồi nó đến đây và làm những chuyện như thế đó sao?
Gã ngả người ra sau và lắc đầu ra vẻ buồn.
- Không. - Cậu nói. Cậu ve vẩy một ngón tay. - Không.
Gã nhìn John Grady.
- Sự thật là như thế này: Nó không phải là thằng bé ít nói. Nó là một kiểu đàn ông khác lạ. Lúc nào cũng thế.
Khi những tên lính mang John Grady về lại, họ đưa Blevins ra theo. Nó có thể bước đi nhưng hơi khập khiễng. Khi cái ổ khóa đóng lại kêu tiếng cách và lắc lư rồi dừng hẳn lại, John Grady ngồi xổm xuống đối diện Rawlins.
- Sao rồi? - Anh ta hỏi.
- Ổn. Còn cậu thế nào?
- Tôi cũng ổn.
- Điều gì đã xảy ra?
- Chẳng có gì cả.
- Cậu nói gì với gã?
- Tôi nói với gã cậu là thằng khốn.
- Cậu không vào phòng tắm à?
- Không.
- Cậu đi khá lâu.
- Vâng.
Cậu đã treo áo khoác màu trắng lên cái móc. Cậu lấy xuống và mặc vào rồi dùng sợi dây cột quanh eo.
John Grady gật đầu. Cậu nhìn ông già. Ông già đang nhìn họ dù ông ta chẳng nói được tiếng Anh.
- Blevins bị ốm.
- Ừ, tôi biết. Tôi nghĩ chúng ta sẽ đến Saltillo.
- Saltillo ở đâu?
- Tôi không biết.
Rawlins cựa cựa vào vách tường. Anh nhắm mắt lại.
- Cậu không sao chứ? - John Grady hỏi.
- Ừ, không sao.
- Tôi nghĩ gã muốn tạo một thỏa hiệp gì đó với ta.
- Gã đội trưởng ư?
- Đúng. Dù gã là gì.
- Kiểu thỏa hiệp gì?
- Giữ kín. Một kiểu thỏa hiệp.
- Cũng giống như chúng ta có một kiểu lựa chọn nào đó. Giữ kín về chuyện gì?
- Về Blevins.
- Giữ kín về những điều có liên quan đến Blevins?
John Grady nhìn vào một ô vuông có ánh sáng trên cánh cửa và cái bóng nghiêng của cậu in trên vách tường phía trên đầu của ông già. Cậu nhìn Rawlins.
- Tôi nghĩ họ muốn giết nó. Tôi nghĩ họ muốn giết Blevins.
Rawlins ngồi một hồi lâu. Anh ta ngồi quay đầu vào tường. Khi quay mặt lại nhìn John Grady, mắt anh ta ướt đẫm.
- Có thể họ sẽ không giết. - Anh ta nói.
- Tôi nghĩ là có.
- Ôi, chết tiệt. Quỷ tha ma bắt. - Rawlins nói.
Khi họ mang Blevins trở lại, nó về góc ngồi và không nói gì cả. John Grady nói chuyện với ông già. Tên ông ta là Orlando. Ông ta cũng chẳng biết nó bị kết án về tội gì. Người ta nói nó có thể đi khi đã ký giấy tờ nhưng nó không biết đọc và cũng chẳng có ai đọc giúp nó. Nó không biết nó đã ở đây bao lâu. Kể từ mùa đông. Trong lúc họ đang nói chuyện, những tên lính lại xuất hiện và ông già câm miệng.
Bọn chúng mở khóa cánh cửa và bước vào rồi đặt hai thùng nước cùng với một chồng đĩa thiếc tráng men. Một trong số bọn chúng nhìn vào xô nước và người kia cầm lấy cái xô nước bẩn trong góc tường rồi mang ra ngoài. Chúng đối xử với tù nhân với thái độ chiếu lệ, giống như đã quen với việc chăm sóc cho súc vật. Khi chúng đi khỏi, những tù nhân ngồi xung quanh hai thùng nước và John Grady phân phát đĩa. Có tất cả năm cái. Như thể dự phòng cho một ai đó không biết. Không có dụng cụ ăn và họ dùng những chiếc bánh ngô để xúc đậu từ trong những cái xô.
- Blevins. - John Grady kêu. - Mày có ăn được không?
- Tôi không đói.
- Tốt nhất là nên ăn một tí.
- Các anh cứ tự nhiên.
John Grady xúc một ít đậu bỏ vào một trong những chiếc đĩa vuông còn dư và kẹp chiếc bánh ngô đặt dọc theo rìa của chiếc đĩa, đứng dậy, mang đến cho Blevins và trở lại.
Sau một hồi nó hỏi: - Các anh đã nói gì với họ về tôi?
Rawlins ngừng ăn và nhìn John Grady. John Grady nhìn Blevins.
- Nói với họ sự thật.
- Vâng. - Blevins nói.
- Mày nghĩ những gì bọn tao nói với họ sẽ khiến mọi chuyện thay đổi à?
- Các anh cố giúp tôi ra khỏi đây.
Rawlins nhìn John Grady.
- Các anh có thể nói tốt cho tôi. - Blevins nói.
- Nói tốt à? - Rawlins nói.
- Các anh có mất mát gì đâu.
- Câm mồm lại đi. - Rawlins nói. - Chỉ câm mồm là xong. Mày mà nói bất cứ lời nào nữa, tao sẽ đến đó và đạp vào cái mông xương xẩu của mày đó. Mày nghe tao chứ? Nếu mày nói bất kỳ một lời chết tiệt nào.
- Để nó yên. - John Grady nói.
- Thằng nhóc chết tiệt. Mày nghĩ gã đội trưởng đó không biết mày là ai à? Gã biết mày là ai trước khi gã để mắt đến mày. Trước khi mày được sinh ra. Quỷ tha ma bắt mày đi. Chỉ có vậy là xong.
Anh ta gần như muốn khóc. John Grady đặt một tay lên vai anh ta. - Kệ nó đi, Lacey. - Cậu nói. - Mặc kệ nó.
Chiều xuống, những tên lính đến, để lại thùng đựng nước tiểu và dọn dẹp những cái xô cùng đĩa thức ăn.
- Cậu nghĩ sao về việc những con ngựa là thủ phạm? - Rawlins nói.
John Grady lắc đầu.
- Những con ngựa. - Ông già nói. - Những con ngựa.
- Vâng. Những con ngựa.
Họ ngồi im lặng dưới cái nóng bao trùm và lắng nghe âm thanh trong khu làng. Tiếng ngựa thỉnh thoảng chạy ngang trên đường. John Grady hỏi ông già liệu bọn chúng có ngược đãi nó không và ông già vẫy một tay, ra dấu như thể không muốn nói. Ông nói chúng không gây phiền toái nhiều đến nó. Ông nói đối với bọn chúng, nó chẳng còn gì là bổ béo cả. Tiếng rên rỉ cộc lốc của một lão già. Ông nói rằng nỗi đau đó chẳng còn gì đáng ngạc nhiên đối với một ông già.
Ba ngày sau họ được dẫn ra khỏi xà lim, mắt chập chờn trong ánh sáng tinh sương và đi xuyên qua bãi sau và trường học rồi đến con đường. Đậu ở đó là một chiếc xe tải Ford mui trần tải trọng một tấn rưỡi. Họ đứng trên đường, bẩn thỉu và râu ria xồm xoàm, tay ôm những tấm chăn. Lát sau, một trong những tên lính giải họ lên xe. Một tên lính khác bước ra từ tòa nhà và họ bị còng chung trong những cái khóa mồm và rồi được xích chung với nhau bằng sợi xích kéo được cuộn lại xung quanh cái lốp dự phòng gắn phía trước chiếc xe tải. Gã đội trưởng bước ra và đứng dưới ánh nắng mặt trời lắc lư gót chân và uống một tách cà phê. Gã mang sợi dây nịt da màu đất sét trắng và cái bao súng, khẩu 45 tự động đã lên cò sẵn, chuôi súng chỉ về trước bên hông trái của gã. Gã nói gì đó với những tên lính rồi họ vẫy tay chào. Một gã ở phía trước xe tải thò đầu ra từ khoang động cơ, làm dấu gì đó, nói gì đó và rồi cúi người dưới nắp động cơ.
- Họ nói gì vậy? - Blevins hỏi.
Không ai trả lời. Có những chùm, bó và thùng hàng được chất phía trước trên boong xe cùng với vài thùng xăng quân đội loại năm gallon. Những người trong thị trấn tấp nập kéo đến với những kiện hàng và đưa cho gã tài xế những mảnh giấy nhỏ và gã nhét chúng vào túi áo, không nói một lời.
- Những cô gái của cậu kìa. - Rawlins nói.
- Tôi thấy rồi. - John Grady đáp.
Bọn họ đứng sát cạnh nhau, một đứa ôm chặt cánh tay của đứa kia, cả hai đang khóc.
- Như vậy thì có nghĩa gì chứ? - Rawlins hỏi.
John Grady lắc đầu.
Hai cô gái đứng nhìn trong lúc người ta chất hàng lên xe tải còn đám lính ngồi hút thuốc với những khẩu súng trường tựa vào vai. Chúng vẫn đứng đó một giờ cho đến khi chiếc xe tải khởi hành và cái nắp khoang máy hạ xuống. Chiếc xe tải chở tù nhân bị xích lùi ra di chuyển xuống con đường bụi bặm chật hẹp rồi mờ dần khỏi tầm mắt trong vòng xoáy của khói bụi.
Có ba tên lính ngồi cùng với những tù nhân trên boong, những chàng trai trẻ trong những bộ đồng phục sai cỡ và rộng thùng thình. Hẳn là họ được yêu cầu không nói chuyện với những tù nhân bởi vì họ cố tránh nhìn vào mắt những gã tù nhân. Họ gật đầu hoặc nghiêm nghị đưa tay lên với những người mà họ biết đang đứng ở lối ra vào khi họ phóng xe trên con đường đầy cát bụi. Gã đội trưởng ngồi trong ca bin với người tài xế. Một vài con chó xuất hiện đuổi theo sau chiếc xe tải và tên tài xế quẹo tay lái đột ngột cốt để đẩy bọn chúng xuống lề và những tên lính chới với bám lấy những thanh nắm, tên tài xế quay mặt lại nhìn họ xuyên qua ô cửa sổ của ca bin. Gã cười và tất cả bọn chúng cùng cười, thụi vào nhau hí hửng và rồi ngồi một cách nghiêm trang với những khẩu súng trường.
Họ rẽ xuống một con đường hẹp và dừng lại trước một ngôi nhà sơn màu xanh sáng. Gã đội trưởng cúi người trong ca bin và thổi còi. Sau một hồi cánh cửa mở ra và một gã đàn ông xuất hiện. Gã ăn mặc khá lịch lãm theo phong cách cao bồi và gã dạo quanh chiếc xe. Gã đội trưởng bước ra và người đàn ông leo vào ca bin, gã đội trưởng vào theo rồi đóng cánh cửa lại và họ quay đầu xe.
Họ lái xuống con đường ngang qua ngôi nhà cuối cùng, bãi quây và cái chuồng bằng bùn cuối cùng. Họ băng ngang qua một khúc sông cạn nơi mặt nước lặng lờ óng ánh như dầu trong những sắc màu của nó và rồi biến mất phía sau họ trước khi phần nước trên lốp xe tải thoát hết. Chiếc xe hì hục cố vượt ra vũng nước phía trên mặt đá lờm chởm của con đường và rồi đến chỗ bằng, nó tiếp tục băng ngang qua vùng sa mạc trong ánh nắng xế trưa.
Những gã tù nhân nhìn bụi cuốn cuộn dưới chiếc xe và lởn vởn trên con đường và chầm chậm trôi đi ngang qua vùng sa mạc. Họ nằm xoài ra đó trên những tấm ván lót bằng gỗ sồi thô cứng của boong xe và cố giữ cho những tấm chăn được gập lại phía dưới họ. Đến chỗ ngã rẽ hình chữ Y họ hướng chiếc xe về phía đường mòn đưa họ đến Cuatro Cienagas và tiếp tục đến Saltillo bốn trăm cây số về hướng nam.
Blevins tháo tấm chăn của mình ra và xoài hai cánh tay lên gác phía dưới đầu. Nó nằm nhìn chằm chằm vào bầu trời sa mạc trong xanh nơi chẳng có mây, chẳng có chim chóc. Khi nó mở miệng nói, tiếng nó run rẩy do sự va đập của boong xe vào cái lưng của nó.
- Này các anh. - Nó nói. - Ta đã từng đi qua đây và chuyến đi này sẽ rất dài.
Họ nhìn nó, họ nhìn nhau. Họ không nói liệu có phải như vậy không.
- Ông già nói phải mất cả ngày mới đến đó. - Blevins nói. - Tôi đã hỏi ông ấy. Ông ấy nói cả ngày.
Trước buổi trưa họ đụng con đường chính dẫn ra khỏi Boquillas ở vùng biên giới và họ theo con đường dẫn vào vùng đất. Xuyên qua những khu làng San Guillermo, San Miguel, Tanque el Reves. Một vài phương tiện cơ giới mà họ gặp trên con đường nóng bức nhiều vết rãnh này băng qua một trận bão bụi và đất đá. Những gã trên boong xe ngoảnh mặt đi, mắt dán vào tay áo. Họ dừng ở Ocampo và dỡ vài thùng hàng cùng vài bức thư tín xuống rồi tiếp tục lái về El Oso. Trước buổi chiều, họ tạt vào một quán cà phê nhỏ nằm ngoài mặt đường và đám lính xuống xe, bước vào cùng những khẩu súng. Tù nhân bị xích ngồi trên boong xe. Trong cái sân đất bùn, vài đứa trẻ đang chơi đùa cũng dừng lại để nhìn họ. Một con chó trắng trơ xương có vẻ như đang đợi một chuyến ghé lại như thế này, nó xuất hiện và giơ chân tè hồi lâu vào bánh sau xe tải rồi quay đi.