Những Con Tuấn Mã

Lượt đọc: 488 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần III Tiếp theo

Khi bước ra khỏi xe, những tên lính cười và cuộn thuốc. Một trong số đó mang ba chai sôđa và đưa cho những anh tù rồi đứng đợi trong lúc họ đang uống. Khi gã đội trưởng xuất hiện ở cánh cửa ra vào, bọn chúng lại lên xe. Tên lính lấy lại những cái chai bước ra ngoài rồi đến gã đàn ông trong y phục cao bồi và đến anh tài xế. Khi tất cả họ đã yên vị trên xe, gã đội trưởng bước qua đống sỏi và trèo vào ca bin rồi họ tiếp tục đi.

Tại Cuatro Cienagas, họ đụng con đường lát gạch bằng phẳng và rẽ sang hướng nam đến Torreon. Một trong những tên lính đứng dậy và víu vào vai của người bạn đồng hành của hắn đang ngoái nhìn biển báo giao thông ở phía sau. Hắn ta lại ngồi xuống và họ liếc nhìn những anh tù, rồi ngoái nhìn ra vùng đất khi chiếc xe tăng tốc. Một giờ sau họ mất hút khỏi con đường, chiếc xe tải nặng nề di chuyển trên con đường mòn sỏi đá băng qua những cánh đồng cuốn cuộn, những bãi đất hoang mênh mông vốn là điển hình của một vùng đất nơi những dã thú mang màu sắc của sáp nến xuất hiện từ những con lạch vào ban đêm để kiếm ăn như những thủ lĩnh xa lạ. Những đám mây tích mùa hè đang hình thành ở hướng bắc, Blevins nhìn chăm chăm về phía chân trời đầy những tia sét mỏng manh và rồi nó nhìn vào cơn gió bụi chỉ để biết chiều của gió. Họ băng ngang qua đáy một con sông rộng lớn đầy sỏi đá, khô ráo và một màu trắng muốt dưới ánh nắng mặt trời. Họ hì hục trèo lên một đống cỏ, những bụi cỏ mọc cao ngập bánh xe, cỏ lướt phía dưới xe tạo ra những âm thanh xào xạc. Họ tiếp tục đi vào một lùm cây mun và xua đuổi một đôi diều hâu đang làm tổ và chạy vào sân trong của một trại gia súc, một khu đất hình tứ giác gồm những ngôi nhà bằng đất bùn và những vết tích của chuồng cừu.

Không ai trên boong xe cử động. Gã đội trưởng mở cánh cửa và bước ra ngoài. - Đi nào. - Gã nói.

Bọn chúng xuống xe cùng với những khẩu súng. Blevins nhìn vẩn vơ về những tòa nhà đổ nát.

- Đây là đâu? - Nó hỏi.

Một trong những tên lính dựa khẩu súng của hắn vào chiếc xe, lần mò xâu chìa khóa, đến mở sợi xích và ném cái đầu dây vừa mới mở lên boong xe rồi cầm lấy khẩu súng và ra dấu cho những anh tù bước xuống. Gã đội trưởng cử một trong những tên lính đi do thám xung quanh và họ đứng đợi hắn trở lại. Gã cao bồi đứng tựa vào tấm chắn trước của chiếc xe với ngón tay cái tì vào chiếc nịt da có khắc chữ, hút thuốc.

- Chúng ta làm gì ở đây? - Blevins nói.

- Tao không biết. - John Grady nói.

Tên tài xế vẫn chưa bước xuống xe. Hắn ngồi sụp xuống, ngả lưng vào ghế, chiếc mũ trùm kín mắt và có vẻ như hắn đang muốn ngủ.

- Tôi phải đi xả. - Rawlins nói.

Họ bước ra ngoài xuyên qua bãi cỏ, Blevins khập khiễng theo sau. Chẳng ai nhìn họ. Tên lính quay trở lại và báo cáo với gã đội trưởng. Gã cầm lấy khẩu súng của tên lính và đưa nó cho tên cao bồi và hắn nhấc khẩu súng trong tay như thể đó là một khẩu súng đồ chơi. Những người tù rời rạc từng người một trở về lại chiếc xe tải. Blevins ngồi hơi cách xa. Gã cao bồi nhìn nó và rồi cầm lấy điếu thuốc từ trong miệng ném xuống cỏ và giẫm lên. Blevins đứng dậy và đi ra sau xe, nơi John Grady và Rawlins đang đứng.

- Họ chuẩn bị làm gì vậy? - Nó hỏi.

Tên lính không có súng bước đến sau xe.

- Đi nào. - Hắn nói.

Rawlins đang tựa người vào boong xe bèn đứng dậy.

- Chỉ thằng này thôi. - Tên lính nói. - Nào.

Rawlins nhìn John Grady.

- Họ sẽ làm gì? - Blevins nói.

- Họ chẳng làm gì cả. - Rawlins nói.

Nó nhìn John Grady. John Grady không nói gì cả. Tên lính tóm lấy cánh tay của Blevins. - Đi nào. - Hắn nói.

- Đợi một chút. - Blevins nói.

- Họ đang đợi. - Tên lính nói.

Blevins vặn vẹo người ra khỏi nắm ghì của tên lính và ngồi xuống đất. Khuôn mặt của hắn sa sầm lại. Hắn nhìn về phía trước của chiếc xe tải, nơi gã đội trưởng đang đứng. Blevins giật mạnh một chiếc ủng ra khỏi chân và thọc tay vào trong đó. Nó kéo ra một miếng đế giày màu đen và ướt đẫm mồ hôi rồi ném đi và lại chồm xuống. Tên lính cúi người tóm lấy cánh tay khẳng khiu của nó. Hắn kéo Blevins đứng dậy. Blevins quật tay như cố để đưa một cái gì đó cho John Grady.

- Đây này. - Nó rít lên.

John Grady nhìn nó. - Tao cần gì thứ đó? - Cậu nói.

- Cầm lấy. - Blevins nói.

Nó dúi vào tay cậu một nắm giấy bạc peso nhàu nát và dơ bẩn. Tên lính xốc mạnh cánh tay nó rồi đẩy nó về trước. Chiếc ủng rơi xuống mặt đất.

- Đợi đã. - Blevins nói. - Tôi cần lấy chiếc ủng của tôi.

Nhưng tên lính đẩy nó ngang qua chiếc xe và nó như thiếu sức lực, nó nhìn lại một lần nữa câm lặng và hoảng sợ và rồi tiếp tục cùng với gã đội trưởng và tên cao bồi bước qua bãi đất trống về phía những gốc cây. Gã đội trưởng đặt một cánh tay qua thằng bé, hoặc gã đưa bàn tay vào mông nó. Trông như một người cố vấn tốt lành. Gã đàn ông kia bước phía sau họ, vác khẩu súng cùng Blevins khập khiễng trên một chiếc ủng biến mất vào những cây mun, chẳng khác gì lần họ nhìn thấy nó xuất hiện ở con lạch vào buổi sáng sau trận mưa lớn, tại một vùng đất xa lạ cách đây đã lâu.

Rawlins nhìn John Grady. Môi anh ta tê cứng. John Grady nhìn vóc dáng tả tơi nhỏ bé ẻo lả giữa những lùm cây cùng với những kẻ bắt giữ. Đối với cậu, đó dường như chưa đủ để trở thành mục tiêu phẫn nộ của con người. Dường như nó chẳng có gì đủ để châm ngòi cho bất cứ hành động táo bạo nào.

- Cậu không nói gì sao? - Rawlins nói.

- Không.

- Cậu không nói một lời chết tiệt nào sao?

John Grady quay mặt nhìn anh ta. Cậu nhìn những tên lính và nhìn nơi bọn chúng đang đứng, một vùng đất xa lạ, một chân trời xa lạ.

- Được rồi. - Cậu nói. - Tôi sẽ không nói.

Thỉnh thoảng gã tài xế đi ra đi vào để xem những ngôi nhà. Những kẻ khác đứng, hai tên tù, ba tên lính trong những bộ quần áo nhàu nát. Một tên lính không có súng ngồi xổm xuống bên cạnh ngọn lửa. Họ đợi rất lâu. Rawlins nghiêng người và đặt hai nắm tay lên thành boong xe, trán anh ta cúi xuống và mắt nhắm chặt. Sau một hồi anh bật đứng dậy. Anh ta nhìn John Grady.

- Chúng chẳng thể đưa nó ra đó và bắn sao. - Anh ta nói. - Quỷ tha ma bắt. Chắc là đưa nó ra đó và bắn.

John Grady nhìn anh ta. Anh vừa dứt lời thì phía bên kia những cây mun vang lại tiếng súng nổ. Không lớn lắm, chỉ là một tiếng nổ ngắn gọn. Rồi một tiếng nữa.

Khi họ quay lại từ những gốc cây đó, gã đội trưởng cầm cái còng tay. - Đi nào. - Gã gọi lớn.

Những tên lính bước đi. Một trong số chúng đứng trên trục xe phía sau và xoài người trên những tấm ván boong xe để lấy sợi xích. Tên tài xế xuất hiện từ đống đổ nát của ngôi nhà.

- Chúng ta ổn rồi. - Rawlins thì thầm. - Chúng ta ổn.

John Grady không trả lời. Cậu với tay kéo vành trước của chiếc mũ nhưng cậu chợt nhớ ra họ không có mũ. Cậu quay lại và leo lên boong xe và ngồi đó để được xích lại. Chiếc ủng của Blevins vẫn còn nằm trên cỏ. Một trong những tên lính cúi xuống nhặt nó lên và ném nó vào bụi cỏ dại.

Khi họ vòng lại lùi ra khỏi bãi trống, trời đã chuyển tối và ánh nắng trải dài trên bãi cỏ ngang qua những vùng đầm lầy nơi mặt đất thấm vào những vùng đen của trời tối. Những con chim nhỏ bắt đầu đi kiếm ăn giữa cái lạnh lẽo của buổi tối trên một vùng đất bao la. Chúng vụt bay đi và xòe những đôi cánh trên đầu ngọn cỏ và những cái bóng nghiêng nghiêng của những con diều hâu, tương phản với bầu trời chạng vạng, đứng đợi chúng bay ngang qua trên những cành cao của một ngọn cây đã chết.

Họ vào đến Saltillo vào lúc mười giờ đêm, đám đông dân chúng đổ xô ra đi tản bộ, những quán cà phê chật cứng. Họ đậu xe trên một quảng trường nằm đối diện nhà thờ lớn, gã đội trưởng bước ra ngoài và băng qua đường. Có những lão già ngồi trên những băng ghế dài phía dưới ánh đèn vàng, giày đánh bóng và những tấm biển nhỏ lưu ý mọi người tránh xa những khu vườn cần được chăm sóc. Những người bán dạo đang bán những cây kem trái cây đông lạnh và những cô gái trẻ với những khuôn mặt đầy phấn, cặp kè nhau tay trong tay thành từng cặp và xoay mặt nhìn qua vai với những đôi mắt đen nhánh nghi ngờ. John Grady và Rawlins ngồi với những tấm chăn cuộn trong tay. Chẳng ai để tâm đến họ. Sau một hồi gã đội trưởng quay lại, trèo vào xe và họ lại tiếp tục đi.

Họ đi qua nhiều con đường và dừng lại trước những cánh cổng ra vào được thắp sáng mờ mờ, những ngôi nhà nhỏ và những cửa hiệu, cho đến khi tất cả những kiện hàng trên boong xe tải đã được phân tán hết và một vài cái mới được chất lên. Khi họ chạy xe vào cánh cửa lớn của nhà tù cũ ở Castelar, trời đã quá nửa đêm.

Họ được dẫn vào một cái phòng mặt sàn bằng đá bốc mùi thuốc tẩy. Tên lính tháo còng cho họ và bỏ đi. Họ ngồi xổm xuống và dựa người vào tường với những tấm chăn vất vưởng trên vai như những gã hành khất. Họ ngồi như vậy một hồi lâu. Khi cánh cửa mở ra, gã đội trưởng bước vào và đứng nhìn họ dưới ánh sáng hắt hiu của chiếc bóng đèn rời rạc trên trần nhà. Gã không mang súng. Gã hất cằm, tên lính mở cánh cửa, rút lui rồi đóng cánh cửa phía sau gã.

Gã đội trưởng đứng nhìn họ, hai cánh tay khoanh lại và ngón tay cái dưới cằm. Những tên tù ngước mắt nhìn gã, họ nhìn hai bàn chân của gã, họ ngoảnh mặt đi. Gã đứng nhìn họ một hồi lâu. Tất cả dường như đang đợi một cái gì đó. Như những hành khách trong một chuyến tàu quá cảnh. Nhưng gã đội trưởng ngự trị trong một không gian khác và đó là không gian thuộc sự lựa chọn riêng của gã vốn chẳng thuộc thế giới thông thường của con người. Một không gian được ban phát cho những người đàn ông với kiểu cư xử không thể cải tạo được, cái không gian vốn chứa đựng tất cả những thế giới nhỏ bé song lại không có lối vào. Bởi vì những điều khoản lựa chọn này thuộc mục chính quy và ngay khi được chọn, thế giới đó không thể bỏ qua.

Gã đi tới đi lui. Gã đứng lại. Gã nói rằng tay thanh niên mà họ gọi là tên cao bồi đó đã suy sụp tinh thần ngay gốc cây mun phía bên kia đống đổ nát của nhà trại. Anh trai của gã đã thiệt mạng trong tay tên giết người Blevins và gã đã trả tiền cho những cuộc dàn xếp mà chính gã đội trưởng này đã chấp nhận không ít đau thương để thực hiện.

- Thằng này đã dẫn xác đến đây. Tao không đi đến nó. Nó đến tao. Nói về công lý. Nói về danh dự gia đình. Bọn mày nghĩ đàn ông có thật sự muốn những điều này không? Tao không nghĩ có nhiều đàn ông muốn những thứ đó.

- Tao thậm chí cũng vô cùng ngạc nhiên. Tao ngạc nhiên. Chúng ta không ai chết ở đây vì những tên tội phạm cả. Những cuộc dàn xếp khác phải được thực thi. Tao nói với bọn mày về điều này bởi vì bọn mày rồi cũng sẽ tự dàn xếp.

John Grady nhìn lén.

- Bọn mày không phải là những người Mỹ đầu tiên đến đây. - Gã đội trưởng nói. - Ở nơi này. Tao có những người bạn ở đây và bọn mày sẽ thực hiện những cuộc dàn xếp với những người đó. Tao không muốn bọn mày gây lỗi lầm.

- Chúng tôi không có tiền," John Grady nói. "Chúng tôi không có ý định thực hiện bất cứ cuộc dàn xếp nào."

- Xin lỗi tụi bây, nhưng tao biết rồi bọn mày sẽ làm. Bọn mày không biết gì cả.

- Các ông đã làm gì với những con ngựa của chúng tôi?

- Lúc này chúng ta không nói chuyện về ngựa. Những con ngựa phải đợi sau. Những chủ nhân đích thực phải được tìm thấy cho những con ngựa này.

Rawlins nhìn John Grady một cách chán chường. "Câm mồm lại đi," anh ta nói.

- Hắn có thể nói," gã đội trưởng nói. "Tốt hơn là khi mọi người hiểu. Bọn mày không thể ở đây. Nơi này. Ở đây bọn mày sẽ chết. Rồi nhiều vấn đề khác xảy đến. Chứng từ bị đánh mất. Con người không thể tìm thấy. Một số người đến đây để tìm một gã đàn ông nào đó nhưng hắn không có ở đây. Không ai có thể tìm thấy những tờ giấy này. Một điều gì đó như thế. Bọn mày hiểu chứ? Không ai muốn rắc rối này cả. Ai có thể nói rằng một người nào đó ở đây? Chúng ta không có xác hắn. Một kẻ điên khùng nào đó, hắn có thể nói Chúa đang ở đây. Nhưng mọi người đều biết rằng Chúa không ở đây."

Gã đội trưởng gõ mạnh vào cánh cửa bằng đốt ngón tay.

- Các ông không cần phải giết nó," John Grady nói.

- Cái gì?

- Các ông lẽ ra có thể mang nó về lại. Mang nó về lại chiếc xe tải. Các ông không cần phải giết nó.

Một chùm chìa khóa lách cách bên ngoài. Cánh cửa mở. Gã đội trưởng đưa một tay lên ra dấu cho ai đó không nhìn thấy ở hành lang nửa tối nửa sáng.

- Đợi một tí," gã nói.

Gã quay người lại và đứng nhìn họ.

- Tao sẽ kể cho bọn mày nghe một câu chuyện," gã nói. "Bởi vì tao thích bọn mày. Tao cũng từng là một thanh niên trẻ như bọn mày. Bọn mày biết đấy. Tao luôn ở cạnh những gã đàn ông già dặn hơn bởi vì tao muốn học hỏi. Tối hôm ấy trong lễ hội San Pedro thuộc thị trấn Linares ở Nuevo Leon, tao cùng với những gã này. Họ uống rượu mùi Mexico cùng với những thứ khác – Bọn mày biết rượu mùi Mexico chứ? – Có một người đàn bà và tất cả những gã này đều đi ra ngoài với ả. Tao là người cuối cùng. Tao đi đến nơi ả và ả đã từ chối bởi vì ả cho rằng tao quá trẻ hoặc đại loại như thế.

- Một người đàn ông làm gì? Bọn mày biết đấy. Tao không thể quay lại bởi vì tất cả họ sẽ biết rằng tao không đi với ả. Bởi vì sự thật luôn luôn rõ ràng. Bọn mày biết chứ? Một người đàn ông không thể đi ra ngoài để làm một chuyện gì đó và rồi quay lại. Tại sao lại quay lại? Bởi vì anh ta đổi ý chăng? Một người đàn ông không đổi ý.

Gã đội trưởng giơ nắm đấm.

- Có thể bọn họ bảo ả từ chối tao. Vì vậy họ có thể cười nhạo. Họ cho ả tiền hoặc một cái gì đó như thế. Khi tao trở lại, không còn tiếng cười nữa. Không ai cười cả. Đó luôn là cách thức của tao trong thế giới này. Tao là người mà mỗi bước chân của tao đến đâu, ở đó chẳng có tiếng cười nhạo. Khi tao tới đó, họ ngưng cười.

Họ được dẫn lên bốn dãy bậc thang bằng đá và qua một cánh cửa thép dẫn ra một lối đi hẹp bằng sắt. Tên lính canh mỉm cười với họ trong ánh sáng của bóng đèn phía trên cánh cửa. Xa xa ngoài kia là bầu trời đêm của ngọn núi hoang sơ. Phía dưới họ là sân nhà tù.

- Đây được gọi là nhà tù lớn," gã nói.

Họ bước theo gã xuống lối đi hẹp. Một cảm nhận về cuộc sống im lìm và hiểm ác chìm sâu trong những cái chuồng đen tối mà họ băng ngang qua. Đây đó dọc theo những dãy bậc của lối đi, ở xa bên kia sân là những tia sáng mờ mờ chiếu ra từ những khe lưới của xà lim, nơi những ngọn nến tạ ơn cháy suốt đêm dài trước ngày lễ tạ ơn các thánh. Tiếng chuông trên tháp nhà thờ lớn cách đó ba khu đất vang lên với sự trang nghiêm vừa sâu lắng vừa mang chất phương Đông.

Họ bị giam trong một cái xà lim ở góc cao nhất của nhà tù. Cánh cửa làm bằng những thanh sắt loảng xoảng đóng lại và cái chốt cửa kêu canh cách. Họ lắng nghe khi tên lính quay ra, cánh cửa sắt đóng lại và rồi tất cả trở nên thinh lặng.

Họ ngủ trên những chiếc giường sắt được xích vào những vách tường, trên những tấm nệm dính đầy dấu mỡ, bẩn thỉu và lúc nhúc rệp. Sáng hôm sau họ leo xuống bốn dãy bậc thang làm bằng những chiếc thang thép để vào sân trong và đứng cùng với những tù nhân khác chờ gọi tên nhận phần điểm tâm. Danh sách được gọi theo từng dãy nhưng phải mất hơn một giờ đồng hồ, tên họ mới được gọi đến.

- Tôi đoán chúng ta không phải ở đây. - Rawlins nói.

Bữa điểm tâm của họ là món bột bắp lỏng và chẳng có gì khác, sau đó họ chỉ được phép ra sân để tự lo liệu. Họ trải qua trọn ngày đầu tiên đấu tranh và cuối cùng khi bị nhốt lại trong xà lim vào ban đêm, họ nhuốm máu và kiệt sức, mũi Rawlins gãy và sưng vù. Nhà tù chẳng khác gì một ngôi làng nhỏ có tường bao quanh, trong đó luôn náo động với những vụ đối chác và mua bán từ những chiếc đài phát thanh và chăn đắp cho đến những hộp diêm, khuy nút, đinh giày và ngay trong cuộc đổi chác này vẫn tồn tại một sự giằng co liên tục về thân thế và địa vị. Phía dưới tất cả những cái được coi là chuẩn mực tài chính trong xã hội thương mại là căn nguyên của đồi trụy và bạo lực, nơi một hệ thống xã hội bình quân tuyệt đối, từng người một được xét đoán bởi một chuẩn mực duy nhất và đó là cái sẵn sàng để bị tiêu diệt.

Họ ngủ và sáng hôm sau trời bắt đầu mưa. Họ dựa lưng vào nhau chiến đấu và đỡ nhau lên rồi lại chiến đấu. Đến trưa Rawlins không thể nhai được nữa. - Bọn chúng sẽ giết chết chúng ta. - Anh nói.

John Grady nghiến những hạt đậu bằng nước trong một cái lon thiếc cho đến khi nó nhão như cháo rồi đẩy qua cho Rawlins.

- Cậu nghe này. - Cậu nói. - Đừng để phải làm điều đó. Cậu nghe tôi chứ? Tôi muốn làm cho chúng phải giết tôi. Tôi chẳng mang theo được gì. Bọn chúng hoặc là giết chúng ta hoặc chúng ta được yên. Không có mảnh đất chung.

- Không có nơi nào gây cho tôi đau đớn cả.

- Tôi biết. Tôi biết và tôi chẳng đếm xỉa.

Rawlins húp bột cháo. Anh ta nhìn John Grady từ phía trên vành lon. - Cậu trông giống một thằng đểu. - Anh ta nói.

John Grady cười có vẻ giễu cợt. - Thế cậu nghĩ cậu giống cái thứ chết tiệt nào?

- Quỷ tha ma bắt, giá mà tôi biết.

- Cậu phải mong sao cho cậu càng giống thằng đểu càng tốt.

- Tôi không thể cười. Tôi nghĩ quai hàm của tôi bị vỡ rồi.

- Chẳng có gì xấu với cậu cả.

- Chết tiệt. - Rawlins nói.

John Grady cười. - Cậu có nhìn thấy cái thằng già to bự đứng kia đang nhìn chúng ta không?

- Tôi thấy cái thằng khốn đó rồi.

- Coi hắn đang nhìn về chúng ta này?

- Thấy rồi.

- Cậu nghĩ tôi sẽ làm gì?

- Tôi chẳng biết gì trong cái thế giới này.

- Tôi sẽ đứng dậy khỏi đây, đến đó và đập vỡ mồm hắn.

- Quỷ tha ma bắt cậu đi.

- Cậu xem này.

- Để làm gì chứ?

- Chỉ ngáng chân hắn ngã xuống thôi.

Khoảng cuối ngày thứ ba dường như lắng dịu khá nhiều. Cả hai người gần như trần trụi. John Grady bị một chiếc vớ đựng đầy đá sỏi tấn công đột ngột từ phía sau, lấy đi hai chiếc răng hàm dưới của cậu, con mắt trái bị đóng lại hoàn toàn. Ngày thứ tư đúng vào chủ nhật và họ mua quần áo bằng tiền của Blevins. Họ mua một thỏi xà phòng và đi tắm. Họ mua một lon xúp cà chua, hầm nóng bên trên chân nến và lấy cánh tay áo cũ nát của Rawlins bao xung quanh để làm quai cầm rồi truyền cho nhau trong lúc mặt trời lặn trên bức tường cao phía tây của nhà tù.

- Cậu biết đấy, chúng ta có thể làm được chuyện đó. - Rawlins nói.

- Đừng bắt đầu thoải mái như vậy. Chúng ta hãy đối phó với từng ngày.

- Cậu nghĩ phải mất bao nhiêu tiền để ra khỏi đây?

- Tôi không biết, tôi nghĩ là nhiều.

- Tôi cũng vậy.

- Chúng ta không nghe từ những người thân cận của gã đội trưởng ở đây. Tôi cho rằng họ đang đợi để xem liệu có gì còn lại để bảo lãnh không.

Cậu đưa cái lon về phía Rawlins.

- Cạn đi. - Rawlins nói.

- Cầm lấy. Chỉ còn được một hớp.

Cậu cầm lấy cái lon và nốc cạn rồi đổ một ít nước vào, lắc mạnh và uống. Cậu ngồi nhìn cái lon trống rỗng.

- Nếu họ nghĩ chúng ta có tiền, tại sao họ không ưu đãi hơn đối với chúng ta? - Cậu nói.

- Tôi không biết. Tôi biết họ không cai quản nơi này. Tất cả những gì họ làm là cái gì vào và cái gì ra.

- Nếu thế. - Rawlins nói.

Những ánh đèn pha tỏa sáng từ những bức tường phía trên. Những bóng người di chuyển trong sân, đứng yên và rồi tiếp tục di chuyển.

Còi bắt đầu thổi.

- Chúng ta có được vài phút.

- Tôi không bao giờ biết có một nơi như thế này.

- Tôi nghĩ mỗi nơi một kiểu mà cậu có thể nghĩ đến.

Rawlins gật đầu. Tôi không nghĩ về nơi này. - Anh nói.

Trời đang mưa ở một nơi nào đó trong sa mạc. Họ có thể ngửi thấy mùi creosote ẩm ướt trong gió. Ánh đèn tỏa sáng trong một ngôi nhà bằng khối than xỉ tạm bợ được xây dính vào một góc tường của nhà tù nơi một tù nhân giàu có sống như một ông hoàng bị đày ải với người đầu bếp và viên cận vệ. Có một tấm màn cửa màu xanh trước nhà và một bóng người đi qua đi lại phía sau. Trên sợi dây phơi quần áo có những bộ đồ của tù nhân bay phất phơ trong làn gió nhẹ ban đêm. Rawlins gật đầu về phía những ánh đèn.

- Cậu gặp hắn chưa?

- Có. Một lần. Một tối nọ hắn đứng ở cánh cửa, hút xì gà.

- Cậu có biết một biệt ngữ nào ở đây không?

- Một ít.

- Thế từ pucha là gì?

- Tàn thuốc.

- Còn từ tecolata?

- Cùng một nghĩa.

- Vậy họ có bao nhiêu từ để gọi cái tàn thuốc?

- Tôi không biết. Cậu có biết papazote là gì không?

- Không, gì vậy?

- Một ông trùm.

- Đó là biệt danh họ đặt cho gã đang ở đằng kia kìa.

- Ừ.

- Chúng ta là những người Pháp.

- Những cái dùi trắng.

- Những thằng ngu.

- Bất kỳ ai cũng có thể là một thằng ngu. - John nói.

- Thế à? Vâng, chúng ta là những người ngu nhất ở đây.

- Tôi không phản bác điều đó.

Họ ngồi.

- Cậu đang nghĩ gì vậy? - Rawlins nói.

- Nghĩ về việc phải chịu đau đớn tới mức nào nữa để đứng dậy từ chỗ này.

Rawlins gật đầu. Họ quan sát những tên tù di chuyển phía dưới ánh sáng của những bóng đèn.

- Tất cả cũng chỉ một con ngựa chết tiệt. - Rawlins nói.

John Grady cúi người và phun nước bọt giữa hai chiếc ủng và rồi ngả người ra sau. - Ngựa chẳng có liên quan gì đến đây cả. - Cậu nói.

Đêm đó họ nằm trong xà lim trên những chiếc giá bằng sắt trông chẳng khác gì những gã thầy tu mới vào. Họ lắng nghe sự tĩnh mịch và một tiếng ngáy liên hồi ở đâu đó trong tòa nhà cùng tiếng chó sủa yếu ớt từ đằng xa, và rồi thinh lặng, lắng nghe tiếng thở của nhau trong sự thinh lặng mà cả hai vẫn còn thức.

- Chúng ta là hai thằng cao bồi khá cứng cỏi. - Rawlins nói.

- Phải. Có thể là vậy.

- Họ có thể giết chúng ta bất cứ lúc nào.

- Vâng. Tôi biết.

Hai ngày sau tên trùm cho mời họ đến. Tối hôm đó, một người đàn ông cao và mảnh khảnh bước ngang qua sân trong đến nơi họ đang ngồi. Gã cúi xuống, yêu cầu họ đi theo gã rồi đứng dậy và bước nhanh đi. Gã thậm chí cũng không ngoảnh mặt nhìn lại để xem liệu họ có đứng dậy để bước theo không.

- Cậu định làm gì đây? - Rawlins nói.

John Grady nặng nề đứng dậy và dùng một tay phủi bụi ở phía sau mông quần.

- Cố mà nâng cái mông của cậu khỏi đó đi! - Cậu nói.

Tên của người đàn ông đó là Perez. Ngôi nhà của gã là một căn phòng đơn, chính giữa là một chiếc bàn gấp bằng thiếc và bốn cái ghế. Sát bức tường là một chiếc giường sắt nhỏ và trong góc là một cái tủ đựng đồ ăn và một cái kệ với một vài chiếc đĩa và một cái bếp ga ba lò. Perez đứng nhìn ra sân qua cánh cửa sổ nhỏ. Khi quay lại, gã đưa hai ngón tay ra dấu và người đàn ông dẫn họ đến bước lui rồi đóng cửa lại.

- Tên tôi là Emilio Perez. - Gã nói. - Xin mời ngồi.

Họ kéo ghế và ngồi ở bàn. Mặt sàn của căn phòng được làm từ những tấm ván nhưng chúng chưa được đóng lại. Những khối gạch trên tường không được trát vữa và những thanh xà gỗ bằng gỗ chưa được bào nhẵn được gác tạm bợ trên dàn mái, những tấm tôn bằng thiếc phía trên được giữ bởi những khối gạch chặt dọc theo mép rìa. Vài người đàn ông có thể đã tháo ra và sửa lại kết cấu trong nửa tiếng đồng hồ. Song vẫn có một bóng đèn điện và một lò sưởi bằng khí đốt. Một tấm thảm. Những bức ảnh cắt ra từ tấm lịch được ghim vào những bức tường.

- Này, các anh bạn trẻ. - Gã nói. - Các cậu thích thú với việc đánh nhau ở đây lắm phải không?

Rawlins định mở miệng nói nhưng John Grady đã cắt lời anh ta. Vâng. - Cậu nói. - Chúng tôi rất thích.

Perez cười. Gã trạc bốn mươi với mái tóc điểm bạc và râu quai nón, duyên dáng và gọn gàng. Gã kéo chiếc ghế thứ ba và bước qua thành ghế với cử chỉ vụng về có chủ ý rồi ngồi xuống, hai khuỷu tay chống lên bàn. Cái bàn được sơn màu xanh với logo của một công ty bia có thể nhìn thấy một phần xuyên qua lớp sơn. Gã chắp tay lại.

- Toàn là đánh nhau. - Gã nói. - Các cậu ở đây bao lâu rồi?

- Khoảng một tuần.

- Các cậu định ở bao lâu nữa?

- Chúng tôi chưa bao giờ muốn đến đây cả. - Rawlins nói. - Tôi không tin là kế hoạch của chúng tôi lại dính líu nhiều đến nơi này.

Perez cười. Người Mỹ không ở lâu với chúng tôi. - Gã nói. - Thỉnh thoảng họ đến đây vài tháng. Hai hoặc ba. Rồi họ bỏ đi. Cuộc sống ở đây chẳng thú vị gì đối với người Mỹ. Họ cũng chẳng ưa gì.

- Ông có thể đưa chúng tôi ra khỏi đây?

Perez giang hai bàn tay ra và nhún vai. Vâng. - Gã nói. - Dĩ nhiên tôi có thể làm được.

- Tại sao ông không tự đưa mình ra khỏi đây? - Rawlins hỏi.

Gã ngả người ra sau. Gã lại cười. Cử chỉ vung hai bàn tay đột ngột ra ngoài của gã như xua đuổi chim phù hợp một cách kỳ lạ với vẻ bị giam cầm bình thường của gã. Như thế gã nghĩ đó là một cử chỉ của người Mỹ mà họ sẽ hiểu.

- Tôi có những kẻ thù chính trị. Còn chuyện khác ư? Hãy để tôi thẳng thắn với các cậu. Tôi cũng chẳng muốn ở đây lắm. Tôi phải có tiền để tự dàn xếp cho mình và đây là một thương vụ rất đắt đỏ. Một thương vụ tốn nhiều tiền.

- Ông đang đào phải một cái hố khô. - John Grady nói. - Chúng tôi không có tiền.

Perez nhìn họ với vẻ nghiêm nghị.

- Nếu không có tiền, làm sao các cậu có thể được phóng thích khỏi nơi giam cầm của mình?

- Ông nói chúng tôi biết đi.

- Chẳng có gì để nói cả. Không có tiền, các cậu không thể làm được gì.

- Vậy tôi đoán là chúng tôi sẽ không đi đâu được cả.

Perez nhìn họ. Gã cúi người về trước và gập hai bàn tay lại. Gã dường như đang tìm cách để sắp xếp mọi thứ.

- Đây là công việc hệ trọng. - Gã nói. - Các cậu không hiểu cuộc sống ở đây. Các cậu nghĩ sự giằng co là vì những thứ này. Một vài sợi dây giày hoặc vài điếu thuốc hoặc một cái gì đó. Sự giằng co. Đây là một quan điểm ngờ nghệch. Các cậu có biết thế nào là ngờ nghệch không? Một quan điểm ngờ nghệch. Nhưng thực tế bao giờ cũng ngược lại. Các cậu không thể ở lại nơi này và không thể là những con người độc lập. Các cậu không biết tình cảnh ở đây là thế nào đâu. Các cậu không nói được ngôn ngữ của họ.

- Anh ta nói được. - Rawlins nói.

Perez lắc đầu. Không. - Gã nói. - Các cậu không nói được. Có thể trong một năm ở đây các cậu có thể hiểu được. Nhưng các cậu không có năm nào cả. Các cậu không có thời gian. Nếu các cậu không chứng tỏ lòng tin ở tôi, tôi không thể giúp. Hiểu chứ? Tôi không thể tỏ rõ sự giúp đỡ của tôi cho các cậu.

John Grady nhìn Rawlins. - Sẵn sàng rồi chứ, anh bạn?

- Rồi. Tôi đã sẵn sàng.

Họ đẩy lùi những chiếc ghế và đứng dậy.

Perez ngước mặt nhìn họ. - Mời các cậu ngồi xuống. - Gã nói.

- Chẳng có gì để nói đây.

Gã gõ những ngón tay lên bàn. Các cậu thật ngốc nghếch. - Gã nói. - Thật ngốc nghếch.

John Grady đứng, bàn tay đặt ở cánh cửa. Cậu quay lại nhìn Perez. Khuôn mặt cậu méo mó, cằm phị ra và đôi mắt vẫn còn sưng húp khép lại, tím bầm như quả mận.

- Tại sao ông không cho chúng tôi biết chuyện gì đang diễn ra ngoài kia? - Cậu nói. - Ông nói về việc chúng tôi tỏ lòng thành. Nếu chúng tôi không biết, tại sao ông không cho chúng tôi biết?

Perez vẫn không đứng dậy khỏi chiếc bàn. Gã ngả người ra sau và nhìn họ.

- Tôi không thể cho các cậu biết. - Gã nói. - Đó là sự thật. Tôi có thể nói những điều chắc chắn về những người đang thuộc dưới quyền che chở của tôi. Nhưng còn những người khác?

Gã làm một cử chỉ khước từ nhỏ bằng mu bàn tay.

- Những người khác đơn giản kẻ đứng ngoài. Họ sống trong một thế giới của cái có thể vốn chẳng có đoạn kết. Chúa có thể biết những gì hình thành từ trong họ. Nhưng tôi thì không thể.

Sáng hôm sau, trong lúc đi ngang qua sân trong, Rawlins bị một gã đàn ông tay cầm dao tấn công. Gã đàn ông này Rawlins chưa gặp bao giờ và con dao không phải được mài từ một cái thìa để sử dụng trong nhà mà là một lưỡi dao bấm của người Ý có cán bằng sừng màu đen và chất liệu lót bằng kén. Hắn cầm con dao ở ngang hông và phang ba nhát qua áo của Rawlins và trong ba lần đó, Rawlins nhảy lùi về phía sau, hai vai khom xuống, hai cánh tay ve vẩy như trọng tài ra hiệu dừng trận đấu vì máu chảy. Ở nhát đâm thứ ba, anh ta quay người bỏ chạy. Một tay chằng vào bụng, chiếc áo thấm ướt và kết dính.

Khi John Grady bước đến, anh ta đang ngồi dựa tường, hai cánh tay choàng qua bụng và run rẩy như thể lạnh cóng. John Grady quỳ xuống và cố kéo tay anh ta ra.

- Để tôi xem nào, chết tiệt.

- Thằng khốn. Thằng khốn kiếp.

- Để tôi xem nào.

Rawlins ngả người ra sau. Ôi, chết tiệt. - Anh nói.

John Grady nâng chiếc áo thấm đẫm máu lên.

- Không tệ lắm. - Cậu nói. - Không tệ lắm.

Cậu khum bàn tay thành hình cái chén và chộp vào bụng của Rawlins để chặn máu lại. Vết đâm thấp nhất là vết sâu nhất. Nó cắt đứt lớp biểu bì bên ngoài nhưng chưa chọc thủng vành bao tử. Rawlins nhìn xuống những vết cắt. - Tệ quá. - Anh ta nói. - Thằng khốn.

- Cậu có thể bước đi được không?

- Được, tôi có thể.

- Nào, đi đi.

- Ôi, chết tiệt. - Rawlins nói. - Thằng khốn kiếp.

- Nào, anh bạn. Cậu có thể ngồi đây.

Cậu giúp Rawlins ngồi xuống.

- Nào. - Cậu nói. - Tôi giúp cậu nhé.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của cormac mccarthy