Vị khách kế tiếp của cậu là một người đàn ông mà trước đây cậu chưa bao giờ gặp. Ông ta mặc một bộ đồng phục trông giống như trong quân đội. Ông không giới thiệu về mình. Tên lính canh đưa ông ta tới rồi đóng cửa lại và đứng ở ngoài. Người đàn ông đứng cạnh giường cậu và lấy chiếc mũ ra như thể biểu lộ sự tôn kính đối với một vị anh hùng nào đó bị thương. Rồi ông lấy một cây lược ra khỏi túi áo quân phục và lướt nó một đường dọc theo hai bên cái đầu uể oải của mình, rồi đội chiếc mũ lên lại.
- Bao lâu nữa cậu mới có thể đi vòng quanh được? - Ông hỏi.
- Ông muốn tôi đi đâu?
- Về nhà cậu.
- Tôi có thể bước đi ngay bây giờ.
Người đàn ông mím môi, nhìn chằm chằm vào cậu.
- Cho tôi thấy là cậu có thể đi.
Cậu đẩy những tấm gạt ra phía sau rồi lăn người qua một bên và bước xuống mặt sàn. Cậu đi tới đi lui. Hai bàn chân cậu để lại những dấu vết lành lạnh âm ẩm trên những phiến đá bóng đang hút và làm tan biến đi như câu chuyện của chính cái thế giới này. Mồ hôi lấm tấm trên trán cậu.
- Cậu là thằng bé may mắn. - Ông ta nói.
- Tôi không cảm thấy may mắn như vậy.
- Những thằng bé may mắn. - Ông lại nói và rồi gật đầu đi ra ngoài.
Cậu ngủ rồi thức. Cậu biết đêm và ngày qua những bữa ăn. Cậu ăn ít. Cuối cùng họ mang đến cho cậu một nửa con gà quay với cơm và hai nửa của một quả lê đóng hộp. Cậu ăn một cách chậm rãi, tận hưởng từng miếng ăn và đề xuất hoặc từ chối những viễn cảnh khác nhau có thể đã xảy ra cho thế giới bên ngoài hoặc đang xảy ra. Hoặc sắp xảy đến. Cậu vẫn nghĩ rằng cậu có thể bị đem ra vùng đồng cỏ và bị bắn.
Cậu tập đi lên rồi đi xuống. Cậu đánh bóng mặt dưới của cái khay bằng cánh tay áo và đứng chính giữa căn phòng, phía dưới bóng đèn, nhìn khuôn mặt ló ra mờ mờ từ cái mặt thép uốn cong giống như hồn ma đang được gọi lên với khuôn mặt phẫn nộ và đầy thương tích. Cậu tháo lớp băng ra khỏi khuôn mặt và kiểm tra những mũi khâu rồi cảm nhận chúng bằng những ngón tay.
Lần kế tiếp khi cậu thức dậy, gã phụ việc cho nhà tù mở cánh cửa và đứng đó với một đống áo quần và đôi ủng của cậu. Gã thả tất cả xuống sàn. Quần áo của anh đấy. - Gã nói và đóng cửa lại.
Cậu cởi cái áo lót đang mặc rồi tự lau người bằng xà phòng và giẻ lau, tự lau khô bằng khăn tắm rồi mặc quần áo và mang ủng vào. Có người đã rửa sạch vết máu trên đôi ủng, vì thế chúng vẫn còn ẩm ẩm và cậu có cởi chúng ra nhưng không thể, rồi cậu nằm xuống giường trong bộ quần áo và đôi ủng của mình, đợi chờ một điều gì đó mà chỉ có Chúa mới biết.
Hai tên lính canh đến. Họ đứng ở cánh cửa đang mở và đợi cậu. Cậu ngồi dậy và bước ra ngoài.
Họ đi xuống một cái hành lang và băng ngang qua một cái cổng chào nhỏ rồi cùng bước vào một khu vực của tòa nhà. Họ đi xuống một dãy hành lang khác và hai tên lính canh gõ vào cánh cửa rồi mở ra và một trong số họ vẫy tay để cậu bước vào.
Ngồi ở bàn là một gã cai ngục, người có lần đã đến xà lim để xem cậu có thể bước đi được không.
- Cậu ngồi đi. - Gã cai ngục nói.
Cậu ngồi xuống.
Gã cai ngục mở hộc bàn, lấy ra một phong bì và đưa cho cậu.
- Của cậu đây. - Ông ta nói.
John Grady cầm lấy phong bì.
- Rawlins đâu? - Cậu hỏi.
- Xin lỗi?
- Bạn của tôi đâu?
- Bạn cậu à?
- Vâng.
- Anh ta đợi ở ngoài.
- Chúng tôi sẽ đi đâu?
- Các cậu đi đi. Các cậu về nhà của mình đi.
- Khi nào?
- Xin lỗi.
- Khi nào?
- Ngay bây giờ. Tôi không muốn nhìn thấy các cậu nữa.
Gã cai ngục vẫy tay. John Grady đặt một bàn tay lên lưng ghế và đứng dậy rồi quay người bước ra cửa. Cậu và hai tên lính đi xuống sảnh, ra khỏi văn phòng sở đến cánh cổng nơi Rawlins đang đứng đợi trong bộ quần áo không khác gì của cậu. Năm phút sau họ đứng trên con đường bên ngoài những cánh cửa gỗ bọc sắt của cánh cổng chính đồ sộ.
Có chiếc xe buýt đang dừng trên đường và họ bước lên với vẻ nặng nề. Những phụ nữ ngồi trên ghế với những cái rổ và hòm mây trống không nói chuyện từ tốn với họ khi họ bước đi dọc theo lối đi giữa hai dãy ghế.
- Tôi tưởng cậu chết rồi đấy. - Rawlins nói.
- Tôi lại tưởng là cậu đấy.
- Chuyện gì đã xảy ra?
- Tôi sẽ kể cậu nghe. Nào ngồi đây đi. Đừng nói chuyện. Chúng ta ngồi đây thật sự yên tĩnh.
- Cậu ổn chứ?
- Ừ. Tôi ổn.
Rawlins ngoảnh mặt và nhìn ra ngoài cửa sổ. Tất cả là một màu xám và tĩnh lặng. Một vài hạt mưa bắt đầu rơi xuống đường. Chúng rơi xuống mui xe hiu quạnh như một tiếng chuông. Dọc theo con đường hắn có thể nhìn thấy những trụ tường hình cung của mái vòm nhà thờ lớn và tháp chuông xa tận bên kia.
- Cả cuộc đời tôi có cảm nhận rằng rắc rối đã kề bên. Không phải việc tôi chuẩn bị đón nhận. Mà nó luôn ở đó.
- Nào ngồi đi và yên lặng. - John Grady nói.
Họ ngồi nhìn mưa rơi trên đường. Những chị phụ nữ ngồi thinh lặng. Bên ngoài, trời đang tối dần và không còn ánh nắng mặt trời cũng như bất kỳ nơi nào mờ mờ dẫn đến chân trời, nơi ánh sáng mặt trời có thể hiện hữu. Hai phụ nữ nữa trèo lên xe và ngồi vào chỗ của họ. Ông tài xế chồm người dậy để đóng cánh cửa. Ông nhìn ra phía sau qua kính chiếu hậu rồi đạp số và chiếc xe bắt đầu lăn bánh. Một vài chị phụ nữ dùng tay chùi vào mặt kính cửa sổ xe và nhìn lại nhà giam trong cơn mưa buồn tẻ của Mexico. Vì thế cũng như một vùng đất bị vây bủa thời xa xưa, trong một quốc gia cổ hủ hơn, nơi những kẻ thù hội tụ không biết từ đâu.
Chỉ còn một vài khu đất nữa là đến trung tâm thành phố và họ cảm thấy thoải mái khi bước xuống xe. Những ngọn đèn măng sông đã sáng lên ở nơi họp chợ ngoài trời.
Họ chậm rãi băng ngang qua đến những cánh cổng ở phía bắc của quảng trường và đứng nhìn mưa rơi. Bốn người đàn ông trong những bộ đồng phục ban nhạc màu hạt dẻ đứng dọc theo vách tường với những dụng cụ. John Grady nhìn Rawlins. Rawlins trông có vẻ trầm ngâm, đầu không có mũ và chân run rẩy trong bộ quần áo bị co rút lại.
- Chúng ta kiếm gì để ăn đi.
- Chúng ta không có tiền.
- Tôi có tiền.
- Cậu lấy đâu ra tiền vậy? - Rawlins hỏi.
- Tôi có cả một phong bì đầy.
Họ bước vào một nhà hàng và ngồi trong một cái buồng. Một gã bồi bàn bước đến và đặt tờ thực đơn trước mặt họ và bỏ đi. Rawlins nhìn ra ngoài cửa sổ.
- Thịt nướng nhé? - John Grady nói.
- Ừ.
Cậu gọi thịt nướng, khoai tây chiên và cà phê cho cả hai. Gã bồi bàn gật đầu và cầm lấy tờ thực đơn. John Grady đứng dậy, chậm rãi bước đến quầy và mua hai gói thuốc và hai hộp diêm. Những người đang ngồi ở bàn nhìn họ bước ngang qua căn phòng.
Rawlins đốt một điếu thuốc và nhìn cậu.
- Tại sao chúng ta chưa chết? - Anh ta nói.
- Bà ấy đã trả tự do cho chúng ta.
- Bà dì đó à?
- Ừ. Bà dì đó.
- Tại sao?
- Tôi không biết.
- Đó là nơi cậu nhận tiền đó à?
- Ừ.
- Có liên quan đến cô gái, phải vậy không?
- Tôi nghĩ là vậy.
Rawlins hút thuốc. Anh nhìn ra ngoài cửa sổ. Bên ngoài trời đã tối. Những con đường ướt đẫm do trời mưa và ánh sáng phát ra từ những ngọn đèn trong quán cà phê và từ những ngọn đèn ở trung tâm họp chợ tỏa một màu đỏ máu trên những hố nước đen.
- Không có lời giải thích khác sao?
- Không.
Rawlins gật đầu.
- Tôi có thể chuồn khỏi nơi mà họ giữ tôi. Đó chỉ là khu vực bệnh viện.
- Tại sao cậu không làm?
- Tôi không biết. Cậu nghĩ tôi ngu ngốc sao?
- Tôi không biết. Ừ. Có thể là vậy.
- Cậu sẽ làm gì?
- Tôi không bỏ cậu.
- Ừ. Tôi biết là cậu sẽ không làm thế.
- Điều đó không có nghĩa là ngu ngốc.
Rawlins suýt bật cười. Rồi anh ngoảnh mặt đi.
Người hầu bàn mang cà phê đến.
- Có một gã lớn tuổi ở đó. - Rawlins nói. - Thật thương tâm. Có thể không phải là một gã xấu. Bắt đầu vào đêm thứ bảy với một vài đôla trong túi. Những đống peso. Thật thảm thương.
- Điều gì đã xảy ra cho hắn ta?
- Hắn chết. Khi họ mang hắn ra khỏi đó, hắn có vẻ kỳ dị làm sao. Giá mà hắn nhìn thấy điều đó. Vì tôi đấy, và ngay cả đó chẳng phải là tôi. Chết không phải là kế hoạch của con người, phải không?
- Phải.
Rawlins gật đầu.
- Họ đưa dòng máu Mexico vào người tôi.
Anh nhìn lên. John Grady đốt điếu thuốc. Cậu lắc que diêm và bỏ nó vào trong chiếc khay rồi nhìn Rawlins.
- Rồi.
- Rồi chuyện đó có ý nghĩa gì chứ? - Rawlins nói.
- Ý nghĩa về chuyện gì?
- Có nghĩa gì không việc tôi mang dòng máu Mexico?
John Grady kéo một hơi thuốc và ngả người ra sau rồi thổi làn khói vào không khí. Một phần của người Mexico? - Cậu nói.
- Ừ.
- Họ tiêm vào bao nhiêu?
- Họ nói hơn một lít.
- Bao nhiêu cho hơn một lít đó?
- Tôi không biết.
- Hơn một lít như vậy sẽ làm cho cậu bị lai rồi.
Rawlins nhìn cậu. Không phải chứ? - Anh ta nói.
- Không. Quỷ tha ma bắt, điều đó chẳng có nghĩa gì. Máu là máu. Nó không biết nó đến từ đâu.
Người hầu bàn mang thịt nướng đến. Họ ăn. Cậu nhìn Rawlins. Rawlins nhìn lên.
- Cái gì? - Cậu nói.
- Không gì cả.
- Cậu phải vui vẻ hơn về việc ra khỏi nơi đó.
- Tôi cũng nghĩ như cậu.
Rawlins gật đầu, nói: Ừ.
- Cậu muốn làm gì?
- Về nhà.
- Ừ.
Họ ăn.
- Cậu sẽ trở lại đó à? - Rawlins hỏi.
- Ừ. Tôi nghĩ là vậy.
- Vì cô gái đó ư?
- Ừ.
- Còn những con ngựa?
- Cô gái và những con ngựa.
Rawlins gật đầu rồi hỏi: Cậu nghĩ nàng mong cậu quay lại sao?
- Tôi không biết.
- Tôi nghĩ bà công nương già đó có thể ngạc nhiên khi gặp cậu.
- Không, bà ấy sẽ không ngạc nhiên đâu. Bà là một phụ nữ thông minh.
- Còn Rocha thì sao?
- Ông ấy sẽ phải làm bất cứ điều gì ông phải làm.
Rawlins đặt chéo dụng cụ ăn bằng bạc lên chiếc đĩa bên cạnh những mẩu xương và lấy một điếu thuốc.
- Đừng đi đến đó. - Anh ta nói.
- Tôi đã quyết định rồi.
Rawlins đốt điếu thuốc và lắc que diêm. Anh nhìn lên.
- Có một kiểu thỏa hiệp duy nhất có thể cô ấy đã làm với dì Alfonso mà tôi có thể biết được.
- Tôi biết. Nhưng cô ấy tự mình sẽ cho tôi hay.
- Nếu vậy cậu sẽ trở lại chứ?
- Tôi sẽ trở lại.
- Được.
- Tôi vẫn yêu những con ngựa.
Rawlins lắc đầu và ngoảnh mặt đi.
- Tôi không bảo cậu phải đi cùng tôi. - John Grady nói.
- Tôi biết.
- Cậu ổn chứ?
- Ừ. Tôi biết.
Anh ta gạt cái tàn thuốc và lấy lòng bàn tay dụi mắt rồi nhìn ra ngoài cửa sổ. Bên ngoài trời lại mưa. Trên đường không một bóng người qua lại.
- Thằng bé đằng kia đang cố để bán những tờ báo. - Cậu nói. - Không một ai an ủi ngoại trừ tiếng rao, nó đứng đó với những tờ báo phía dưới chiếc áo.
Cậu lấy mu bàn tay dụi dụi mắt.
- À, chết tiệt. - Anh ta nói.
- Chuyện gì?
- Không gì cả, chỉ là chuyện trời ơi.
- Là chuyện gì?
- Tôi luôn nghĩ về Blevins tội nghiệp.
John Grady không trả lời, Rawlins quay mặt nhìn cậu. Mắt anh ta ướt đẫm, trông anh có vẻ buồn và già đi.
- Tôi không thể tin họ dẫn nó ra đó và làm như thế.
- Ừ.
- Tôi luôn nghĩ về việc nó sợ hãi đến mức nào.
- Cậu sẽ cảm thấy đỡ hơn khi cậu về nhà.
Rawlins lắc đầu và lại nhìn ra ngoài cửa sổ. - Tôi không nghĩ vậy.
John Grady hút thuốc. Cậu nhìn Rawlins. Sau một hồi cậu nói: - Tôi không phải là Blevins.
- Ừ. - Rawlins nói. - Tôi biết cậu không phải. Nhưng tôi tự hỏi rằng cậu là người may mắn nhiều hơn nó.
John Grady dập tắt điếu thuốc. - Nào đi thôi. - Cậu nói.
Họ mua bàn chải đánh răng, một thỏi xà phòng và một con dao bào ở hiệu thuốc và họ tìm thấy một khách sạn cách đó hai khu chung cư trên con đường Aldama. Chiếc chìa khóa chỉ là loại khóa cửa thông thường được cột vào cái khóa bằng gỗ, số phòng được cạ vào mặt gỗ bằng sợi dây kẽm nóng. Họ bước ngang qua mặt sân trong lát ngói đang có mưa lất phất rơi và tìm căn phòng của mình. Họ mở cửa phòng và bật đèn. Một người đàn ông ngồi dậy trên giường và nhìn họ. Họ lùi lại, tắt đèn rồi đóng cửa lại và quay trở lại quầy để người đàn ông đưa cho họ một chìa khóa khác.
Căn phòng màu xanh sáng sủa và có một cái vòi sen nằm trong góc với một tấm màn bằng vải dầu móc trên một cái vòng. John Grady mở vòi sen và sau một hồi nước nóng chảy ra. Rồi cậu đóng lại.
- Tắm đi. - Cậu nói.
- Cậu tắm trước đi.
- Tôi phải tháo cái băng này ra.
Cậu ngồi trên giường và tháo những lớp băng trong lúc Rawlins tắm. Rawlins tắt vòi nước và móc cái màn trở lại rồi đứng lau khô mình mẩy bằng một trong những chiếc khăn tắm xác xơ.
- Chúng ta là hai người được may mắn, phải thế không? - Rawlins nói.
- Phải.
- Cậu sẽ tháo những mũi khâu đó bằng cách nào?
- Tôi nghĩ sẽ phải cần đến bác sĩ.
- Lấy ra đau hơn là khâu vào?
- Ừ.
- Cậu có biết vậy không?
- Có. Tôi biết.
Rawlins quấn cái khăn tắm vòng quanh người và ngồi trên chiếc giường đối diện. Phong bì đựng tiền đang nằm trên bàn.
- Còn bao nhiêu trong đó?
John Grady nhìn lên. "Tôi không biết." - Cậu nói. - "Ít hơn nhiều so với phỏng đoán của chúng ta, tôi cược đấy. Nào, đếm thử."
Cậu cầm lấy phong bì và đếm những tờ bạc trên giường.
- Chín trăm bảy mươi peso.
John Grady gật đầu.
- Là bao nhiêu?
- Khoảng một trăm hai mươi đô la.
Rawlins vỗ nhẹ xấp bạc phía trên mặt bàn bằng kính và bỏ chúng lại phong bì.
- Chia đôi đi. - John Grady nói.
- Tôi không cần tiền.
- Cậu cần đấy.
- Tôi đi về nhà mà.
- Không phân biệt gì cả. Một nửa là của cậu.
Rawlins đứng và treo cái khăn tắm lên trên khung giường bằng sắt và kéo lại những tấm rèm ra. - Tôi nghĩ cậu sẽ cần, thậm chí là một hào trong đó đấy. - Anh ta nói.
Khi bước ra khỏi vòi sen, John nghĩ Rawlins đã ngủ nhưng anh ấy vẫn chưa ngủ. Cậu bước ngang qua phòng, tắt đèn rồi quay trở lại và tự thả lỏng trên giường. Cậu nằm trong bóng tối, lắng nghe những âm thanh trên đường, tiếng mưa lách tách rơi xuống sân trong.
- Cậu có cầu nguyện không? - Rawlins hỏi.
- Có. Thỉnh thoảng, tôi cho là mình đã đánh mất thói quen ấy rồi.
Rawlins thinh lặng hồi lâu rồi lên tiếng: - Đâu là điều tồi tệ nhất mà cậu đã từng làm?
- Tôi không biết. Tôi cho rằng nếu tôi đã làm bất cứ chuyện gì thật sự tệ hại tôi sẽ không kể ra. Tại sao?
- Tôi không biết. Lúc ở trong bệnh viện tôi đã nghĩ rằng: Tôi sẽ không ở đây nếu tôi không được trù định sẽ ở đây. Cậu có bao giờ nghĩ vậy không?
- Có. Thỉnh thoảng.
Họ nằm trong bóng tối lắng nghe. Có người bước ngang qua cổng chào. Một cánh cửa mở và đóng lại.
- Cậu chưa bao giờ làm điều gì xấu. - John Grady nói.
- Tôi và Lamont có lần lái chiếc xe tải chở hàng chất đầy thức ăn gia súc đến Sterling City và bán nó cho một vài gã Mexico để lấy tiền.
- Đó không phải là điều tệ hại nhất mà tôi từng nghe.
- Tôi còn làm một vài chuyện khác nữa.
- Nếu cậu nói nữa tôi sẽ hút một điếu thuốc.
- Tôi không nói nữa.
Họ nằm im lặng trong bóng tối.
- Cậu đã biết chuyện xảy ra rồi chứ? - John Grady nói.
- Ý cậu là ở phòng ăn tập thể chứ gì?
- Ừ.
- Biết.
John Grady với tay lấy mấy điếu thuốc ở bàn và châm một điếu rồi thổi tắt que diêm.
- Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm điều đó.
- Cậu đâu có sự lựa chọn.
- Tôi vẫn không nghĩ đến điều đó.
- Gã đã làm điều đó với cậu.
Cậu kéo một hơi thuốc và thổi làn khói không nhìn thấy được vào trong bóng đêm. - Cậu không cần phải cố làm cho nó đúng. Đó là điều nó phải như vậy.
Rawlins không trả lời. Sau một hồi anh ta nói: Cậu lấy con dao ở đâu?
- Từ anh em Bautistas. Tôi mua nó với bốn mươi lăm peso còn lại.
- Tiền của Blevins.
- Ừ. Tiền của nó.
Rawlins nằm nghiêng trên cái khung giường sắt lò xo nhìn cậu trong bóng đêm. Điếu thuốc lóe lên một màu đỏ đậm nơi John Grady đang ngậm nó và khuôn mặt cậu với những mũi khâu ở má lồ lộ trong bóng đêm giống như chiếc mặt nạ kịch tướng màu đỏ mờ mờ được chỉnh sửa qua loa và rồi tan biến.
- Khi mua con dao, tôi đã biết phải mua nó vì mục đích gì.
- Tôi không thấy cậu sai ở đâu cả.
Điếu thuốc lóe sáng, rồi mờ dần. - Tôi biết - Cậu nói. - Nhưng cậu đã không làm điều đó.
Sáng hôm sau trời lại đổ mưa. Họ đứng ngoài quán cà phê hôm nọ, ngậm tăm xỉa răng trong miệng và nhìn mưa rơi ở khu họp chợ. Rawlins nhìn mũi của mình trong kính.
- Cậu biết tôi ghét điều gì không?
- Cái gì?
- Xuất hiện ở nhà mà trông như thế này.
John Grady nhìn anh ta và rồi ngoảnh mặt đi. - Tôi không trách cậu. - Cậu nói.
- Trông cậu cũng không được khỏe lắm.
John Grady cười. - Đi nào. - Cậu nói.
Họ mua mũ và quần áo mới ở cửa hàng Victoria Street rồi mặc chúng dạo bước trên con đường. Trong cơn mưa lất phất, họ đi đến trạm xe buýt để mua cho Rawlins vé xe về Nuevo Laredo. Họ ngồi trong quán cà phê ở trạm xe trong những bộ quần áo mới cứng với hai chiếc mũ mới úp xuống bên cạnh trên hai chiếc ghế của họ. Họ uống cà phê cho đến khi chiếc xe được thông báo qua cái loa phóng thanh.
- Xe của cậu đấy. - John Grady nói.
Họ đứng dậy, đội mũ lên và bước ra ngoài đến những cái cổng.
- Ừ. - Rawlins nói. - Tôi nghĩ sẽ gặp lại cậu một ngày gần đây.
- Bảo trọng nhé.
- Ừ. Cậu cũng vậy nhé.
Anh ta quay người và đưa chiếc vé cho gã tài xế. Gã đục một lỗ và trả lại cho anh ta rồi nặng nề bước lên xe. John Grady đứng nhìn trong lúc anh ta bước dọc theo lối đi giữa hai dãy ghế. Cậu nghĩ anh ấy sẽ chọn chỗ ngồi ở gần cửa sổ nhưng không phải. Anh ta ngồi ở bên kia xe và John Grady đứng một hồi rồi ngoảnh mặt bước đi qua trạm xe, ra ngoài đường và chậm rãi bước về khách sạn trong cơn mưa.
Những ngày sau đó, cậu kiệt sức, lần tìm danh sách bác sĩ phẫu thuật trong cái thủ phủ hiu quạnh nhỏ bé nhưng chẳng tìm ra ai làm công việc cậu cần nhờ. Cậu trải qua những ngày rảo bước lên xuống các con đường chật hẹp cho đến khi thuộc hết mọi ngóc ngách và ngõ cụt. Ngày cuối cùng trong tuần, những mũi khâu trên khuôn mặt cậu đã được tháo ra, ngồi trong một chiếc ghế thường bằng kim loại, vị bác sĩ ngâm nga hát khi ông dùng kéo cắt chỉ và kéo chúng bằng cái kẹp chuyên dụng, ông nói rằng bề ngoài vết sẹo sẽ cải thiện. Ông dặn cậu đừng nhìn vào đó bởi vì theo thời gian, nó sẽ đỡ hơn. Rồi ông đặt miếng gạc lên đó và lấy cậu năm mươi peso, bảo cậu năm ngày sau quay lại và ông sẽ tháo những mũi khâu ở bụng.
Một tuần sau, cậu rời Saltillo trên boong xe tải mui trần đi về hướng bắc. Ngày hôm đó trời lạnh và u ám. Một động cơ diesel lớn được xích vào boong của chiếc xe tải. Cậu ngồi trên boong khi xe chật vật chạy qua những con đường, cố tự giữ lấy mình, hai bàn tay cậu chống xuống hai bên mặt sàn xe thô ráp. Sau một hồi cậu kéo mũ xuống gần sát đôi mắt và đứng đưa hai bàn tay duỗi thẳng lên mái của cabin và phóng đi theo kiểu như vậy. Như thể cậu là một nhân vật quan trọng nào đó mang tin tức về cho đất nước. Như thể cậu là một người theo phái Phúc Âm vừa mới xác lập được xuống núi và hướng về phương bắc, băng qua xứ sở ảm đạm bằng phẳng tiến về Monclova.