Những Con Tuấn Mã

Lượt đọc: 493 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần IV

Tại trạm xe ở nút giao nhau tại đâu đó bên kia Paredon, xe ngừng lại đón năm công nhân nông trường. Họ leo lên boong xe, gật đầu và nói chuyện với cậu, hết sức nhã nhặn và cẩn trọng. Trời gần như đã tối và mưa lất phất. Họ bị ướt, những khuôn mặt thấm đẫm trong ánh sáng màu vàng từ trạm xe. Họ xúm sát lại gần cái động cơ bị xích và cậu mời họ thuốc lá. Họ cầm thuốc lá và từng người nói lời cám ơn với cậu và rồi họ khum bàn tay thành hình chén bao bọc một ngọn lửa bé nhỏ khỏi nước mưa đang rơi và rồi họ lại cám ơn cậu.

- Anh từ đâu đến? - Họ hỏi.

- Từ Texas.

- Texas à. - Họ nói. - Và anh đang đi đâu đây?

Cậu kéo một hơi thuốc. Cậu nhìn khuôn mặt họ. Một trong số đó có vẻ già hơn những người còn lại gật đầu nhìn bộ quần áo mới rẻ tiền của cậu.

- Anh ta đi thăm cô dâu của mình. - Gã nói.

Họ nhìn cậu một cách nghiêm trang và cậu gật đầu nói rằng đó là sự thật.

- À. - Họ nói. - Vậy thì tốt lắm. Và một lúc lâu sau đó, cậu có lý do để gợi lên ký ức về những nụ cười đó. Cậu ngẫm nghĩ về thiện chí vốn đã thôi thúc họ bởi nó có sức mạnh để bảo vệ và mang lại vinh dự cũng như củng cố sự quyết tâm, và nó còn có sức mạnh để chữa trị con người và mang họ đến với sự an toàn sau khi tất cả những nguồn lực khác đã bị kiệt quệ.

Cuối cùng khi chiếc xe tải lăn bánh, họ thấy cậu vẫn đứng đó. Họ đưa những gói hàng của họ cho cậu ngồi lên và cậu ngồi, gật đầu và tất cả gật gù theo tiếng ầm ừ của bánh xe trên mặt nhựa đường. Cơn mưa đã tạnh và bầu trời đêm trở nên quang đãng, mặt trăng cũng đã lên cao rượt đuổi nhau giữa những sợi dây điện chót vót bên cạnh con đường cao tốc giống như nốt nhạc bạc lẻ loi bừng cháy ở đằng xa, và trong đêm tối phóng khoáng, những cánh đồng băng ngang tươi tốt nhờ cơn mưa mang hương vị của đất, ngũ cốc, tiêu và có khi là mùi của ngựa. Lúc nửa đêm họ đến Monclova và cậu bắt tay với từng người rồi bước vòng qua chiếc xe cảm ơn anh tài xế và gật đầu với hai người khác đang ngồi trong cabin. Và rồi cậu nhìn ánh đèn hậu nhỏ màu đỏ đang xa dần xa dần trên con đường và hướng lên xa lộ để cậu một mình giữa cái thị trấn tối đen này.

Đêm đó trời ấm áp, cậu ngủ trên một cái ghế dài ở khu công viên và thức dậy khi mặt trời đã lên cao rồi công việc trong ngày bắt đầu. Những em học sinh mặc đồng phục xanh băng ngang dọc theo lối đi. Cậu đứng dậy và băng qua đường. Những chị phụ nữ đang lau chùi vỉa hè phía trước các cửa hiệu và những người bán dạo bày biện các mặt hàng của họ trên những cái kệ nhỏ hoặc những chiếc bàn và nhìn một ngày trôi qua.

Cậu ăn điểm tâm với bánh mì ngọt và cà phê ở một quán cà phê nằm trên lề đường ngoài khuôn viên. Cậu bước vào một hiệu thuốc và mua một thỏi xà phòng và bỏ nó vào trong túi áo khoác cùng với lưỡi dao cạo và bàn chải đánh răng rồi tiếp tục bước đi dọc theo con đường về hướng tây.

Cậu đón một chuyến xe đến Frontera và một chuyến khác đến San Buenaventura. Đến giữa trưa cậu tắm trong một con mương tưới tiêu. Cậu cạo râu, rửa mặt và nằm ngủ trên chiếc áo khoác của mình giữa ánh nắng mặt trời cho đến khi quần áo khô. Dọc theo con mương là một cái cống bằng gỗ nhỏ. Khi cậu thức dậy có những đứa trẻ trần trụi vẩy nước tung tóe trong hồ. Cậu đứng dậy, quấn chiếc áo khoác vòng quanh hông và bước đi dọc theo bờ mương, nơi cậu có thể ngồi và nhìn chúng. Hai cô gái băng ngang trên bờ mương mang theo một cái bình có nắp đậy bằng vải và tay kia cầm cái thùng được đậy kín. Họ đem bữa ăn tối cho những nông dân trên đồng và họ mỉm cười bẽn lẽn với cậu, người đang ngồi đó với tấm lưng trần, nước da tái nhợt và vết khâu tấy đỏ lấm chấm ngang qua ngực và bụng. Cậu lặng lẽ hút thuốc, nhìn ngắm những đứa trẻ tắm trong con nước đáy bùn.

Suốt buổi chiều cậu đi bộ ra ngoài con đường nóng khô khốc về Cuatro Cienagas. Không ai cậu gặp mà không nói chuyện. Cậu bước dọc theo qua những cánh đồng nơi đàn ông và đàn bà đang cuốc đất, những người đang làm việc bên lề đường cũng dừng lại, gật đầu với cậu và cùng hớn hở với một ngày tốt đẹp. Cậu tán thành với tất cả những gì họ nói. Tối đến, cậu dùng bữa với những người nông dân bên trong trại của họ, năm hoặc sáu gia đình cùng ngồi với nhau quanh một chiếc bàn được làm từ những cây cột được cắt ra và buộc lại với nhau bởi những sợi dây gai dầu. Chiếc bàn được đặt phía dưới một túp lều vải bạt và ánh nắng buổi tối hòa vào không gian dưới ánh đèn màu cam sẫm nơi những đường chỉ và mũi khâu dịch chuyển tới lui trên khuôn mặt và quần áo họ khi họ cử động. Hai cô gái sắp những đĩa thức ăn lên trên những tấm pa-lét nhỏ được làm từ mặt đáy của những cái sọt vốn chẳng thứ gì có thể đổ xuống trên bề mặt của chiếc bàn và một ông già ở cuối đầu bàn bên kia cầu nguyện cho tất cả mọi người, ông nói rằng Chúa luôn nhớ đến những người đã chết và những người sống đang tụ họp nơi đây, nên nhớ rằng ngô bắp mọc lên là nhờ ý chí của Chúa và ngoài điều đó ra sẽ chẳng có ngô bắp, chẳng có sự phát triển, chẳng có ánh sáng, không khí, mưa hay bất cứ thứ gì ngoại trừ bóng tối. Rồi họ cùng ăn.

Họ chuẩn bị một cái giường cho cậu nhưng cậu cám ơn họ và bước ra ngoài trong bóng đêm, dọc theo con đường cho đến khi đến một lùm cây và cậu ngủ ở đó. Sáng hôm sau bầy cừu xuất hiện trên đường. Hai chiếc xe tải chở những người nông dân chạy dọc theo phía sau đàn cừu và cậu bước đến con đường, xin anh tài xế cho đi nhờ. Anh tài xế gật đầu mời cậu lên xe và cậu trượt chân dọc theo cái boong của chiếc xe tải đang chạy và cậu cố tự kéo mình lên. Cậu không thể và khi những nông dân nhìn thấy tình trạng của cậu, họ lập tức đứng dậy và kéo cậu lên. Qua hàng loạt những chuyến đi như vậy và nhiều lần đi bộ, cậu tiếp tục đi về hướng tây qua những ngọn núi thấp bên kia Nadadores và vào khu vực

đất bùn rồi bám theo con đường đất ra khỏi La Madrid, xế chiều, một lần nữa cậu lại đi vào thị trấn La Vega.

Cậu mua một chai Coca-Cola trong cửa hiệu và đứng tựa người vào quầy trong lúc uống. Rồi cậu uống một chai nữa. Cô gái đứng ở quầy quan sát cậu với vẻ lưỡng lự. Cậu đưa mắt nhìn tấm lịch trên tường. Trong một tuần lễ cậu không biết ngày tháng gì cả và khi cậu hỏi, cô ta cũng không biết. Cậu đặt cái chai thứ hai lên quầy, bên cạnh chai thứ nhất và bước ra ngoài đến con đường đất và tiếp tục đi bộ theo con đường làng dẫn về La Purisima.

Cậu đi đã bảy tuần lễ và vùng đất thay đổi, mùa hè trôi qua. Cậu hầu như chẳng nhìn thấy ai trên đường và cậu đến trang trại sau khi trời tối.

Khi gõ cửa phòng lão cai, qua ô cửa, cậu có thể nhìn thấy gia đình đang ăn tối. Người phụ nữ đến cánh cửa và khi bà thấy cậu, bà quay lại gọi Armando. Gã đến cánh cửa và đứng xỉa răng. Chẳng ai mời cậu vào nhà cả. Khi Antonio bước ra ngoài, họ ngồi dưới mái vòm và hút thuốc.

- Ai ở trong nhà vậy? - John Grady hỏi.

- Cô gái.

- Và cả ông Rocha nữa à?

- Ở Mexico.

John Grady gật đầu.

- Ông ấy và cô gái đi Mexico. Bằng máy bay. - Gã dùng một tay tạo hình ảnh chuyển động của chiếc máy bay.

- Khi nào họ trở lại?

- Ai mà biết được.

Họ hút thuốc.

- Mọi thứ của anh vẫn ở đây.

- Vậy à?

- Vâng. Khẩu súng. Tất cả những đồ đạc của anh. Và của bạn anh.

- Cám ơn.

- Không có gì.

Họ ngồi. Antonio nhìn cậu.

- Anh chẳng có gì, chàng trai à.

- Tôi biết.

- Hệ trọng.

- Không sao. Tôi có thể ngủ trong chuồng ngựa được không?

- Được. Nếu anh đừng nói về tôi.

- Những con ngựa cái thế nào rồi?

Antonio mỉm cười. - Những con ngựa cái. - Gã nói.

Gã mang đến những đồ đạc của cậu. Khẩu súng đã được tháo hết đạn và những viên đạn nằm trong túi xách cùng với những dụng cụ cạo râu của cậu, con dao săn Cẩm Thạch cũ kỹ của bố cậu. Cậu cám ơn Antonio và bước về nhà ngựa trong bóng đêm. Tấm nệm trên giường của cậu đã được cuốn lên và không còn gối hay khăn ngủ nào cả. Cậu trải tấm vải bọc, ngồi xuống và đá hai chiếc ủng ra rồi duỗi thẳng cẳng. Một vài con ngựa trong chuồng nhảy cẫng lên khi cậu đi vào nhà ngựa và cậu có thể nghe tiếng chúng khịt khịt và lạo xạo. Cậu thích nghe tiếng chúng. Cậu thích ngửi mùi chúng và rồi cậu chìm vào giấc ngủ.

Lúc trời sáng gã già giữ ngựa đẩy cánh cửa mở ra và đứng nhìn cậu. Rồi ông đóng cánh cửa lại. Khi ông đi, John Grady đứng dậy, lấy xà phòng và dao cạo của mình rồi bước đến vòi nước ở phía sau nhà ngựa.

Khi cậu bước đến ngôi nhà, lũ mèo nhảy ra từ chuồng ngựa và vườn cây ăn quả. Chúng đi dọc theo bức tường cao hoặc đợi đến lượt mình băng qua phía dưới phần gỗ bị ăn mòn của cánh cổng. Carlos giết thịt một con cừu và dọc theo mặt sàn lốm đốm của cánh cổng, những con mèo khác đang phơi mình dưới ánh nắng đầu tiên trong ngày chiếu xuống xuyên qua cây hoa đũa. Carlos đeo tạp dề nhìn ra ngoài từ lối ra vào của bức tường ở cuối cánh cổng. John Grady chúc ông một buổi sáng tốt đẹp và ông gật đầu một cách nghiêm nghị rồi bỏ đi.

Maria dường như không ngạc nhiên khi nhìn thấy cậu. Bà ấy dọn bữa ăn sáng cho cậu và cậu nhìn bà rồi lắng nghe bà huyên thuyên. Bà dì chưa ra khỏi phòng trong một giờ đồng hồ nữa. Một chiếc xe đến đón bà vào lúc mười giờ. Bà sẽ đi suốt cả ngày viếng thăm khu làng Margarita. Bà sẽ trở về trước khi trời tối. Bà không thích đi đường vào ban đêm. Có lẽ bà ấy có thể gặp cậu trước khi cậu đi.

John Grady ngồi uống cà phê. Cậu xin bà ấy một điếu thuốc và bà mang gói El Toros ở cửa sổ phía trên bồn rửa chén và đặt lên bàn cho cậu. Bà không hỏi cậu đã đến đâu hoặc mọi việc thế nào với cậu nhưng khi cậu đứng dậy đi bà đặt bàn tay lên vai cậu và chế thêm cà phê vào tách cậu.

- Cậu có thể đợi ở đây. - Bà nói. - Bà ấy sẽ đến ngay.

Cậu đợi. Carlos bước vào và đặt những con dao của ông vào chậu rửa chén rồi đi ra. Lúc bảy giờ bà đi ra ngoài cùng với cái khay điểm tâm và khi trở lại, bà bảo rằng cậu được mời đến ngôi nhà đó vào lúc mười giờ tối hôm đó. Bà ấy muốn gặp cậu. Cậu đứng dậy đi.

- Tôi cần một con ngựa. - Cậu nói.

- Con ngựa à?

- Vâng. Chỉ trong một ngày, không hơn.

- Đợi một chốc. - Bà ấy nói.

Khi quay lại, bà gật đầu. - Cậu sẽ có con ngựa. Đợi đã. Ngồi xuống đi.

Cậu đợi trong lúc bà ấy chuẩn bị bữa ăn trưa cho cậu. Bà gói trong một tờ báo và dùng sợi dây bện cột lại và đưa cho cậu.

- Cảm ơn. - Cậu nói.

- Không có chi.

Bà cầm mấy điếu thuốc và hộp diêm quẹt trên bàn đưa cho cậu. Cậu cố đọc trong sắc mặt của bà điều bà đang nghĩ về cậu. Trong tất cả điều mà cậu thấy, cậu mong là đừng như vậy. Bà đẩy những điếu thuốc về phía cậu và nói: Nào, đi thôi.

Có mấy con ngựa mới trong vài chuồng và khi đi qua nhà ngựa, cậu dừng lại để nhìn chúng. Trong căn phòng chứa dụng cụ, cậu kéo sợi dây bóng đèn, lấy một tấm lót và bộ cương mà cậu thường sử dụng và lấy xuống cái yên ngựa có vẻ tốt nhất trong số sáu cái trên giá treo. Cậu nhìn chiếc yên và thổi bụi, kiểm tra những sợi đai và cầm cái sừng yên hất mạnh lên vai. Cậu bước ra ngoài và đến chỗ bãi quây.

Con ngựa giống khi nhìn thấy cậu bước đến bắt đầu chạy lóc cóc. Cậu đứng ở cổng và nhìn nó. Nó băng ngang qua với cái đầu nghiêng nghiêng, đôi mắt tròn xoe và mũi hít hít cái không khí buổi sáng. Và rồi khi nhận ra cậu, nó quay lại và tiến đến chỗ cậu. Cậu đẩy cánh cổng mở ra. Con ngựa hí lên rồi lắc lắc cái đầu, thở khịt khịt và dúi cái mũi bóng mượt và dài của nó vào ngực cậu.

Khi cậu đi ngang qua nhà trại, Morales đang ngồi bên ngoài phía dưới mái vòm lột hành. Ông vẫy vẫy vu vơ con dao trong tay và lớn tiếng gọi to. John Grady lên tiếng cảm ơn rồi mới hiểu ra người đàn ông không nói rằng ông ta vui sướng khi gặp lại cậu mà chính là con ngựa. Cậu lại vẫy tay và quất vào con ngựa. Con ngựa giậm chân và họ cùng phóng đi như thể con ngựa không thể tìm thấy kiểu đi nào trong vốn tiết mục của nó để phù hợp với ngày hôm đó cho đến khi cậu cưỡi nó đi qua cánh cổng và biến mất khỏi tầm nhìn của ngôi nhà, kho thóc và nhà bếp. Cậu vỗ vỗ vào cạnh sườn bóng mượt đang run run phía dưới và họ chuyển sang nước đại và phóng lên con đường lầy lội.

Cậu cưỡi đi giữa bầy ngựa trên ngọn núi đỉnh bằng và cậu lùa chúng ra khỏi những vùng đất thấp và những khu tuyết tùng rậm rạp nơi chúng đến để núp, và cậu thúc con ngựa phi nước đại dọc theo những mép cỏ để ngọn gió làm mát nó. Cậu đuổi những con chim ó buteo bay khỏi một con mương nơi chúng bám vào một con ngựa non đã chết và cậu ngồi trên lưng ngựa nhìn xuống một hình thù đáng thương nằm sóng soài trên bãi cỏ bị vấy bẩn, hai con mắt bị mất và trần trụi.

Đến trưa cậu ngồi, hai chiếc ủng đu đưa trên rìa đá, ăn món gà nguội và bánh mì mà bà giúp việc đã chuẩn bị cho cậu trong lúc con ngựa đang gặm cỏ. Vùng đất cuốn xa về hướng tây qua ánh sáng và bóng râm gãy khúc, những cơn bão mùa hè từ đằng xa cách một trăm dặm từ vùng đất đến nơi những dãy núi nhô lên và chìm vào sương mù. Cậu hút thuốc, thọc tay vào cái chóp mũ của mình và đặt một viên đá trong đó, nằm ngửa trên bãi cỏ rồi đặt chiếc mũ khá nặng lên mặt. Cậu nghĩ giấc mơ nào có thể mang lại cho cậu sự may mắn. Cậu trông thấy nàng đang cưỡi ngựa với cái lưng thật thẳng và chiếc mũ đen trên đầu, mái tóc nàng bồng bềnh và cách nàng ngoảnh mặt lại, cách nàng mỉm cười và đôi mắt của nàng. Cậu nghĩ về Blevins. Cậu nghĩ về khuôn mặt và đôi mắt của nó khi cậu tạo những ảnh hưởng cuối cùng lên nó. Cậu mơ thấy Blevins một đêm nọ ở Saltillo, Blevins đến ngồi bên cạnh cậu. Họ nói về việc khi chết đi sẽ như thế nào và Blevins nói rằng nó chẳng giống gì cả và cậu tin vào nó. Cậu nghĩ có lẽ nếu cậu mơ về nó đủ nhiều, cậu sẽ ra đi mãi mãi và chết theo kiểu của nó. Tiếng cỏ được cắt xén trong gió văng vẳng bên tai cậu và cậu chìm vào giấc ngủ mà chẳng mơ thấy gì nữa.

Khi cậu cưỡi ngựa qua công viên vào buổi tối, đàn gia súc liên tục di chuyển ra ngoài những lùm cây trước mặt cậu nơi chúng đi đến để núp mát trong ngày. Cậu cưỡi xuyên qua một lùm cây táo dại và nhiều gai. Cậu hái một trái và cắn vào. Trái táo cứng, xanh và đắng. Cậu thúc con ngựa đi xuyên qua đồng cỏ tìm kiếm những quả táo chín trên mặt đất nhưng gia súc đã ăn hết. Cậu cưỡi ngang qua đống đổ nát của một mái nhà cũ. Rầm đỡ của cánh cửa ra vào đã mất và cậu dẫn con ngựa vào. Những thanh xà gỗ đã đổ xuống một phần, và những người đi săn hoặc chăn gia súc đốt lửa trên sàn nhà. Một tấm da bê cũ được đóng vào một bức tường, không có khung cửa sổ nào có kính cả bởi vì cách đây đã lâu những khung cửa hay khung cửa trượt đã được tháo ra để làm củi đốt. Một bầu không khí kỳ lạ ở nơi này. Như một khu đất nào đó nơi cuộc sống không triển nở được. Con ngựa không thích khung cảnh này, cậu giật nhẹ sợi cương ở cổ nó rồi dùng gót ủng thúc vào sườn nó và họ cẩn trọng ngoảnh lại, đi ra ngoài rồi chạy xuyên qua khu vườn ăn quả cùng những vùng đầm lầy hướng về con đường. Những con chim bồ câu tụ về dưới ánh sáng mờ tối. Cậu lái con ngựa để nó khỏi giẫm liên tục vào cái bóng của nó, bởi như vậy dường như khó cưỡi được.

Cậu rửa mặt ở vòi thùng nước cho bãi quây và mặc vào chiếc áo khác và lau bụi hai chiếc ủng rồi bước về nhà trại. Trời đã tối. Những anh cao bồi đã ăn xong và đang ngồi với nhau phía dưới mái vòm hút thuốc.

- Chào buổi tối. - Cậu nói.

- Anh đó à, John?

- Đúng vậy.

Một khoảnh khắc thinh lặng. Rồi một người nào đó nói: Mừng anh đã ở đây.

- Cảm ơn. - Cậu nói.

Cậu ngồi hút thuốc cùng với họ rồi kể cho họ tất cả những chuyện đã xảy ra. Họ lo lắng cho Rawlins, một người bạn gần gũi với họ nhiều hơn là cậu. Họ buồn vì anh ấy không trở lại nhưng họ nói rằng một người đàn ông mất mát nhiều thứ khi anh ta rời bỏ quê hương mình. Họ nói rằng không phải ngẫu nhiên khi một người được sinh ra ở một đất nước nào đó, họ nói rằng thời tiết và mùa màng vốn tạo thành một vùng đất cũng sẽ tạo thành những phẩm chất bên trong của con người trong những thế hệ của họ và được truyền lại cho thế hệ con cháu của họ, và ngược lại không dễ dàng gì mà có được. Họ nói về gia súc, ngựa và những con ngựa mái non hoang dã đến thời kỳ của chúng và nói về đám cưới ở La Vega và một vụ chết chóc ở Vibora. Không ai nói về ông chủ hoặc dì cả. Không ai nói về cô gái. Cuối cùng cậu chúc họ một buổi tối tốt lành rồi trở ngược về lại nhà ngựa, nằm trên võng nhưng cậu không có cách nào để biết giờ. Cậu đứng dậy và đi đến ngôi nhà, gõ cửa nhà bếp.

Cậu đợi và lại gõ cửa. Khi Maria mở cửa để cậu bước vào, cậu biết rằng Carlos vừa mới rời khỏi phòng. Bà nhìn vào chiếc đồng hồ trên tường phía trên bồn rửa chén.

- Cậu ăn gì chưa? - Bà ta nói.

- Chưa.

- Ngồi đi. Còn thời giờ mà.

Cậu ngồi ở bàn và bà ấy làm cho cậu một đĩa cừu nướng với nước chấm thịt ướp, đặt lên lò để hâm nóng rồi vài phút sau bà mang lại cho cậu cùng một tách cà phê. Bà rửa hết chén đĩa ở chậu rửa và còn một ít thời gian trước khi đến mười giờ, bà lau khô hai bàn tay trên chiếc tạp dề rồi đi ra ngoài. Khi quay lại, bà đứng ở cửa. Cậu đứng dậy.

- Bà ấy đang ở phòng khách đấy. - Bà nói.

- Cảm ơn.

Cậu bước dọc theo hành lang đến phòng khách. Bà đang đứng một cách trang trọng trong bộ y phục lịch lãm khiến cho cậu phải lo sợ. Bà bước ngang qua phòng, ngồi xuống và gật đầu về cái ghế đối diện.

- Mời ngồi xuống.

Cậu bước chậm rãi qua mặt thảm hoa văn và ngồi xuống. Phía sau bà, trên bức tường là một bức thảm thêu lớn vẽ về cuộc trò chuyện giữa hai người cưỡi ngựa trên con đường trong một khung cảnh giờ đã không còn nữa. Phía bên trên cánh cửa đôi dẫn vào phòng đọc là cái đầu của một con bò đực đã mất một tai.

- Hector nói rằng cậu sẽ không về lại đây. Ta quả quyết ông ấy sai.

- Khi nào ông ấy về lại?

- Ông ấy sẽ không trở lại trong một thời gian. Trong bất kỳ tình huống nào ông ấy sẽ không gặp cậu.

- Cháu nghĩ cháu còn nợ một lời giải thích.

- Ta nghĩ mọi chuyện đã được giải thích có lợi cho cậu. Cậu là một nỗi tuyệt vọng lớn cho cháu trai ta và là một khoản chi đáng kể cho ta.

- Không phản đối, thưa bà, nhưng bản thân cháu đã gặp một ít phiền toái.

- Các viên chức đã một lần đến đây, cậu biết đấy. Cháu trai ta đã không tiếp họ cho đến khi ông ấy có thể tiến hành một cuộc điều tra. Ông ấy hoàn toàn tin rằng sự thật không phải như vậy. Hoàn toàn tin tưởng.

- Tại sao ông ấy không nói gì với cháu.

- Ông ấy truyền lời đến vị cai ngục. Nếu không thì cậu sẽ bị tống đi ngay lập tức. Ông ấy muốn có cuộc điều tra riêng. Ta nghĩ cậu có thể hiểu rằng tên cai ngục sẽ lưỡng lự khi thông báo với mọi người trước khi bắt họ.

- Lẽ ra cháu phải được phép kể về vấn đề này.

- Cậu đã nói dối ông ấy hai lần. Tại sao ông ấy lại không chắc rằng cậu sẽ nói dối lần thứ ba?

- Cháu chưa bao giờ nói dối ông ấy.

- Chuyện con ngựa bị đánh cắp được biết ở đây thậm chí trước khi cậu đến. Những tên trộm là người Mỹ. Khi ông ấy hỏi cậu về chuyện này cậu lại chối mọi thứ. Vài tháng sau, bạn của cậu trở lại thị trấn Encantada và thực hiện vụ giết người. Nạn nhân là một sĩ quan của tiểu bang. Không ai có thể chối cãi sự thật này.

- Khi nào ông ấy trở lại?

- Ông ấy sẽ không gặp cậu.

- Bà nghĩ cháu là tội phạm.

- Ta sắp tin rằng một vài tình huống nào đó hẳn đã được dàn xếp chống lại cậu. Nhưng cái gì đã làm rối thì không thể tháo gỡ được.

- Tại sao bà trả tiền để cháu được ra tù?

- Ta nghĩ cậu biết vì sao rồi.

- Bởi vì Alejandra.

- Phải.

- Và cô ấy có cái gì để đáp trả?

- Ta nghĩ cậu cũng biết điều đó.

- Và cô ấy cũng không muốn gặp cháu.

- Phải.

Cậu ngả người ra sau trên chiếc ghế và nhìn chằm chằm vào bức tường phía sau bà ấy. Vào tấm thảm thêu, vào chiếc lọ trang trí màu xanh bên trên mặt tủ làm bằng gỗ óc chó được in hoa.

- Ta không thể nào có thể đếm trên hai bàn tay mình số phụ nữ trong gia đình này đã từng hứng chịu những cuộc tình bi thảm với những người đàn ông mang tai tiếng. Dĩ nhiên thời gian đã khiến vài người đàn ông này tự cải huấn thành những nhà cách mạng. Chị gái ta Matilde bị góa hai lần ở độ tuổi hai mươi mốt, hai người chồng đều bị bắn chết. Đại loại như vậy. Người phạm tội hai chồng. Họ không muốn giữ mãi ý niệm về dòng máu bị vấy bẩn. Một lời nguyền rủa cho gia đình. Nhưng không, nó sẽ không gặp cậu.

- Bà đã áp đặt cô ấy.

- Ta hài lòng vì ở trong một vị thế thuận lợi.

- Đừng bảo cháu phải cảm ơn bà.

- Ta sẽ không làm thế.

- Bà không có quyền. Lẽ ra bà nên để cháu lại đây.

- Cậu sẽ chết.

- Vậy thì cháu sẽ chết.

Họ ngồi trong thinh lặng. Tiếng đồng hồ trong gian phòng lớn gõ đều.

- Chúng ta nhất trí rằng cậu sẽ có một con ngựa. Ta sẽ giao Antonio giám sát việc chọn lựa. Cậu có tiền không?

Cậu nhìn bà ấy. Cháu nghĩ những thất vọng trong cuộc đời của bà lẽ ra sẽ khiến bà trở nên cảm thông hơn với những người khác.

- Có thể cậu đã nghĩ sai.

- Cháu đoán như vậy.

- Những khó khăn trong cuộc sống sẽ khiến cho con người trở nên khoan dung hơn không phải là trải nghiệm của ta.

- Cháu nghĩ điều đó phụ thuộc vào từng người.

- Cậu nghĩ cậu biết một điều gì đó về cuộc đời ta. Một bà già mà quá khứ có lẽ đã để lại nỗi đắng cay. Ghen tuông về hạnh phúc của những người khác. Đó là điều bình thường. Nhưng không phải là câu chuyện của ta. Ta đưa nguyên do của cậu ra bất chấp cơn thịnh nộ ác liệt nhất từ phía mẹ của Alejandra - người mà thật đáng tiếc cậu chưa bao giờ gặp. Điều đó có khiến cậu ngạc nhiên không?

- Có.

- Có. Nếu bà ấy là một người bình thường có lẽ ta sẽ không ủng hộ cậu. Ta không phải là người thuộc tầng lớp thượng lưu. Những xã hội mà ta sống dường như cũng chỉ là những cỗ máy đàn áp phụ nữ. Xã hội rất quan trọng ở Mexico. Nơi phụ nữ thậm chí không được quyền bỏ phiếu. Ở Mexico họ cuồng nhiệt với xã hội và chính trị nhưng lại rất tồi ở hai thứ này. Gia đình ta được coi là thành phần cấp thấp ở đây, nhưng sự cuồng nhiệt của người Tây Ban Nha thì không khác lắm với sự cuồng nhiệt của người châu Âu sống ở châu Mỹ. Bi kịch chính trị ở Tây Ban Nha được kể lại đầy đủ hai mươi năm về trước trên mảnh đất Mexico. Cho những người có mắt để chứng kiến. Không có gì là giống nhau cả và rồi mọi thứ. Trong sâu thẳm của một người Tây Ban Nha là sự khao khát tự do, nhưng chỉ là riêng anh ta. Một lòng yêu mến sự thật và danh dự trong tất cả những hình thức của nó chứ không phải trong bản chất của nó. Và một niềm tin sâu sắc rằng không có gì có thể chứng minh ngoại trừ phải đổ

máu. Những trinh nữ, bò, đàn ông. Cuối cùng là chính Chúa. Khi nhìn vào cháu gái ta, ta thấy một đứa trẻ. Và rồi ta biết rất rõ ta là ai và như thế nào trong lứa tuổi của nó. Trong một cuộc đời khác có thể ta là một nữ chiến binh. Có thể nó cũng vậy. Và ta sẽ không bao giờ biết cuộc đời nó như thế nào. Nếu có một khuôn mẫu ở đó tự nó không định hình thành bất cứ thứ gì mà đôi mắt này có thể nhận ra. Bởi vì ta luôn phân vân rằng liệu hình thù mà chúng ta nhìn thấy trong cuộc đời của chúng ta đã hiện hữu ở đó ngay từ lúc ban đầu hay liệu những biến cố ngẫu nhiên này chỉ được gọi là một khuôn mẫu sau sự thật đó. Bởi vì ngược lại chúng ta chẳng là gì cả. Cậu có tin vào số phận không?

- Có, thưa bà. Cháu nghĩ là có.

- Cha ta có một cảm nhận rất mạnh về sự liên hệ giữa các sự vật. Ta không chắc là mình có thể chia sẻ điều đó. Ông cho rằng trách nhiệm về một quyết định không bao giờ có thể bỏ mặc cho một thế lực vô hình mà chỉ có thể là quyết định của chính con người vốn dĩ ngày một xa rời với những hậu quả của chúng. Một ví dụ mà ông đưa ra là về một đồng kẽm trong xưởng đúc và về người thợ cầm lấy đồng kẽm đó từ cái khay và đặt nó vào trong cái khuôn đúc rập theo một trong hai cách, và từ tác động đó tất cả, sấp hay ngửa. Cho dù có bao nhiêu lần tung đồng kẽm thì rốt cuộc cũng đến lượt chúng ta, và rồi sẽ qua đi.

Bà mỉm cười. Yếu ớt. Ngắn ngủi.

- Đó là một kiểu lý lẽ ngớ ngẩn. Nhưng một người nhỏ bé ẩn khuất ở chiếc ghế dài đó vẫn còn ở trong ta. Ta nghĩ nếu đó là số phận vốn chế ngự dòng họ chúng ta, có lẽ nó được tâng bốc hoặc biện luận chặt chẽ. Nhưng người thợ đúc không thể. Hướng đôi mắt đáng thương của ông qua cặp mắt kính xám xịt vào những thẻ kim loại ẩn khuất trước mặt ông. Đưa ra lựa chọn của mình. Có lẽ lưỡng lự một chốc. Trong khi đó số phận của những thế giới bí ẩn đi đến kết quả chung cuộc. Cha ta hẳn đã nhìn thấy trong câu chuyện ngụ ngôn này. Đối với ta, thế giới luôn chỉ là một màn múa rối. Nhưng khi người ta nhìn ra phía sau bức màn và lần theo những sợi dây hướng lên trên anh ta sẽ nhìn thấy chúng kết thúc trong tay của những con rối khác, chính chúng với những sợi dây kéo riêng của mình và lần lên trên nữa, cứ thế luân phiên. Trong cuộc đời ta, ta đã từng nhìn thấy những sợi dây có nguồn gốc vô tận tạo ra những cái chết của những con người vĩ đại trong bạo lực và điên loạn. Hủy hoại cả một quốc gia. Ta sẽ cho cậu biết về Mexico. Nó đã từng như thế nào và rồi sẽ ra sao. Cậu sẽ hiểu rằng những điều khiến ta thiên về phía cậu cuối cùng lại đưa ta đến quyết định chống lại cậu.

- Khi ta còn là thiếu nữ, đất nước này nghèo đói khủng khiếp lắm. Những gì cậu nhìn thấy hôm nay thậm chí không thể gợi lên được điều gì. Và ta đã bị ảnh hưởng bởi điều này. Trong những thị trấn có những cửa hiệu chuyên cho nông dân thuê quần áo để đi chợ. Bởi vì họ không có quần áo riêng, họ thuê chúng suốt cả ngày và trở về nhà lúc trời tối trong những tấm chăn cuốn lại hoặc quần áo rách. Họ chẳng có gì. Mọi đồng xu mà họ có thể cóp nhặt được đều đổ vào những nghi lễ an táng. Một gia đình bình thường chẳng sở hữu vật gì mà do máy móc làm ra ngoại trừ một con dao nhà bếp. Chẳng có gì cả. Không bao giờ. Trong những thị trấn đó cậu sẽ nhìn thấy họ bán những thứ vốn chẳng có giá trị gì. Một con bu lông rơi xuống đường từ chiếc xe tải hoặc một bộ phận bị ăn mòn nào đó của chiếc máy mà chẳng ai biết được giá trị của nó. Những thứ đại loại như thế. Những điều thật lầm lì. Họ tin rằng một ai đó hẳn có thể đang tìm đến những vật này và sẽ biết cách để định giá chúng chỉ khi người đó được tìm thấy. Đó là một niềm tin mà không có sự thất vọng nào có thể lay chuyển. Họ có được điều gì? Họ sẽ từ bỏ nó vì điều gì khác? Thế giới công nghiệp đối với họ là một điều không thể tưởng tượng được và những người cư ngụ trên đó hoàn toàn xa lạ với họ. Song họ không khờ khạo. Không bao giờ là khờ khạo cả. Cậu có thể nhìn thấy điều đó ở những đứa trẻ. Sự thông minh của chúng là đáng gờm. Và chúng có một sự tự do mà chúng ta phải ghen tị. Có một ít ràng buộc lên chúng. Và một vài mong mỏi. Rồi đến độ tuổi mười một hoặc mười hai chúng không còn là trẻ con nữa. Chúng đánh mất thời thơ ấu của chúng chỉ trong một đêm và chúng chẳng có tuổi trẻ. Chúng trở nên già dặn. Như thể một sự thật kinh khủng nào đó đến với chúng. Một tương lai khủng khiếp. Tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời, chúng đã tỉnh hồn trong chốc lát và ta hoang mang bởi điều này nhưng dĩ nhiên ta không thể biết họ đã nhìn thấy điều gì. Họ đã biết được điều gì.

Đến lúc mười sáu tuổi, ta đã đọc qua nhiều cuốn sách và trở thành một người có tư tưởng độc lập. Trong tất cả các trường hợp, ta không tin vào một đấng Chúa có thể cho phép sự bất công mà ta đã nhìn thấy trong cái thế giới do chính Người dựng nên. Ta là người rất duy tâm. Rất thẳng thắn. Cha mẹ ta phải kinh khiếp. Rồi vào mùa hè khi lên mười bảy, cuộc đời ta thay đổi mãi mãi.

Trong gia đình của Francisco Madero có mười ba đứa trẻ và ta có nhiều bạn bè chung với họ. Rafaela hơn kém ta chỉ chừng ba ngày tuổi và chúng ta rất thân với nhau. Thân hơn nhiều so với những đứa con gái của Carranza. Chúng ta thông cảm với gia đình họ. Cậu hiểu chứ? Không có từ để diễn đạt. Gia đình này đã tổ chức lễ sinh nhật lần thứ mười bảy của ta tại Rosario. Cũng trong năm đó, Don Evaristo đưa nhóm chúng ta đến California. Tất cả những cô gái trẻ ở những trang trại. Từ Parras và Torreon. Ông ấy khá lớn tuổi thậm chí vào thời kỳ đó và ta kinh ngạc trước dũng khí của ông ấy. Nhưng ông là một người thật kỳ diệu. Ông phục vụ một nhiệm kỳ thống đốc ở tiểu bang, ông là một người giàu có và rất yêu mến ta và không hề phản bác kiểu triết lý của ta. Ta thích đi đến Rosario. Vào những ngày ấy, cuộc sống ở trang trại có vẻ thoáng hơn nhiều. Những bữa tiệc công phu được tổ chức với dàn nhạc và sâm banh và thường có những vị khách châu Âu, và những sự kiện như thế thường kéo dài đến tận hừng sáng. Một điều khiến ta ngạc nhiên là ta cảm thấy mình rất được yêu mến và rất có thể ta đã được chữa trị khỏi tính đa cảm thái quá ngoại trừ hai điều. Điều đầu tiên là việc trở lại của hai anh em cả, Francisco và Gustavo.

Họ học ở Pháp được năm năm. Trước đó họ học ở Mỹ. Ở California và Baltimore. Khi ta được giới thiệu đến họ, đối với những người bạn cũ, đó gần như là một gia đình. Song ký ức của ta về họ là ký ức của một đứa trẻ và đối với họ, ta hẳn là một điều gì đó hoàn toàn bí ẩn.

Francisco là người anh cả vốn có một vị trí đặc biệt trong nhà. Có một chiếc bàn phía dưới cánh cổng, nơi ông ngồi đàm luận với bạn bè. Vào mùa thu năm đó, ta nhiều lần được mời đến ngôi nhà này và chính trong ngôi nhà đó, lần đầu tiên ta nghe sự biểu lộ đầy đủ về những điều gần gũi nhất với cõi lòng ta. Ta bắt đầu nhìn thấy thế giới này phải trở nên ra sao nếu ta phải sống trong đó.

Francisco bắt đầu xây dựng trường học cho những trẻ em nghèo của địa hạt. Ông phân phối thuốc men. Sau đó ông nuôi hàng trăm người từ cái nhà bếp của mình. Thật không dễ để chuyển tải sự phấn khích trong thời kỳ đó cho những người hôm nay. Nhiều người bị cuốn hút mạnh mẽ về phía Francisco. Họ cảm thấy thú vị khi đồng hành cùng ông ấy. Vào lúc đó không ai nói về việc ông theo con đường chính trị. Đơn giản là ông chỉ cố thực thi những ý tưởng mà ông đã khám phá. Khiến cho chúng trở thành hiện thực trong cuộc sống hàng ngày. Những người từ Mexico bắt đầu đến gặp ông. Trong mọi cam kết, ông đều được Gustavo ủng hộ.

Ta không chắc cậu có thể hiểu điều ta đang nói không. Ta mười bảy tuổi và đối với ta, đất nước này chẳng khác một chiếc bình hiếm hoi được mang đây đó bởi một đứa trẻ. Có một dòng điện trong không khí. Mọi thứ dường như có thể. Ta nghĩ có hàng ngàn người như chúng ta. Còn với Francisco. Gustavo. Không có. Cuối cùng dường như chẳng có gì.

Gustavo mang một con mắt nhân tạo do hậu quả của một tai nạn khi ông còn là một đứa trẻ. Điều này vẫn không làm giảm đi sự hấp dẫn của ông đối với ta. Ta nghĩ có lẽ ngược lại. Chắc chắn không có người bạn nào ta thích bằng ông ấy. Ông cho ta sách để đọc. Chúng ta nói chuyện hàng giờ đồng hồ. Ông rất thực tế. Hơn nhiều so với Francisco. Ông không có sở thích về điều huyền bí như Francisco. Ông luôn nói về những điều hệ trọng. Rồi mùa thu năm đó ta cùng với cha và chú ta đến một trang trại ở San Luis Potosi và ở đó ta đã bị tai nạn ở bàn tay mà ta đã nói rồi đó.

Đối với một thằng bé đây sẽ là một hậu quả. Còn với một cô gái đó là một sự hủy hoại. Ta sẽ không xuất hiện trước nhiều người. Thậm chí ta tưởng tượng mình đã nhìn thấy một sự thay đổi ở cha đối với ta. Rằng ông không thể giúp gì được mà chỉ nhìn ta như một cái gì đó bị biến dạng. Ta cho rằng lúc ấy ta không thể có được một cuộc hôn nhân tốt đẹp và có lẽ nó đã được thừa nhận như vậy. Thậm chí cũng chẳng còn nữa một ngón tay để đặt chiếc nhẫn vào. Ta được đối xử rất nhã nhặn. Có lẽ giống như một người trở về nhà từ một tổ chức nào đó. Ta mong sao với tất cả cõi lòng mình rằng thà ta được sinh ra giữa những người nghèo nơi những điều như vậy dễ dàng được chấp nhận hơn. Trong tình trạng này ta chỉ đợi chờ tuổi già và chết.

Vài tháng trôi qua. Rồi một ngày trước lễ Giáng Sinh, Gustavo đến thăm ta. Ta hoảng sợ. Ta bảo chị ta nài ông ấy đi khuất giùm. Nhưng ông ấy không đi. Khi cha ta trở về nhà rất muộn trong đêm đó, ông sửng sốt thấy Gustavo ngồi trong phòng khách một mình với chiếc mũ trên đùi. Ông bước vào phòng ta để nói chuyện. Ta bịt tai lại. Ta không nhớ điều gì đã xảy ra. Chỉ biết rằng Gustavo vẫn còn ngồi đó. Ông ta ở lại đêm đó trong phòng khách như một người phụ việc. Ở đây. Trong ngôi nhà này.

Ngày hôm sau, cha ta rất giận ta. Ta không muốn kể cho cậu về cảnh tượng xảy ra sau đó. Ta chắc rằng tiếng gào thét giận dữ và đau khổ của ta đã đến tai của Gustavo. Nhưng tất nhiên ta không phản đối ý muốn của cha ta và cuối cùng ta đã xuất hiện. Dù sao thì lúc ấy ta ăn mặc khá lịch sự. Ta cố đặt cái khăn tay lên bàn tay trái của ta làm sao để che đi điểm dị biệt của mình. Gustavo đứng dậy và nhìn ta mỉm cười. Chúng ta rảo bước trong khu vườn. Vào những ngày đó khu vườn được chăm sóc khá tốt. Ông nói với ta về những dự định của ông. Về công việc. Ông cho ta biết tin về Francisco và Rafaela. Những người bạn của ta. Ông cư xử với ta không một chút khác biệt so với trước đây. Ông kể cho ta nghe cách ông bị mất một con mắt và về sự tàn nhẫn của những đứa trẻ ở trường học của ông, và ông kể cho ta nghe những điều mà ông chưa bao giờ kể cho bất cứ ai, kể cả Francisco. Bởi vì ông cho rằng ta hiểu được.

Ông kể về những chuyện mà chúng ta thường xuyên nói đến ở Rosario. Rất thường và xa đến tận đêm tối. Ông nói rằng những người đã hứng chịu một điều không may nào đó luôn luôn sẽ bị cô lập nhưng chính điều không may đó vốn dĩ là món quà của họ và là sức mạnh của họ, và họ phải vạch con đường của mình để quay trở về với sự táo bạo vốn có của con người mà không có nó họ sẽ chẳng hề tiến lên được và tự họ phải chết dần chết mòn trong sự đắng cay. Ông nói những điều đó một cách hết sức thiết tha và dịu dàng. Trong ánh sáng phát ra từ cửa cổng, ta thấy ông đang khóc và ta biết rằng ông khóc vì tâm hồn của ta. Ta chưa bao giờ được quý mến như vậy. Có một người tự đặt mình trong vị trí như thế. Ta không biết phải nói gì. Đêm đó ta suy nghĩ rất lâu và không một chút thất vọng về cái phải hình thành từ trong ta. Ta rất muốn là một người có giá trị và ta tự hỏi làm thế nào điều này có thể nếu không có một điều gì đó như linh hồn hoặc một tinh thần nào đó trong cuộc sống của một con người và nó có thể chịu đựng bất kỳ sự rủi ro hoặc dị dạng nào. Nếu họ là một người có giá trị mà giá trị không thể là một điều kiện phụ thuộc vào những rủi ro của số phận. Nó phải là một phẩm chất mà không thể thay đổi được. Dù là gì đi nữa. Rất lâu trước khi trời sáng ta biết rằng điều mà ta đang tìm kiếm để khám phá là một điều mà ta luôn biết đến. Rằng tất cả sự dũng khí là hình thức của sự kiên trì. Rằng chính ông ấy mà kẻ hèn nhát đã từ bỏ trước hết. Sau đó tất cả sự bội phản khác đều theo sau một cách dễ dàng.

Ta biết rằng dũng khí đến với một số người dễ dàng hơn đến với những kẻ khác nhưng ta tin rằng bất cứ ai khao khát đều có thể có được nó. Sự khao khát đó chính là một điều như vậy. Chính là điều đó. Ta không thể nghĩ về bất cứ thứ gì khác mà sự thật không đến từ đó.

Vẫn còn rất nhiều điều phụ thuộc vào vận may. Trong những năm sau đó ta đã hiểu Gustavo hẳn đã phải quyết tâm đến mức nào để nói chuyện với ta. Bước vào nhà của cha ta theo cách như vậy. Không bị nản lòng bởi bất kỳ suy nghĩ từ bỏ hoặc giễu cợt nào. Trên tất cả những gì mà ta hiểu là món quà của ông ấy dành cho ta thậm chí không phải là những lời nói. Cái tin mà ông đã mang lại ông không thể nói ra. Nhưng chính từ ngày đó ta bắt đầu yêu người đàn ông vốn đã mang cho ta cái tin đó và mặc dù ông qua đời đến nay đã gần bốn mươi năm rồi nhưng những cảm xúc đó vẫn không thay đổi.

Bà lấy chiếc khăn tay ra từ vạt tay áo và chấm chấm vào hàng mi dưới mắt. Bà ngước nhìn lên.

- Được rồi, cậu biết đấy. Dù sao cậu cũng khá kiên nhẫn. Phần còn lại của câu chuyện không khó tưởng tượng khi mà sự thật đã được biết đến. Trong những tháng tiếp theo, tinh thần cải cách trong ta đã được nhóm lên và những khía cạnh chính trị trong các hoạt động của Francisco Madero đã trở nên hiển nhiên hơn. Khi ông trở thành tâm điểm của sự chú ý, kẻ thù trỗi dậy và tên ông chẳng bao lâu đến tai của nhà độc tài Diaz. Francisco bị ép phải bán tài sản mà ông sở hữu ở Australia để bảo trợ cho những lời hứa của mình. Rất lâu trước khi ông bị bắt. Sau đó ông chạy trốn đến Mỹ. Sự quyết tâm của ông không bao giờ bị từ bỏ, và trong những năm đó rất ít người có thể đã đoán được rằng ông ấy sẽ trở thành

Tổng thống Mexico. Khi ông và Gustavo trở về, họ đem theo súng. Cuộc cách mạng bắt đầu.

Trong thời gian đó, ta được gửi đi châu Âu và ta đã ở lại đó. Cha ta rất thẳng thắn trong quan điểm của ông liên quan đến trách nhiệm của giai cấp địa chủ. Nhưng cuộc cách mạng là một vấn đề hoàn toàn khác, ông ấy không mang ta về nhà trừ khi ta hứa phải tách khỏi dòng họ Maderos và điều này ta không làm được. Gustavo và ta chưa bao giờ đính hôn. Những bức thư ông ấy gửi cho ta ngày càng thưa dần. Và rồi chúng dừng lại. Cuối cùng ta được biết ông ấy đã lập gia đình. Lúc ấy ta không trách ông ấy cũng như lúc này. Có những tháng trong cuộc cách mạng đó khi toàn bộ chiến dịch được tài trợ từ tiền túi của ông ấy. Từng viên đạn. Mỗi mẩu bánh mì. Khi Diaz cuối cùng buộc phải trốn chạy và một cuộc bầu cử tự do được tổ chức, và Francisco trở thành Tổng thống đầu tiên của nước cộng hòa này lên nắm quyền. Và là người cuối cùng.

Ta sẽ kể cho cậu nghe về Mexico. Ta sẽ kể cho cậu nghe những gì đã xảy ra cho những người đàn ông dũng cảm, tốt bụng và danh giá này. Khoảng thời gian đó, ta đang dạy học ở London. Chị gái đến sống chung với ta cho đến mùa hè. Chị ấy nài nỉ ta trở về cùng chị ấy nhưng ta không chịu. Ta rất hãnh diện. Rất bướng bỉnh. Ta không thể tha thứ cha ta vì sự mù quáng chính trị của ông hoặc cách đối xử của ông đối với ta.

Quanh Francisco Madero toàn những kẻ bày mưu tính kế kể từ ngày đầu tiên nhận nhiệm sở. Sự tín cậy của ông vào lòng tốt cơ bản của con người đã trở thành sự hủy hoại của ông. Có lần Gustavo đã mang Tướng Huerta đến với ông trước mũi súng và tố cáo ông ta là kẻ phản bội nhưng Francisco không nghe và phục hồi vị thế của ông. Huerta. Một tên giết người. Một con thú. Lúc ấy là vào tháng hai năm 1913. Một cuộc đấu tranh vũ trang nổi dậy. Dĩ nhiên Huerta là kẻ tòng phạm bí mật. Khi rời nhiệm sở, hắn đã đầu hàng quân phản loạn và lãnh đạo chúng chống lại chính quyền. Gustavo bị bắt. Rồi đến Francisco và Pino Suarez. Gustavo được trao trả cho đám đông ở sân trong nội thành. Họ bao quanh ông với đèn và đuốc. Họ lăng mạ và tra tấn ông, gọi ông là Ojo Parado. Khi ông xin được tha thứ vì vợ và con cái họ gọi ông là thằng hèn nhát. Gustavo, một thằng hèn. Họ xô, đẩy và đánh ông ấy. Họ thiêu sống ông. Khi ông van xin họ một lần nữa dừng tay, thì một người trong đám đông đó bước đến với cây cuốc chim và móc vào con mắt còn lại của ông; ông lảo đảo rên rỉ trong bóng đêm và chẳng nói gì nữa. Một người nào đó bước đến với khẩu súng lục ổ quay, đặt vào đầu ông rồi bóp cò nhưng đám đông bấu víu cánh tay ông và phát đạn xé rách cái hàm của ông. Ông ngã quỵ xuống chân bức tượng Morelos. Cuối cùng một loạt đạn súng trường tỉa vào ông. Ông được tuyên bố là đã chết. Một gã say rượu trong đám đông nhào tới và tiếp tục bắn vào ông. Họ đá vào cái xác và phun nước bọt lên đó. Một trong số họ móc con mắt giả của ông ra và chuyển cho nhau xem giữa đám đông như một sự hiếu kỳ.

Họ ngồi trong thinh lặng, chiếc đồng hồ gõ tích tắc. Sau một hồi, bà ngước mắt nhìn lên.

- Thế đấy. Đây là cộng đồng mà ông ấy đã nói đến. Cậu bé đẹp trai này. Ai đã ban phát mọi thứ.

- Điều gì đã xảy đến cho Francisco?

- Ông ấy và Pino Suarez được đưa ra phía sau nhà lao và bắn. Không có kiểm chứng nào về lời nói cay độc của bọn giết người để khẳng định rằng họ bị bắn chết trong lúc cố đào tẩu. Mẹ của Francisco đã gửi một bức điện đến Tổng thống Taft nhờ ông can thiệp để cứu mạng sống con trai bà. Đích thân Sara chuyển bức thư đến viên đại sứ tại Đại Sứ Quán Hoa Kỳ. Có khả năng là bức điện không bao giờ được chuyển. Cả gia đình phải lưu vong. Họ đến Cuba. Đến Mỹ. Đến Pháp. Người ta đồn rằng họ thuộc dòng giống Do Thái. Có thể là đúng. Họ rất thông minh. Đối với ta dường như vận mệnh của họ ít ra cũng như vận mệnh của người Do Thái. Một cộng đồng Do Thái hiện đại. Hy sinh vì đạo nghĩa. Sự ngược đãi. Lưu đày. Sara hiện đang sống ở Colonia Roma. Bà ấy có cháu ngoại. Chúng ta hiếm khi gặp nhau như chúng ta luôn sẻ chia tình chị em một cách kín đáo. Tối đó trong khu vườn tại ngôi nhà của cha ta, Gustavo nói ta rằng những ai đã từng chịu đựng nhiều về sự mất mát hoặc đau thương sẽ được liên kết lại với nhau bằng sợi dây ràng buộc của một uy lực đặc biệt và điều đó đã thể hiện đúng như vậy. Những ràng buộc gắn nhất mà chúng ta từng biết đến là những ràng buộc về nỗi thống khổ. Một sự ràng buộc cộng đồng sâu sắc nhất về sự buồn phiền. Ta không trở lại châu Âu cho đến khi cha ta qua đời. Lúc này ta hối tiếc là mình đã không hiểu ông nhiều hơn. Ta nghĩ theo nhiều cách rằng ông cũng không thích hợp với cuộc đời mà ông đã chọn. Hoặc cuộc đời đã chọn ông. Có thể tất cả chúng ta đều như vậy. Ông từng đọc sách về nghề làm vườn. Trong sa mạc này. Ông đã từng canh tác sợi bông ở đây và ông có lẽ đã rất hài lòng khi nhìn thấy sự thành công mà ông đã tạo dựng. Những năm sau ta mới nhận thấy giữa ông và Gustavo mới

giống nhau làm sao. Người không bao giờ là một người lính. Ta nghĩ họ không hiểu về Mexico. Cũng như cha ta, ông ấy ghét đổ máu và bạo lực. Nhưng có lẽ ông cũng không cay cú nó lắm. Francisco là người bị đánh lừa nghiệt ngã nhất trong tất cả. Ông không bao giờ thích hợp với chức vị tổng thống của Mexico, ngay cả khi là một người Mexico. Cuối cùng tất cả chúng ta được giải thoát khỏi những quan điểm của mình. Những ai mà cuộc đời không cứu chữa sẽ đón nhận cái chết. Thế giới này thật tàn nhẫn trong việc lựa chọn giữa giấc mơ và hiện thực, ngay cả nơi chúng ta không hiện hữu. Giữa ước mơ và cái mà thế giới đang đợi. Ta nghĩ rất nhiều về cuộc đời ta và về đất nước ta. Ta nghĩ có rất ít sự thật được biết đến. Gia đình ta thật may mắn. Những gia đình khác khó mà được như thế.

Khi ở trường ta học môn sinh vật. Ta hiểu rằng để tiến hành những cuộc thí nghiệm, các nhà khoa học thường lấy nhóm mẫu nào đó - vi trùng, chuột, người - và đưa nhóm đó vào những điều kiện nào đó. Họ so sánh kết quả với nhóm thứ hai vốn chưa được xáo trộn. Nhóm thứ hai này được gọi là nhóm đối chứng. Nhờ nhóm đối chứng này mà giúp cho các nhà khoa học xác định được kết quả của cuộc thí nghiệm. Để đánh giá ý nghĩa của những gì đã xảy ra. Trong lịch sử thì chẳng có nhóm đối chứng nào. Chẳng có ai nói với chúng ta điều gì đã xảy ra. Chúng ta khóc than vì điều xảy ra đó nhưng nó chẳng hề xảy ra. Không bao giờ có cả. Sự thật có lẽ là những ai không biết lịch sử thì buộc phải lập lại nó. Ta không tin sự hiểu biết có thể cứu rỗi chúng ta. Cái gì kiên định trong lịch sử đều là sự tham lam, khờ khạo và thích đổ máu và đây là điều mà ngay cả Chúa - Đấng hiểu hết mọi sự - dường như cũng không thể thay đổi được.

Cha ta được chôn cất cách chỗ ta ngồi đây chưa tới hai trăm mét. Ta thường đến đó và trò chuyện với ông ấy. Ta nói chuyện với ông ấy khi ta không thể làm gì cho cuộc đời. Ông ấy khiến ta trở thành kẻ lưu vong trong chính đất nước của ta đây. Đó cũng chẳng phải là ý định của ông ấy. Khi ta được sinh ra trong ngôi nhà này, ngôi nhà luôn đầy ắp những cuốn sách với năm ngôn ngữ. Và kể từ khi ta hiểu điều đó với tư cách là một phụ nữ thì thế giới đã hoàn toàn chối bỏ ta và ta đã chộp lấy một thế giới khác như thế này đây. Lúc ấy ta thường đọc sách. Ta đã đọc sách từ khi mới năm tuổi và không có ai lấy một cuốn sách khỏi tay ta. Không bao giờ cả. Rồi cha ta đưa ta đến hai trong những ngôi trường tốt nhất ở châu Âu. Với tất cả quyền bính và sự nghiêm nghị của mình, ông tỏ ra là một người tự do khỏi cái được coi là nguy hiểm nhất. Cậu nói về những thất vọng của ta. Nếu như vậy, chúng chỉ khiến cho ta trở nên liều lĩnh. Cháu gái ta là tương lai duy nhất mà ta dự tính và ta có thể dốc hết sức mình vào nơi mà nó quan tâm. Có thể rằng cuộc đời mà ta mong muốn cho nó thậm chí không còn tồn tại nữa, song ta biết cái mà nó đừng đả động đến. Rằng chẳng có gì để mất. Vào tháng giêng tới đây ta sẽ bảy mươi ba tuổi. Lúc ấy ta đã biết rất nhiều người và rất ít trong số họ có được cuộc sống ưng ý. Ta mong cháu gái ta có được một cuộc hôn nhân khác với cuộc hôn nhân mà xã hội đòi hỏi nó. Ta sẽ không chấp nhận một cuộc hôn nhân thông thường. Một lần nữa, ta biết cái mà nó không thể. Rằng không có gì để mất cả. Ta không biết cái loại thế giới nào mà nó sẽ sống và ta không chắc chắn về việc nó sẽ sống như thế nào trong đó. Ta chỉ biết rằng nếu nó không đánh giá đâu là sự chân chính với đâu là thực dụng thì có khác gì mấy là liệu nó có sống được hay không. Và chính bởi sự thật ta không ám chỉ thế nào là chính trực mà đơn giản là nó như vậy thôi. Cậu nghĩ ta từ chối sự đeo bám của cậu bởi vì cậu trẻ hoặc không có giáo dục hoặc đến từ một đất nước khác, nhưng không phải vậy. Ta không bao giờ chểnh mảng trong việc đầu độc tâm trí của Alejandra để chống lại tính kiêu ngạo của những người đeo đuổi và cả hai chúng ta từ lâu luôn ấp ủ ý niệm giải thoát cái vẻ ngoài mà nó đã lựa chọn. Nhưng ta cũng nói với cậu về một sự ngông cuồng nào đó trong dòng máu nữ giới thuộc gia đình này. Một điều gì đó ương ngạnh. Quá độ. Hiểu được điều này trong nó, lẽ ra ta đã cảnh giác hơn về thứ cậu đề cập đến. Lẽ ra ta nên hiểu cậu rõ hơn. Bây giờ ta mới biết.

- Bà không để cho cháu định đoạt trường hợp của cháu.

- Ta biết trường hợp của cậu. Một vài điều đã xảy ra mà cậu chẳng thể kiểm soát được.

- Đúng vậy.

- Ta chắc là như thế. Nhưng đó không phải là trường hợp. Ta không cảm thông với những người mà mọi sự xảy đến với họ. Có thể vận may của họ không tốt, nhưng điều đó có khi là có lợi cho họ?

- Cháu có ý định gặp cô ấy.

- Ta ngạc nhiên ư? Thậm chí ta còn cho phép cậu. Mặc dù đó dường như là điều mà cậu không bao giờ đòi hỏi. Nó sẽ không phá vỡ những cam kết của nó với ta. Cậu sẽ hiểu.

- Vâng, thưa bà.

Bà đứng dậy, vén chiếc váy ra phía sau và để nó rơi xuống và bà đưa bàn tay ra. Cậu đứng dậy và cầm lấy trong bàn tay của mình, rất nhanh, mảnh khảnh và ấn tượng.

- Rất tiếc là ta sẽ không gặp lại cậu. Ta cũng đã đau khổ khi kể cho cậu nghe về chính mình bởi vì trong những lý do khác, ta nghĩ chúng ta nên hiểu ai là kẻ thù của chúng ta. Ta đã từng biết nhiều người nuôi dưỡng cả đời sự thù hận về những ảo tưởng và họ không phải là những người hạnh phúc.

- Cháu không ghét bà.

- Cậu sẽ ghét ta.

- Để xem.

- Ừ. Chúng ta sẽ biết số phận nào dành sẵn cho chúng ta.

- Cháu tưởng bà không tin vào số phận.

Bà vẫy tay. - Không nhiều đến mức ta không tin vào nó. Ta không tin vào số phận. Nếu số phận là luật, vậy thì số phận cũng phụ thuộc vào luật đó? Tại một thời điểm nào đó chúng ta không thể thoát khỏi việc đặt tên cho trách nhiệm. Đó là bản chất của chúng ta. Thỉnh thoảng ta nghĩ tất cả chúng ta giống như gã thợ đúc cận thị tại khuôn đúc của mình, lấy từng đống kẽm ra khỏi chiếc khay, tất cả chúng ta cúi đầu một cách ganh tỵ, đinh ninh rằng sự hỗn loạn thậm chí cũng không nằm ngoài hành động riêng của chúng ta.

Vào buổi sáng cậu đi bộ đến nhà trại, ăn sáng cùng với những gã cao bồi và nói lời tạm biệt. Rồi cậu đi xuống phòng lão cai. Cậu và Antonio bước ra ngoài đến nhà ngựa, thắng yên và cưỡi ngựa qua bãi quây, quan sát bầy ngựa non. Cậu biết con mà cậu cần. Khi nó nhìn thấy họ, nó thở khịt khịt, ngoảnh mặt và bước nước kiệu. Đó là con grullo của Rawlins. Họ ném sợi thừng qua đầu nó và dẫn nó xuống bãi quây. Đến trưa cậu để con vật trong tình trạng khá tự do và dắt nó vòng quanh rồi cột nó ở chỗ mát. Con ngựa đã không được cưỡi trong nhiều tuần qua và nó hầu như chẳng biết cách để ăn ngũ cốc. Cậu đi bộ xuống ngôi nhà và chào tạm biệt bà Maria. Bà gói bữa ăn trưa cho cậu và trao một phong bì màu hồng với biểu tượng La Purisima được khắc nổi ở góc trên bên trái. Khi bước ra ngoài cậu mở ra và lấy số tiền đó nhét vào túi mà chẳng buồn đếm. Cậu gập bìa thư lại và nhét vào túi áo. Rồi cậu đi bộ qua những cây hồ đào pecan phía trước ngôi nhà nơi Antonio đứng đợi cùng với mấy con ngựa. Họ ôm chào nhau không nói một lời. Rồi cậu phóng lên lưng ngựa rẽ về phía con đường.

Cậu đi qua La Vega mà không xuống ngựa, con ngựa phóng như bay và tròn xoe đôi mắt trước tất cả những gì nó nhìn thấy. Khi một chiếc xe tải bắt đầu nổ máy trên đường và tiến về phía họ, con vật rền rĩ tuyệt vọng và cố rẽ sang một bên. Cậu kéo nó nằm xuống, vỗ nhẹ vào nó, nói chuyện liên hồi với nó cho đến khi chiếc xe đi ngang qua và rồi họ tiếp tục đi. Vừa lúc ra khỏi thị trấn cậu rời bỏ hẳn con đường đó và khởi hành ngang qua vùng đất bằng phẳng. Cậu băng ngang qua bãi biển đá vôi trắng xóa nơi lớp muối bị đè bẹp dưới những móng ngựa trông như lớp thạch bị giẫm lên và cậu đi qua những ngọn đồi đá với những cây datil còi cọc, đi qua một sườn dốc nhợt nhạt mọc đầy những đóa hoa thạch giống như cửa hang động mở ra đón nhận tia nắng mặt trời. Từ khoảng cách lờ mờ, những ngọn cây và túp lều dọc theo những khúc uốn mỏng manh của đảo băng mờ mờ, san sát và như chỉ có trong không khí buổi sáng trong lành. Con ngựa bước đi tự nhiên. Khi cưỡi, cậu thường trò chuyện với nó và kể cho nó nghe những điều về thế giới vốn thật trong kinh nghiệm của cậu. Cậu kể về những điều mà cậu cho là đúng. Cậu nói với con ngựa tại sao cậu yêu nó và tại sao cậu chọn nó là con ngựa của cậu và cậu nói rằng cậu sẽ không để bất cứ điều gì làm tổn hại đến nó.

Buổi trưa, cậu đi dọc theo con đường nông trại nơi những con kênh dẫn nước xuống theo bờ những cánh đồng in đầy dấu chân người. Cậu cho ngựa uống nước rồi dẫn nó lên và trở lại dưới bóng râm của lùm cây bông để làm mát cho nó. Cậu chia sẻ bữa trưa với những đứa trẻ chạy đến ngồi cạnh cậu. Một số chúng chưa bao giờ ăn bánh mì bột nở và chúng ngước mắt nhìn một gã già dặn hơn ở giữa chúng để hỏi về cách ăn như thế nào. Họ ngồi thành hàng dọc theo mép con đường, năm người trong số chúng, những phần sandwich với thịt heo xông khói từ trang trại được chuyển từ trái sang phải và chúng ăn rất trang nghiêm. Khi những mẩu sandwich đã hết, cậu dùng dao cắt những chiếc bánh tart nhân táo và ổi.

- Anh ở đâu? - Thằng lớn nhất hỏi.

Cậu trầm ngâm trước câu hỏi. Bọn trẻ đợi. - Anh từng sống ở một trang trại lớn. - Cậu kể cho bọn nhỏ. - Nhưng bây giờ anh không có nơi nào để đi về.

Bọn trẻ nhìn cậu với vẻ hết sức quan tâm. - Sống với bọn em đi. - Chúng nói. Cậu cảm ơn chúng và nói với chúng rằng cậu có người yêu đang sống ở một nơi khác và cậu trên đường đến đó để hỏi cưới nàng.

- Cô ấy có đẹp không? - Bọn chúng hỏi và cậu nói rằng nàng rất xinh đẹp và nàng có đôi mắt xanh mà chúng khó có thể tin được. Cậu còn cho chúng biết rằng cha nàng là một ông chủ giàu có, trong khi bản thân cậu rất nghèo và chúng lắng nghe trong thinh lặng và tỏ vẻ buồn bã vô cùng về sự kỳ vọng của cậu. Cô gái lớn tuổi nhất nói rằng nếu người yêu của cậu thật sự yêu cậu, nàng sẽ kết hôn với cậu. Nhưng chàng trai lại không nghĩ vậy và cậu nói rằng ngay cả với những gia đình giàu có, một cô gái cũng không thể đi ngược với những mong muốn của người cha. Cô gái nói rằng nên trao đổi với bà ngoại bởi vì bà là người rất quan trọng trong vấn đề này và rằng cậu nên tặng quà cho bà và cố thuyết phục bà đứng về phía mình bởi vì không có sự trợ giúp của bà khó mà mong mỏi được điều gì. Cô ấy nói rằng tất cả thế giới này đều biết đây là sự thật.

John Grady gật đầu trước sự khôn ngoan của lời khuyên đó nhưng cậu nói rằng cậu đã tấn công vào nơi mà bà già quan tâm và không thể mong chờ vào sự trợ giúp của bà. Lúc này một vài đứa trẻ dừng ăn và nhìn chằm chằm vào mặt đất trước mặt chúng.

- Đó là vấn đề. - Chàng trai nói.

- Đúng đấy.

Một trong những cô gái trẻ cúi người về trước. - Anh đã làm cho bà ấy khó chịu đến mức nào? - Cô ta nói.

- Đó là một câu chuyện dài. - Cậu nói.

- Còn thời gian mà. - Họ nói.

Cậu cười và nhìn chúng, và nếu thật sự có đủ thời gian, cậu sẽ kể cho chúng nghe về những điều đã xảy ra. Cậu kể cho chúng nghe cách họ đến đây từ một vùng đất khác, hai chàng trai trẻ, họ cưỡi ngựa của mình; và việc họ gặp một người thứ ba, anh ta chẳng có tiền cũng như thức ăn, ngay cả quần áo che thân cũng chỉ có một bộ và anh ta tham gia cùng với họ, chia sẻ cùng họ tất cả những gì họ có. Nó còn rất trẻ và nó cưỡi một con ngựa tuyệt vời nhưng giữa những nỗi sợ hãi của nó là việc Chúa sẽ giết chết nó bằng tia chớp và chính từ sự sợ hãi đó nó đã đánh mất con ngựa trên vùng đất hoang sơ. Rồi cậu kể cho chúng nghe về những chuyện đã xảy ra liên quan đến con ngựa và việc nó lấy lại con ngựa từ khu làng Encantada, việc nó giết chết một người đàn ông, cảnh sát đến trang trại bắt nó và bạn nó, rồi việc bà cả nộp tiền chuộc cho đến việc bà ta cấm cháu gái mình gặp mặt cậu.

Họ ngồi im lặng và cuối cùng cô gái nói rằng điều cậu phải làm là mang cậu bé về cho bà nó và nói với bà rằng cậu sẵn sàng nhận trách nhiệm. John Grady nói rằng điều này chẳng thể được vì chàng trai đã chết. Khi bọn trẻ nghe điều này chúng liền cầu trời và hôn vào những ngón tay chúng. Đứa lớn hơn nói rằng tình hình thật gay go nhưng cậu phải tìm một người trung gian để biện hộ cho cậu vì nếu bà có thể nhận ra rằng cậu không có gì đáng trách thì hẳn bà sẽ thay đổi suy nghĩ. Đứa con gái lớn hơn nói rằng nó đang quên mất vấn đề rằng gia đình kia thì giàu có và cậu thì nghèo. Cậu bé cãi rằng khi John đã có một con ngựa thì cậu không thể là quá nghèo và chúng nhìn John Grady để chờ một quyết định về vấn đề này. Cậu nói với chúng rằng trông bề ngoài vậy chứ cậu thật sự rất nghèo và chính con ngựa cậu có được cũng là do bà cho. Nghe vậy, vài đứa trong chúng thở dài và lắc đầu. Đứa con gái nói rằng cậu cần tìm một người khôn ngoan nào đó để có thể bàn luận về những khó khăn của mình hoặc có thể là một thầy phù thủy và đứa con gái nhỏ hơn nói rằng cậu nên cầu nguyện với Chúa.

Trời đã khuya và tối om khi cậu cưỡi ngựa vào Torreón. Cậu buộc dây vào cổ ngựa và cột nó trước một nhà nghỉ, đi vào và hỏi thuê một chuồng ngựa nhưng gã giúp việc chẳng biết gì về những thứ như thế. Gã nhìn ra cửa sổ trước mặt con ngựa, rồi lại nhìn chòng chọc John Grady.

- Anh có thể thả nó ra sân sau. - Gã nói.

- Ngoài kia?

- Vâng. Ngoài kia. - Gã ra hiệu về phía sau

John Grady nhìn về phía sau tòa nhà.

- Qua đâu? - Cậu hỏi.

Gã hầu phòng khách sạn nhún vai. Gã lướt tay qua bàn hướng về phía hành lang và nói: Qua đây.

Có một lão già ngồi trên chiếc ghế sofa trong hành lang đang nhìn ra ngoài cửa sổ, gã quay sang John Grady và bảo với cậu rằng chẳng hề gì, và rằng có những thứ tệ hại hơn bọn ngựa nhiều cũng đã đi qua hành lang đó. John Grady nhìn thẳng vào gã và đi ra ngoài tháo con ngựa dắt vào. Gã phụ việc dẫn cậu xuống hành lang và mở cánh cửa sau rồi đứng nhìn trong khi John Grady dẫn ngựa vào trong sân. Cậu mua một túi thóc nhỏ ở Tlahualilo và cho nước vào máng ngựa, dốc túi thóc vào cái nắp thùng rác lật ngược và tháo yên ngựa và nhúng ướt cái bao giẻ, lau mình ngựa, thắt yên vào và lấy chìa khóa phòng rồi đi ngủ.

Cậu thức dậy khi trời đã trưa. Cậu đã ngủ gần mười hai tiếng đồng hồ. Cậu đứng dậy, bước tới cửa sổ và nhìn ra khoảnh sân nhỏ đằng sau khách sạn. Con ngựa đang nhẫn nại thả bộ trong sân rào với ba đứa trẻ cưỡi lên, một đứa khác dắt nó và một đứa nữa nắm đuôi nó.

Cậu đứng xếp hàng gần hết buổi sáng tại tổng đài điện thoại chờ đến lượt mình tại một trong bốn máy và rốt cuộc cũng được gọi nhưng không gặp được nàng. Cậu ghi phiếu một lần nữa tại quầy thu tiền, cô gái đằng sau quầy kính đọc thấy nét mặt cậu và nói cậu sẽ may mắn hơn vào buổi chiều, và cậu đã chờ. Giọng một phụ nữ trả lời điện thoại và sai ai đó đi kiếm nàng. Cậu đợi. Khi đến bên điện thoại, nàng bảo nàng biết chắc hẳn là cậu gọi.

- Anh phải gặp em. - Cậu nói.

- Em không thể.

- Em phải gặp. Anh đang xuống đó.

- Không. Anh không thể.

- Anh ra đi hồi sáng. Anh đang ở Torreón.

- Anh có nói chuyện với dì em không?

- Có.

Nàng im lặng. Đoạn nàng nói: Em không thể gặp anh.

- Em có thể mà.

- Em sẽ không có ở đây. Em đến La Purísima trong hai ngày tới.

- Anh sẽ gặp em trên tàu.

- Đừng, anh. Antonio đang đến đây gặp em.

Cậu nhắm mắt, nắm chặt ống nghe và nói rằng cậu yêu cô, và rằng cô không có quyền hứa hẹn lời mà cô đang hứa hẹn cho dù họ có giết hắn, và rằng cậu sẽ không bỏ đi mà không gặp cô dẫu có phải là lần cuối cùng đi nữa. Cô im lặng hồi lâu đoạn bảo rằng cô sẽ đi sớm hơn một ngày. Rằng cô sẽ nói dì cô bệnh, để cô ra đi vào sáng mai và gặp cậu ở Zacatecas. Đoạn cô gác máy.

Cậu cho con ngựa ăn trong một cái chuồng ngoài khu người Tây Ban Nha nằm về phía nam của đường hỏa xa và dặn chủ chuồng hãy chăm sóc chu đáo con ngựa của cậu. Người đàn ông gật đầu và gọi cậu bé giúp việc để John Grady có thể trực tiếp dặn dò cậu ta. John Grady lôi cái yên vào phòng và treo lên. Cậu bé khóa cửa lại sau lưng John Grady và John bước trở về văn phòng.

Cậu đề nghị trả tiền trước nhưng lão chủ gạt đi bằng một cái phẩy tay nhẹ. Cậu rảo bước trong ánh mặt trời và xuống con đường nơi có thể đón xe buýt vào thị trấn.

Cậu mua một túi xách nhỏ đi đường trong một cửa hiệu và mua hai cái sơmi mới cùng một đôi giày ống. Cậu cuốc bộ tới ga tàu hỏa, mua vé, rồi đi ăn và uống cà phê. Cậu thơ thẩn một hồi trong đôi ủng và rồi trở về lại khách sạn. Cậu cuộn khẩu súng và con dao và quần áo cũ vào túi ngủ và sai gã hầu phòng cất túi vào kho và dặn gã đánh thức cậu dậy vào sáu giờ sáng, đoạn đi ngủ. Lúc ấy trời chỉ mới chạng vạng tối.

Trời mát mẻ và âm u khi cậu rời khách sạn vào buổi sáng và đến lúc cậu đã yên vị trên tàu thì có những đợt mưa tí tách trên cửa kính. Một thằng bé cùng chị gái ngồi hàng ghế đối diện cậu và sau khi đoàn tàu lăn bánh thì đứa bé hỏi cậu từ đâu đến và đang định đi đâu. Dường như họ không hề ngạc nhiên khi nghe nói cậu đến từ Texas. Khi người phục vụ toa gọi đi ăn điểm tâm, cậu mời họ cùng ăn với mình, nhưng thằng bé thấy ngượng và không chịu. Cậu cũng bối rối. Cậu ngồi trong toa ăn, ních một đĩa lớn Trứng tráng kiểu nông thôn và uống cà phê, và nhìn những cánh đồng xám xịt trôi qua ô cửa sổ đẫm nước. Trong đôi ủng và áo sơmi mới của mình, cậu bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn thời gian dài vừa qua và gánh nặng trên trái tim cậu đã bắt đầu cất khỏi và cậu lặp lại những lời cha cậu từng nói với cậu, rằng người sợ tiền thì không thể giàu và người hoang mang thì không thể yêu. Con tàu băng qua một vùng đất bằng gớm ghiếc chỉ mọc toàn xương rồng và tiến vào một rừng cọ rộng lớn. Cậu mở bao thuốc lá đã mua tại quầy thuốc ở ga và đốt một điếu, thảy bao thuốc lên bàn có trải khăn và phà khói vào ô kính; và miền nông thôn đang trôi qua trong màn mưa.

Tàu đến Zacatecas trong chiều muộn. Cậu ra khỏi nhà ga, bước trên đường qua những cổng cống nước bằng đá cũ kỹ và xuống thị trấn. Mưa nhảy nhót theo họ từ phương bắc, và những con đường đá hẹp sũng nước và các cửa hiệu đóng kín. Cậu cất bước trên Khu quý tộc qua thánh đường đến Quảng trường de Armas và vào khách sạn Reina Cristina. Đó là một khách sạn thuộc địa cũ, không khí vắng lặng và mát lạnh, và những viên đá lát sàn hành lang sẫm màu và bóng láng, và một con vẹt đuôi dài trong lồng đang ngó người đi ra đi vào. Trong phòng ăn giáp hành lang có người vẫn đang dùng bữa. Cậu lấy chìa khóa và lên phòng, một người hầu phòng xách cái túi nhỏ của cậu. Căn phòng rộng có trần cao và màn che có viền trên giường và một bình đựng nước khắc hoa văn trên bàn. Gã hầu phòng lướt tới vén rèm cửa sổ và đi vào phòng tắm để thấy mọi thứ đã ổn. John Grady tựa người trên chấn song cửa sổ. Trong cái sân nhỏ bên dưới, một lão già đang quỳ lom khom giữa những chậu hoa phong lữ đỏ và trắng, lão ngâm nga một đoạn trong một khúc dân ca cổ khi chăm sóc những bông hoa.

Cậu cho tiền trà gã hầu phòng và đặt chiếc mũ lên tủ com-mốt rồi đóng cửa. Cậu duỗi dài trên giường và nhìn lên những hoa văn được chạm khắc của trần nhà. Đoạn cậu đứng dậy và lấy mũ đi xuống phòng ăn nhón một miếng sandwich.

Cậu đi bộ qua những con đường hẹp xoắn tít của thị trấn với những ngôi nhà cổ xưa và những quảng trường vắng vẻ của nó. Mọi người dường như ăn mặc với một nét tao nhã nào đó. Trời đã ngừng mưa và không khí tươi mát. Những cửa hiệu bắt đầu mở. Cậu ngồi trên chiếc ghế dài trong quảng trường với đôi ủng đã đánh bóng và cậu nhìn vào những tủ kính bày hàng để cố kiếm một cái gì cho nàng. Cuối cùng cậu mua một dây chuyền bạc rất đỗi giản dị và trả tiền cho người phụ nữ, và cô ta gói nó trong hộp giấy với một dải ruy băng, cậu bỏ vào túi áo và trở về khách sạn.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của cormac mccarthy