Con tàu từ San Luis Potosí phải đến vào tám giờ. Cậu ngồi tại nhà ga lúc bảy giờ rưỡi. Nhưng mãi gần chín giờ nó mới đến. Cậu chờ trên sân ga giữa bao nhiêu người và nhìn những hành khách bước xuống. Khi nàng xuất hiện trên những bậc tam cấp, cậu gần như không nhận ra nàng. Nàng mặc áo xanh dương với chiếc váy gần chấm gót và đội chiếc mũ xanh rộng vành, trông nàng không hề giống một nữ sinh, đối với cậu hay với bất kỳ người khác trên sân ga. Nàng mang một chiếc va li nhỏ bằng da và người trực toa xách nó khi nàng bước xuống và trao lại cho nàng và cầm lấy mũ mình. Khi nàng quay nhìn nơi cậu đang đứng, cậu nhận ra nàng đã thấy cậu từ cửa sổ toa tàu. Khi nàng bước về phía cậu, vẻ đẹp của nàng tựa hồ một cái gì hoàn toàn hư ảo với cậu. Một hiện hữu không thể lý giải ở giữa nơi này hoặc bất kỳ nơi nào khác. Nàng tiến về phía cậu và nàng mỉm cười với cậu một cách buồn bã và những ngón tay nàng chạm vào vết sẹo trên má cậu và tựa người hôn lên nó và cậu hôn nàng và xách vali cho nàng.
- Anh gầy quá, nàng nói. Cậu nhìn vào đôi mắt xanh biếc như một người đang tìm kiếm một viễn cảnh tương lai nảy nở của vũ trụ. Cậu hầu như ngừng thở khi nói với nàng rằng nàng thật đẹp, nàng mỉm cười và trong đôi mắt nàng là nỗi sầu muộn mà cậu nhìn thấy lần đầu tiên nàng đến phòng cậu và cậu biết rằng mình chẳng phải là tất cả những gì tạo nên nỗi u sầu đó.
- Anh khỏe chứ? Nàng hỏi.
- Vâng. Anh khỏe.
- Còn Lacey?
- Anh ấy khỏe. Anh ấy đã về nhà.
Họ ra khỏi sân ga và nàng nắm tay cậu.
- Để anh đón taxi.
- Đi bộ đi.
- Được thôi.
Phố xá thật đông đúc, và tại Quảng trường de Armas những người thợ mộc đang lắp giàn cho một cái bục, nơi những diễn giả sẽ đứng diễn thuyết vào Ngày Quốc khánh. Cậu nắm tay nàng và họ băng qua đường về khách sạn. Cậu có đọc trái tim nàng trong cái siết chặt tay, nhưng chẳng biết được gì.
Họ ăn tối trong phòng ăn khách sạn. Cậu không bao giờ cùng nàng đến chỗ đông người và cậu chưa hề sẵn sàng để chịu đựng những ánh nhìn soi mói lộ liễu từ những người đàn ông lớn tuổi hơn ở những bàn bên cạnh cũng như thái độ qua đó nàng chấp nhận họ. Cậu mua một bao thuốc lá Mỹ tại quầy và khi người hầu bàn mang cà phê tới, cậu châm một điếu thuốc và đặt trên gạt tàn, rồi nói rằng cậu phải kể cho nàng nghe những gì đã xảy ra.
Cậu kể cho nàng về Blevins và về nhà tù Castelar và cậu kể về những gì đã xảy ra với Rawlins, và cuối cùng cậu kể về Cuchillero đã ngã chết trong tay cậu với con dao cắm phập vào tim. Cậu kể nàng nghe mọi thứ. Rồi họ ngồi lặng lẽ. Nàng ngước mắt lên khi đang khóc.
- Kể cho anh nghe. - Cậu nói.
- Em không thể.
- Nói đi em.
- Em làm sao biết anh là ai chứ? Em biết anh là loại người nào? Cha em là loại người nào chứ? Anh có rượu chè? Anh có đĩ điếm? Ông ấy có không? Đàn ông là cái gì vậy chứ?
- Anh đã nói với em những điều anh chưa bao giờ thổ lộ với ai. Anh đã nói với em tất cả những gì phải nói.
- Điều tốt là gì? Là gì vậy?
- Anh không biết. Anh đoán anh chỉ phải tin vào điều đó.
Họ ngồi rất lâu. Cuối cùng nàng ngước lên nhìn hắn. Em đã thú nhận với ông rằng chúng ta yêu nhau, nàng nói.
Cơn ớn lạnh thấm qua người cậu giá buốt. Căn phòng chìm trong im lặng. Nàng gần như chỉ thì thầm nhưng cậu cảm nhận một sự u tịch hoàn toàn vây quanh và cậu cơ hồ không thể nhìn lại nàng. Cậu nói lạc cả giọng.
- Tại sao?
Vì cô ấy đã dọa mách cha em. Cô em. Cô nói em không được gặp anh nữa bằng không cô sẽ mách với ông ấy.
Cô ta không có quyền.
Không. Em không biết. Em không thể để cô ấy có cái quyền đó. Chính em đã tự thú nhận.
- Tại sao?
- Em không biết. Em không biết.
- Thật sao? Em đã thú nhận?
- Vâng. Thật.
Cậu cúi xuống. Cậu áp đôi tay lên gương mặt nàng. Cậu nhìn thẳng nàng một lần nữa.
- Làm sao bà ấy phát hiện ra? Em không biết. Do nhiều cái. Có thể là Estéban. Bà ấy nghe em bỏ nhà đi. Nghe em trở về.
- Em đã không chối điều đó.
- Không.
- Cha em đã nói gì?
- Không. Ông không nói gì cả.
- Sao em không cho anh biết?
- Anh đang ở trên núi. Em hẳn đã nói. Nhưng anh quay lại thì bị bắt mất thôi.
- Ông ấy bắt anh ư?
- Vâng.
- Sao em có thể nói với ông ấy chứ?
- Em không biết. Em thật ngu ngốc. Chính là sự ngạo mạn của bà ấy. Em nói với bà ta là đừng hòng đe dọa em. Bà ta khiến em phát điên.
- Em có ghét bà ta?
- Không. Em không ghét bà ấy. Nhưng bà ấy bảo em phải là chính con người em, thế mà bằng tất cả hơi sức bà ta cố biến em thành con người bà ta. Em không ghét bà ta. Bà ta phải là vậy, không tránh được. Nhưng em làm tim cha em tan nát. Em làm tim ông tan nát.
- Ông không nói gì sao?
- Không.
- Ông ấy đã làm gì?
- Ông đứng dậy khỏi bàn. Ông đi về phòng mình.
- Em nói với ông ấy tại bàn sao?
- Vâng.
- Trước mặt bà ta?
- Vâng. Ông về phòng và sáng hôm sau bỏ đi trước hừng đông. Ông thắng yên ngựa và ra đi. Ông dẫn theo mấy con chó. Ông lên núi một mình. Em nghĩ ông ấy sắp giết anh.
Nàng đang khóc. Người ta đang nhìn qua bàn họ. Nàng cúi mặt và ngồi thổn thức trong lặng lẽ, chỉ có đôi vai nàng run run và nước mắt lăn dài trên má nàng.
- Đừng khóc. Alejandra. Đừng khóc.
Nàng lắc đầu.
- Em đã phá hủy tất cả. Em chỉ muốn chết thôi.
- Đừng khóc. Anh sẽ giải quyết ổn cả.
- Anh không thể. - Nàng nói. Nàng ngước mắt lên nhìn cậu. Cậu chưa bao giờ thấy tuyệt vọng như vậy. Cậu nghĩ mình đã tuyệt vọng, nhưng không.
- Ông ấy đã lên núi. Nhưng tại sao ông ấy không giết anh?
- Em không biết. Em nghĩ ông sợ em sẽ liều mạng.
- Em sẽ à?
- Em không biết.
- Anh sẽ xoay xở ổn cả. Em phải để anh.
Nàng lắc đầu. Anh không hiểu đâu.
- Anh không hiểu gì chứ?
- Em không biết rằng ông hẳn đã hết yêu em. Em không biết ông ấy có thể như thế. Giờ thì em đã biết.
Nàng rút khăn tay ra khỏi túi xách. Em xin lỗi, nàng nói. Mọi người đang nhìn chúng ta.
Đêm ấy trời mưa và màn cửa vẫn vén cao trong phòng và cậu có thể nghe thấy tiếng mưa tí tách trong sân và cậu ôm chặt hình hài xanh xao và trần trụi của nàng, và nàng khóc, nàng khóc và nói nàng yêu cậu, và cậu cứ hôn nàng. Cậu bảo với nàng rằng cậu có thể làm kiếm sống và rằng họ có thể đến sống ở quê hương cậu và không gì làm hại được họ. Nàng không ngủ và khi cậu thức dậy vào tinh mơ thì nàng đang đứng gần cửa sổ và đang mặc áo của cậu.
- Trời còn sớm. - Nàng nói.
- Ừ.
Nàng đến bên giường và ngồi xuống. Em đã thấy anh trong mơ. Em thấy anh chết trong mơ.
- Đêm qua?
- Không. Lâu rồi. Trước tất cả chuyện này. Em đã hứa hẹn.
- Một hứa hẹn.
- Vâng.
- Vì sinh mệnh anh.
- Vâng. Họ đưa anh qua những con đường của một thành phố mà em chưa từng nhìn thấy. Trời vừa hừng sáng. Bọn trẻ đang cầu nguyện. Mẹ anh đang khóc sướt mướt. Vì sự hư hỏng của anh nhiều hơn.
Cậu áp tay lên miệng nàng: Đừng nói điều đó. Em không thể nói điều đó.
Nàng nắm tay cậu và giữ trong tay mình và xoa trên những đường gân.
Họ ra ngoài trong bình minh của thành phố và đi bộ trên những con đường. Họ nói chuyện với những người quét đường và những phụ nữ đang mở những cửa hiệu nhỏ, quét những bậc cấp. Họ dùng bữa trong một quán cà phê và bước đi giữa những con hẻm nhỏ có những lão già bán hàng đang bày những thứ lặt vặt ra trên mặt đường đá cuội. Cậu mua cho nàng những quả dâu từ một cậu bé đang đội trên đầu cái thau đóng một cách tài tình và xoắn một miếng giấy Alcatraz để trút chúng vào. Họ dạo bước trong công viên Jardín Independencia cũ nơi bên trên đầu họ sừng sững một thiên thần trắng bằng đá với một cánh gãy. Trên hai cổ tay đá của nó lủng lẳng những xiềng xích đứt đoạn. Cậu nhẩm tính số giờ còn lại đến khi con tàu đến lần nữa từ phía nam mà khi nó rời ga đến Torreón sẽ mang nàng hoặc không mang nàng đi và cậu nói với nàng rằng nếu nàng phó thác đời nàng trong sự chăm sóc của cậu thì cậu sẽ không bao giờ xao lãng hoặc bỏ rơi nàng và cậu sẽ yêu nàng đến hơi thở cuối cùng; và nàng đáp rằng nàng tin cậu.
Trong buổi sáng, khi họ trở về khách sạn, nàng nắm tay cậu và kéo cậu qua đường.
- Đi nào. - Nàng nói. - Em sẽ cho anh xem thứ này.
Nàng dẫn cậu đi qua những bức tường của thánh đường và băng qua con đường có mái vòm dẫn vào một phố khác.
- Gì vậy? - Cậu nói.
- Một quảng trường.
Họ bước trên một con phố hẹp quanh co. Đi qua một xưởng thuộc da. Một xưởng thợ thiếc. Họ tiến vào một quảng trường nhỏ và tại đây nàng ngoảnh lại.
- Ông ngoại em đã chết ở đây. - Nàng nói.
- Ở đâu?
- Ở đây. Tại quảng trường này. Plazuela de Guadalajarita.
- Trong cuộc cách mạng.
- Vâng. Vào năm 1914. Ngày hai mươi ba tháng sáu. Ông cùng với Zaragoza Brigade dưới thời Rául Madero. Bấy giờ ông hai mươi bốn tuổi. Họ tiến xuống từ phía bắc thành phố. Cerro de Loreto. Tierra Negra. Xa hơn chỗ này lúc bấy giờ đều là lán trại cả. Ông đã chết tại quảng trường xa lạ này. Ngay góc phố Khát Vọng, hệt như Pensador Mexicano. Không có mẹ để than khóc. Như trong những khúc ballad. Chẳng có con chim nhỏ nào bay nhảy. Chỉ có máu trên những viên đá. Em muốn chỉ cho anh thấy. Chúng ta có thể đi.
- Pensador Mexicano là ai?
- Một nhà thơ. Tên thật là Joaquín Fernández de Lizardi. Ông có một cuộc đời cực nhọc, vĩ đại và chết trẻ. Còn về phố Khát Vọng thì cũng giống như phố Calle de Noche Triste thôi. Chúng chỉ là những cái tên Mexico. Chúng ta đi được rồi.
Cô hầu phòng đang quét dọn và bỏ đi khi hai người về và họ đã khép màn cửa, và yêu đương và ngủ trong vòng tay nhau. Khi họ thức dậy thì trời đã tối. Nàng ra khỏi phòng tắm với một cái khăn quấn quanh người, nàng ngồi lên giường và nắm tay cậu và cúi nhìn cậu. Em không thể làm những gì anh bảo, nàng nói. Em yêu anh. Nhưng em không thể.
Cậu thấy rất rõ cả cuộc đời cậu đã chỉ hội tụ vào khoảnh khắc này như thế nào và sau đó thì hoàn toàn chẳng còn dẫn tới đâu cả. Cậu cảm thấy một cái gì giá lạnh và vô hồn thổi vào mình như thế một thực tại nào khác, cậu hình dung nó đã cười cợt một cách độc ác và cậu không có lý do nào để tin có lúc nó sẽ ra đi. Nàng đã mặc quần áo khi nàng bước ra khỏi phòng tắm một lần nữa, và nàng thấy mình ngồi trên giường và cậu nắm đôi tay nàng và nói với nàng nhưng nàng chỉ lắc đầu. Nàng quay tránh gương mặt đẫm đìa và nói rằng đã đến lúc phải đi và nàng không thể lỡ chuyến tàu.
Họ đi qua những con phố và nàng nắm tay cậu và cậu xách giỏ cho nàng. Họ đi qua những khóm bạch dương phía trên trường đấu bò cũ và xuống những bậc thang qua cái bục dàn nhạc bằng đá. Một cơn gió khô khốc thổi đến từ phương nam và trên những tàng cây bạch đàn lũ sáo đá nhảy nhót và kêu lảnh lót. Mặt trời đã lặn và khung cảnh chạng vạng u sầu phủ xuống công viên và những ngọn đèn khí đốt xuất hiện dọc thành cống dẫn nước và xuôi theo lối đi giữa các tàng cây.
Họ đứng trên sân ga, nàng áp mặt vào vai cậu và cậu nói nhưng nàng đã không đáp lời. Con tàu hổn hển trở tới từ phía nam và vừa run rẩy vừa phả hơi khói với những ô cửa sổ toa uốn lượn dọc theo đường ray trông như những quân cờ đô-mi-nô khổng lồ đang vặn vẹo trong bóng tối. Cậu không thể không so sánh cảm giác về lần tàu đến này với cách đây hai mươi bốn giờ, và nàng vân vê sợi dây bạc trên cổ và quay đi, xách lấy va li rồi tựa người hôn cậu lần cuối cùng với khuôn mặt đẫm lệ rồi cất bước. Cậu nhìn nàng bước đi như thể mình đang trong một giấc mơ nào đó. Dọc trên sân ga những gia đình và những tình nhân đang đón mừng nhau. Cậu nhìn một cô gái nhỏ nhắn đang tươi cười, xoay tròn trong vòng tay của một người đàn ông, và khi cô trông thấy gương mặt cậu, nụ cười của cô vụt tắt. Cậu không hiểu sao mình có thể đứng đó đến khi đoàn tàu lăn bánh, nhưng cậu đã đứng như thế và khi tàu đi khuất, cậu quay lưng, bước trở lại con phố.
Cậu thanh toán hóa đơn khách sạn, thu xếp đồ đạc và ra đi. Cậu vào một quán rượu trên một con phố ngang nơi một giọng ca lai khàn khàn của miền bắc đang rống om sòm từ một cánh cửa mở toang và cậu uống đến say khướt, đánh nhau một trận và tỉnh dậy trong một bình minh u ám trên chiếc giường sắt của một căn phòng màu xanh lục với những tấm màn cửa sổ bằng giấy, qua đó cậu có thể nghe tiếng gà đang gáy.
Cậu soi mặt mình trong một chiếc gương mờ đục. Cằm cậu thâm tím và sưng phù. Nếu cậu di động cái đầu trong gương đến một vị trí nào đó cậu có thể lấy lại một chút cân xứng của hai bên mặt và vết thương không đau lắm khi cậu ngậm miệng. Áo sơmi của cậu rách toạc và vấy máu và giỏ xách thì không còn. Cậu nhớ lại những chuyện từ cái đêm mà cậu không chắc chắn. Cậu nhớ một bóng người đứng dưới gốc cây như Rawlins đã đứng khi lần cuối cùng cậu nhìn thấy anh ta, nửa quay lưng từ biệt, một chiếc áo choàng buông lỏng trên vai. Cậu thấy ánh đèn của một ô cửa trong trên bức tường sắt nhăn nhúm của một nhà kho chẳng có ai đến và chẳng có ai đi. Cậu thấy một cánh đồng trơ trụi trong một thành phố dưới màn mưa và trong cánh đồng là một cái thùng gỗ, và cậu thấy một con chó hiện ra trong thùng gỗ trong ánh sáng đèn yếu ớt vàng vọt như một chú chó lạc lõng đáng thương đang run rẩy tìm đường về qua đống gạch vụn của khu đất và đã lặng lẽ biến mất giữa những tòa nhà tăm tối.
Khi bước ra cửa cậu không biết mình đang ở đâu. Một cơn mưa bụi lất phất rơi. Cậu cố xác định phương hướng từ La Bufa bên trên thành phố hướng về tây nhưng cậu dễ dàng lạc lối trong những con phố quanh co. Cậu hỏi một phụ nữ đường đến khu trung tâm và bà chỉ đường rồi đứng trông theo khi cậu bước đi. Khi cậu đến Hidalgo, một bầy chó đang chạy lon ton trên đường, và khi chúng chạy qua trước mặt cậu thì một con trượt chân, quờ quạng trên nền đá ướt và té dúi. Mấy con còn lại nhe răng và xù lông gầm gừ, nhưng con chó bị ngã đã đứng dậy trước khi cậu kịp hoang mang và tất cả bọn chúng lại tiếp tục chạy. Cậu đi ra khỏi rìa thị trấn dọc quốc lộ phía bắc và vẫy xe. Cậu hầu như không còn tiền và còn một quãng đường dài phải đi.
Cậu đi cả ngày trên một chiếc xe ngựa bốn bánh LaSalle cũ kỹ điều khiển bởi một người đàn ông mặc đồ trắng. Ông ta nói rằng xe của ông là chiếc duy nhất thuộc loại này trên cả đất nước Mexico. Ông ta nói ông đã chu du khắp thế giới khi còn trẻ và đã từng nghiên cứu opera ở Milan và ở Buenos Aires. Và khi họ băng qua vùng nông thôn ông ta hát vang những khúc Aria trong điệu bộ diễn cảm mãnh liệt.
Nhờ chuyến này và một chuyến xe nữa cậu đã đến Torreón vào khoảng trưa ngày hôm sau và đến quán trọ lấy chiếc túi ngủ của mình. Sau đó cậu đi lấy ngựa về. Cậu không cạo râu cũng chẳng tắm và cũng chẳng có quần áo khác để thay. Người coi chuồng ngựa gật đầu cảm thông khi nhìn thấy cậu và chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên trước tình cảnh của cậu. Cậu cưỡi ngựa đi giữa dòng xe cộ đông đúc. Con ngựa ương bướng và hoảng sợ; nó nhảy lóc cóc trên đường và đá bay một cái đĩa lớn vào bên hông một chiếc xe buýt trong sự thích thú của những hành khách đang nhoài ra như tìm kiếm thách thức từ những khung cửa sổ an toàn.
Có một tiệm súng đạn trên đường Degollado, cậu xuống ngựa và buộc nó vào một cột điện, đi vào và mua một hộp đạn Long Colt 45. Cậu dừng tại một cửa hiệu trên vùng ngoại ô của thành phố, mua vài miếng bánh ngô, mấy hộp đậu, nước sốt cay và một ít phô mai. Cậu cuộn chúng trong chăn và cột túi ngủ sau yên ngựa, đổ nước đầy bi đông và leo lên rồi quay ngựa về hướng bắc. Mưa đã làm chín cả vùng quê xung quanh và những đám cỏ bên đường um tùm tốt tươi, những bông hoa trổ sắc khắp vùng nông thôn trải rộng. Đêm đó cậu ngủ trên một cánh đồng cách xa mọi thị trấn. Cậu không đốt lửa. Cậu nằm nghe tiếng ngựa gặm cỏ chỗ cọc buộc nó và cậu nghe gió thổi giữa không gian dịu hiu mông quạnh, nhìn những ngôi sao băng vẽ những vệt lửa trên bầu trời và vụt tắt trong góc tối tăm nào đó của thế giới, và cậu nằm với nỗi đau như thiêu đốt trái tim. Cậu hình dung sự đau khổ của cuộc đời như một sinh vật ký sinh vô định hình nào đó đang tìm kiếm hơi ấm của linh hồn con người nơi nó trú mình và cậu nghĩ cậu biết điều gì khiến người ta dễ trở thành con mồi để nó ngấu nghiến. Điều cậu không biết chính là nó phi lý trí và vì thế không cách nào biết được những giới hạn của những tấm linh hồn đó và điều cậu sợ hãi là việc có thể chẳng có giới hạn nào cả.
Chiều ngày tiếp theo cậu ở sâu trong vùng lòng chảo lớn, một ngày sau thì cậu đang tiến vào vùng đồng cỏ và một miền điêu tàn trải trên những ngọn núi hoang vu chạy về phía bắc. Con ngựa không sẵn sàng để cưỡi như cậu đòi hỏi và cậu buộc phải cho nó nghỉ thường xuyên. Cậu đi ban đêm để có thể xoa dịu những chiếc móng của nó trong không khí ẩm ướt, và khi đi cậu thấy những ngôi làng nhỏ phía xa trên đồng bằng vụt lên thứ ánh sáng vàng vọt trong đêm đen lạc lõng và cậu nghĩ cuộc đời đối với cậu thật không sao tưởng tượng được. Năm ngày sau cậu cưỡi ngựa ban đêm đến giao lộ một ngôi làng nhỏ xa lạ và cậu dừng ngựa trước giao lộ, và nhờ ánh sáng trăng tròn đọc tên những thị trấn được khắc bằng sắt nóng đỏ lên những tấm bảng gỗ và đóng lên cột điện. San Jeronimo. Los Pintos. La Rosita. Dưới đáy một tấm bảng với mũi tên chỉ đường khác đến La Encantada. Cậu ngồi rất lâu. Cậu nghiêng người khạc nhổ. Cậu nhìn vào màn tăm tối phía tây. Chết tiệt, cậu nói. Ta sẽ không dùng ngựa ở đây.
Cậu đi suốt đêm và trong ánh sáng xám ngắt đầu tiên cậu ghì mạnh cương ngựa và đi lên một gò cao mà dưới đó
cậu có thể nhận ra hình dáng của thị trấn, những ô cửa sổ vàng vọt trên những bức tường trát bùn lâu năm nơi những ngọn đèn đầu tiên được thắp, những cột khói hẹp đứng thẳng yên trong một bình minh lặng gió đến độ dường như ngôi làng được treo bằng những sợi dây buông từ màn đêm. Cậu xuống ngựa và trải đồ đạc, mở hộp đạn và dốc nửa số chúng vào túi, kiểm tra súng và nạp đầy sáu viên vào ổ quay, nhét súng vào thắt lưng và cuộn đồ đạc lại, cột nó đằng sau yên ngựa và lên ngựa cưỡi vào thị trấn.
Không có ai trên đường. Cậu cột ngựa trước một cửa hiệu và xuống ngựa đi vào đồn cũ, đứng trên hành lang và nhìn vào. Cậu kiểm tra cánh cửa. Cậu đi vòng ra sau, phá cửa kính và nhảy vào, mở chốt cửa và bước vào với khẩu súng trong tay. Cậu đi ngang qua căn phòng và nhìn ra đường qua cửa sổ. Đoạn cậu quay lại và bước tới bàn đại úy. Cậu mở ngăn kéo trên cùng và lôi ra những cái còng và đặt chúng lên bàn. Đoạn cậu ngồi xuống và gác chân lên.
Một giờ sau, cô hầu gái đến và mở cửa bằng chìa khóa của cô ta. Cô giật mình nhìn cậu ngồi đó, và cô đứng run rẩy.
- Vào đi. Vào đi. - Cậu nói. - Không sao đâu.
- Cảm ơn. - Cô nói.
Cô ta đi qua phòng và lẩn ra sau nhưng cậu chặn cô ta lại và bắt cô ta ngồi vào một trong những cái ghế gấp bằng sắt dựng sát tường. Cô lặng lẽ ngồi xuống. Cô không hỏi cậu bất kỳ điều gì. Họ chờ đợi.
Cậu nhìn gã đại úy qua đường. Cậu nghe tiếng ủng của gã trên lớp ván. Gã vào với tách cà phê trên một tay và chùm chìa khóa ở tay kia, lá thư kẹp dưới cánh tay. Gã trân trối nhìn John Grady và nhìn vào khẩu súng cậu đang cầm với báng súng tựa trên bàn.
- Đóng cửa lại. - John Grady nói.
Đôi mắt gã sĩ quan phóng nhìn về phía cửa. John Grady đứng dậy. Cậu lên cò súng. Tiếng lách cách của cái hãm cò và của ổ quay lắp vào trục nghe sắc gọn và rõ ràng trong buổi sáng tĩnh lặng. Cô hầu gái giơ tay lên đầu và nhắm mắt. Gã sĩ quan chầm chậm đóng cửa bằng khuỷu tay.
- Anh muốn gì? - Gã nói.
- Tôi đến lấy ngựa của tôi.
- Ngựa của anh?
- Vâng.
- Tôi không có ngựa của anh.
- Tốt hơn ông nên biết nó ở đâu.
Gã sĩ quan nhìn cô hầu. Cô ta vẫn giơ tay lên đầu nhưng đã ngước nhìn lên.
- Đến đây và đặt cái đó xuống. - John Grady ra lệnh.
Gã bước tới, đặt cốc cà phê và lá thư xuống bàn, tay vẫn giữ chùm chìa khóa.
- Bỏ chùm chìa khóa xuống.
Gã đặt chùm chìa khóa trên bàn.
- Quay lưng.
- Anh tự gây rắc rối ghê gớm cho mình.
- Tôi gặp những chuyện thậm chí ông còn chưa được nghe kìa. Quay lưng.
Gã quay bước. John Grady tựa về phía trước và tháo nắp bao súng mà cậu đang mang, hạ cò súng và đặt nó vào bao.
- Quay lại. - Cậu nói.
Gã kia quay lại. Gã không được bảo phải giơ tay lên nhưng dù sao vẫn cứ giơ lên. John Grady lấy những cái còng trên bàn và dắt vào thắt lưng.
- Ông muốn để cô gái ở đâu? - Cậu nói.
- Cái gì?
- Không hề gì. Đi thôi.
Cậu lấy chùm chìa khóa và đi quanh cái bàn rồi đẩy gã sĩ quan đi tới. Cậu ra hiệu cô gái bằng cằm.
- Đi nào! - Cậu gọi.
Cửa sau vẫn mở và họ bước xuống lối đi dẫn tới phòng giam. John Grady mở khóa móc và mở cửa. Trong ánh sáng nhợt nhạt hình tam giác có một lão già đang ngồi.
- Có đó không, lão già?
- Vâng. Anh muốn gì?
- Ra đây.
Lão chậm chạp đứng dậy. Lão lê bước về phía trước với một tay tựa trên vách và John Grady bảo lão được tự do đi. Cậu ra hiệu bảo cô quét dọn đi vào và cậu xin lỗi đã làm phiền cô. Cô đáp chẳng có gì phiền lòng và cậu đóng cửa rồi khóa lại.
Khi cậu quay lại, lão già vẫn đang đứng đó. John Grady bảo lão ta về nhà. Lão già nhìn gã sĩ quan.
- Đừng nhìn hắn. - John Grady nói. - Tôi bảo ông đấy. Đi thôi.
Lão già nắm tay hắn và sắp sửa hôn lên thì John giật ra.
- Ra khỏi chỗ chết tiệt này. - Cậu nói. - Đừng có nhìn hắn. Đi thôi.
Lão già đi tập tễnh về phía cổng, mở chốt, bước ra đường và quay lưng đóng cổng lại rồi bước đi.
Khi cậu và gã sĩ quan đi trên đường thì John Grady cưỡi ngựa với khẩu súng giắt trong thắt lưng và chiếc áo vest phủ lên đó. Đôi tay gã đại úy bị còng trước mặt cậu và gã đang dắt ngựa đi. Họ rẽ xuống ngôi nhà xanh nơi gã chăn ngựa sống và gã sĩ quan gõ cửa. Một phụ nữ ra mở cửa, nhìn gã sĩ quan và quay trở vào hành lang. Một lúc sau gã chăn ngựa đi ra, gật đầu và đứng xỉa răng. Gã nhìn John Grady và nhìn gã sĩ quan. Đoạn gã nhìn John Grady lần nữa.
- Chúng ta gặp rắc rối. - Gã sĩ quan nói.
Gã chăn ngựa vẫn mút cây tăm. Gã không nhìn thấy khẩu súng trong thắt lưng John Grady và gã đang thắc mắc không hiểu thái độ của gã sĩ quan.
- Đến đây. - John Grady nói. - Tao muốn ngựa của tao.
Khi gã chăn ngựa ngước nhìn vào nòng súng, John Grady có thể thấy những bánh răng đang khớp vào trong đầu hắn và mọi thứ hóa ra rõ ràng đâu vào đó. Cậu với tay ra sau và kéo cửa đóng lại. Gã nhìn người cưỡi ngựa. Ánh mặt trời chiếu vào mắt gã và gã dịch nhẹ sang một bên và nhìn lên lần nữa.
- Tao muốn ngựa của tao. - John Grady nói.
Gã nhìn người cưỡi ngựa lần nữa, ánh mắt của gã né tránh cái nhìn trực diện và gã cúi nhìn xuống đất. John Grady nhìn qua hàng rào ocotillo nơi từ lưng ngựa cậu có thể thấy vài nhà chuồng bằng bùn và mái tôn han rỉ của một ngôi nhà lớn hơn. Cậu nhảy xuống ngựa, chiếc còng lủng lẳng trên cổ tay.
- Đi nào! - Cậu kêu lên.
Con ngựa của Rawlins ở trong cái chuồng bùn trong khu đất đằng sau nhà. Cậu kêu nó và nó ngẩng đầu lên khi nghe tiếng cậu. Cậu bảo gã chăn ngựa thắng dây cương và cậu đứng chĩa súng khi gã thắng cương ngựa, và cậu nắm lấy dây cương từ tay gã ta. Cậu hỏi gã những con ngựa kia ở đâu. Gã chăn ngựa nuốt nước bọt và nhìn gã sĩ quan. John Grady tiến tới nắm cổ áo gã sĩ quan và kê súng vào đầu gã và cậu nói với gã chăn ngựa rằng nếu gã còn nhìn tên kia thêm lần nào nữa cậu sẽ bắn y. Gã đứng nhìn xuống. John Grady bảo gã rằng cậu không còn đủ kiên nhẫn và thời gian nữa và rằng gã sĩ quan giá nào cũng phải chết nhưng gã chăn ngựa thì có thể tự cứu mình. Cậu nói với họ rằng Blevins là em trai cậu và cậu thề độc là sẽ không quay về gặp cha nếu không xách theo đầu gã đại úy và rằng các em của cậu đang chờ làm thay cậu nếu cậu thất bại. Gã chăn ngựa không kìm được ánh mắt và quay nhìn gã sĩ quan tức thì gã nhắm mắt ngay lại và quay đi và dùng một tay bấu lấy cái đầu nhỏ bé của gã. Nhưng John Grady đang quan sát tên đại úy và lần đầu tiên cậu thấy mặt gã sa sẩm nét ngờ vực. Gã đại úy bắt đầu nói với tên chăn ngựa nhưng cậu lôi cổ áo gã với khẩu súng kê trên đầu và nói nếu gã còn mở miệng nữa cậu sẽ bắn gã ngay tại chỗ.
- Mày. - Cậu nói. - Những con ngựa khác ở đâu?
Gã chăn ngựa đứng nhìn ô chuồng ngựa. Trông gã như một vai phụ trên sân khấu đang lắp bắp những lời thoại độc nhất của mình.
- Trong nhà của Don Rafael.
Họ cưỡi ngựa qua thị trấn với tên đại úy và gã chăn ngựa cùng cưỡi chung trên con ngựa không yên của Rawlins và John Grady theo sau. Cậu giắt dây cương con ngựa kia qua vai. Họ lầm lì cưỡi ngựa qua trung tâm thị trấn. Những bà lão đang quét con phố lầm lũi trong không khí sớm mai ngẩng lên nhìn họ đi qua.
Họ đi chừng mười kilômét thì đến cái ấp đã nói. Họ đến đó vào giữa buổi sáng, qua cánh cổng mở rồi vượt qua ngôi nhà hướng tới những chuồng ngựa phía sau được canh chừng bởi những con chó vênh váo sủa ầm ĩ và chạy nhớn nhác trước mặt mấy con ngựa.
Tại bãi quây ngựa, John Grady dừng lại, tháo còng cho vào túi và rút súng lục ở thắt lưng ra. Đoạn cậu xuống ngựa, mở cổng và vẫy họ vào.
Cậu dẫn con nâu xám qua, đóng cổng, ra lệnh hai gã xuống ngựa, và vẫy súng ra hiệu họ tiến về phía chuồng ngựa.
Ngôi nhà còn mới, xây bằng gạch và có mái tôn cao. Những cánh cửa ra vào nằm phía xa và những ngăn chuồng được lắp cửa chớp và có một bóng điện nhỏ trong mỗi ô chuồng. Cậu thúc tên đại úy và gã chăn ngựa đi trước họng súng. Cậu có thể nghe những con ngựa đang hít ngửi trong các ô chuồng và cậu có thể nghe tiếng gù của lũ bồ câu trong tổ ở đâu đó.
- Redbo. - Cậu gọi.
Con ngựa hí vang với cậu từ cuối chuồng.
Cậu vẫy họ tiến tới. Đi. - Cậu kêu.
Khi cậu quay lại, một người đàn ông bước vào ô cửa đằng sau họ và đứng lấp ló.
- Ai đó? - Cậu hỏi.
John Grady bước ra sau gã chăn ngựa và kê họng súng vào bẹ sườn gã. Trả lời đi. - Cậu giục.
- Luis. - Gã chăn ngựa đáp.
- Luis?
- Vâng.
- Ai nữa?
- Raúl. Đại úy.
Gã đứng không vững. John bước ra sau lưng gã đại úy.
- Chúng tôi có một tù nhân. - Cậu nói.
- Chúng tôi có một tên tù. - Tên đại úy nói.
- Một thằng trộm. - John Grady thì thầm.
- Một thằng trộm.
- Chúng tôi đến để xem ngựa.
- Chúng tôi đến để xem ngựa. - Tên đại úy nói.
- Ngựa gì?
- Ngựa Mỹ.
Người đàn ông đứng đó. Đoạn y bước ra ngoài ánh sáng ô cửa. Không ai nói gì.
- Có việc gì thế, ông bạn? - Y hỏi.
Không ai trả lời. John Grady nhìn bãi đất ngập nắng phía ngoài cửa chuồng. Cậu có thể thấy bóng người đàn ông đứng cạnh cửa. Thế rồi cái bóng biến đi. Cậu lắng nghe. Cậu đẩy hai gã đi về phía sau chuồng. Đi nào. - Cậu nói.
Cậu gọi con ngựa một lần nữa, xác định vị trí ngăn chuồng và mở cửa rồi dắt ngựa ra. Con ngựa hích mũi và trán nó vào ngực John Grady. John Grady nói chuyện với nó và nó hí vang rồi quay người chạy lon ton về phía ánh sáng mặt trời trong cánh cửa mà không có dây cương. Khi họ trở lại ô chuồng ngựa thì hai con ngựa khác ghếch đầu chúng ra khỏi ô cửa ngăn. Con thứ hai là con ngựa hồng to lớn của Blevins.
Cậu dừng lại nhìn con vật. Cậu vẫn còn sợi dây cương thừa vắt qua vai. Cậu gọi gã chăn ngựa bằng tên và rụt vai trao dây cương cho gã và bảo gã hãy thắng cương con ngựa rồi đưa nó ra ngoài. Cậu biết gã đàn ông đến gần chuồng hồi nãy đã từng thấy hai con ngựa đứng trong bãi quây, một con có đầy đủ yên cương còn con kia được thắng cương và không yên. Cậu suy tính gã kia có thể đi về nhà xách súng trường và rằng có thể gã sẽ quay trở lại trước khi tên chăn ngựa thậm chí kịp thắng cương cho ngựa của Blevins, và trong tất cả những chuyện này thì gã là người đúng. Khi gã đàn ông gọi với vào lần nữa từ ngoài chuồng ngựa là gã gọi tên đại úy. Tên đại úy nhìn John Grady. Gã chăn ngựa đứng sững với dây cương trong một tay và mũi con ngựa ghếch lên khuỷu tay gã.
- Đến đây. - John Grady gọi.
- Raúl. - Gã đàn ông kêu.
Tên chăn ngựa vắt dây cương qua hai tai con ngựa và đứng trong cửa ngăn giữ rịt dây.
- Đi. - John Grady nói.
Có những cuộn thừng và những mẩu đinh bẹt đang treo trên lan can trong hành lang và cậu lấy một cuộn thừng đưa cho tên chăn ngựa và bảo gã cột một đầu vào đai cổ con ngựa của Blevins. Cậu biết cậu chẳng cần kiểm tra mọi việc tên chăn ngựa làm vì gã không thể lớn mật làm bậy. Con ngựa của cậu đang đứng ở lối cửa nhìn vào. Đoạn nó quay lại và nhìn người đàn ông đang đứng bên ngoài vách chuồng.
- Ai ở trong đó với anh? - Gã đàn ông hỏi.
John Grady lấy cái còng tay ra khỏi túi và bảo gã đại úy quay lưng và khóa quặt đôi tay gã ra phía sau. Gã đại úy lưỡng lự và nhìn ra phía cửa. John Grady giơ cao khẩu súng và lên cò.
- Vâng, vâng - Tên đại úy đáp.
John Grady khóa hai cổ tay gã bằng còng và đẩy gã tới và vẫy tên chăn ngựa đưa ngựa đi. Con ngựa của Rawlins xuất hiện ở cửa chuồng và đứng hít hít con Redbo. Nó ngẩng đầu lên và nó cùng con Redbo nhìn họ khi họ tới gần ô chuồng ngựa để dẫn con ngựa khác ra.