Lance quay lại với tấm bảng trắng gắn trên tường. Trên bảng hiện chưa có gì, nhưng họ sẽ tìm thấy gì khi đào sâu vào vụ này?
Không cần biết đó là gì, đã đến lúc phải đối mặt với sự thật.
Morgan trao hồ sơ cho Sharp, nhưng rõ ràng ông không cần đến nó. Ông ngả người vào ghế và bắt đầu nói. “Chúng ta biết rằng Vic rời khỏi nhà vào lúc gần chín giờ tối để đến cửa hàng bách hóa. Khi ông không quay về vào lúc mười một giờ, mẹ cháu đã gọi cho những người bạn thân thiết nhất của ông ấy, Stanley Adams và Brian Leed, hy vọng rằng một trong hai người này sẽ giúp được. Nhưng không ai có nhà. Thế nên bà lái xe trên chặng đường đến cửa hàng bách hóa rồi về nhà, phòng trường hợp xe của Vic bị hỏng. Khi bà không tìm thấy ông ấy, bà lái xe đến quán Sports Bar của P. J., nơi thi thoảng ông ấy gặp gỡ Brian và Stan. Thế nhưng bà vẫn không thấy Brian hay Stan ở đó. Cũng không ai trông thấy Vic.”
Nóng ruột, Sharp đứng dậy rảo bước đến trước tấm bảng trắng. “Jenny đã báo cảnh sát vào thời điểm trước nửa đêm một chút. Một viên cảnh sát đến nhà tiếp nhận báo cáo ban đầu. Victor không gặp bất cứ vấn đề gì về sức khỏe thể chất cũng như tinh thần. Không có bằng chứng nào cho thấy ông ấy đang có nguy cơ đặc biệt nào về sức khỏe, cho dù việc ra ngoài vào thời điểm muộn thế này không phải là tính cách của ông ấy. Viên cảnh sát kia lập báo cáo người mất tích và phát cảnh báo BOLO*đối với Victor Kruger và chiếc Buick Century 1984 của ông ấy.”
Sharp ngừng bước, đứng đối diện tấm bảng, cầm chiếc bút lên, ông bắt đầu vẽ dòng thời gian. “Viên sĩ quan tuần tra đã hy vọng rằng bằng một cách hợp lý, Victor đơn giản chỉ là ghé vào đâu đó nghỉ ngơi, hoặc chuyển sang đi đường khác. Có thể xe ông ấy bị hỏng. Vào thời ấy vẫn chưa có điện thoại di động. Mọi người vẫn phải dùng tiền mặt để giao dịch. Chưa hề có E-ZPass*. Thế nên chuyện ai đó biến mất không tung tích vào buổi tối cũng là bình thường.”
BOLO là viết tắt của Be On the Look Out, nghĩa là “đang được theo dõi”.
Hệ thống thu phí điện tử được sử dụng trên hầu hết các con đường, cầu và đường hầm có thu phí ở Trung Tây và Đông Hoa Kỳ.
Sharp dùng nam châm ghim một bức ảnh cũ chụp Victor Kruger cùng hai người đàn ông khác lên tấm bảng. Ba người đứng trước một sân bóng chày. Họ đều mặc đồng phục bóng chày nghiệp dư, in logo một cửa hàng dụng cụ trên ngực. Trái tim Lance như bị bóp nghẹt khi nhìn chằm chằm vào nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt cha anh.
“Tấm ảnh này chắc phải được chụp trong một trận bóng.” Lance nhớ mình đang ngồi trên khán đài xem bóng. Những hồi ức cha dạy anh chơi bóng thoáng vụt qua tâm trí như một đoạn băng tua nhanh. “Cha anh yêu thích bóng chày.”
“Còn hai người kia là ai?” Morgan hỏi.
Lance lần lượt chỉ tay vào từng người. “Brian Leed và Stanley Adams, hai người bạn thân nhất của cha anh.”
Sau khi ngừng lại một lúc, Sharp nói tiếp. “Bác tiếp quản vụ này vào buổi sáng. Việc đầu tiên bác làm là đến cửa hàng bách hóa và xem các đoạn băng camera giám sát. Tối hôm ấy, Vic không hề đến cửa hàng. Xe của ông ấy cũng không để trong bãi. Bác đã làm vài vòng quanh các trạm xăng và cửa hàng tiện lợi, tìm kiếm hình ảnh của Vic khắp xung quanh và kiểm tra các đoạn phim từ camera an ninh có sẵn. Nhưng không thấy ông ấy.”
“Thông thường, một vụ người lớn mất tích khó hiểu không tốn nhiều nhân lực đâu. Nhưng bà Kruger bị kích động quá mạnh. Đội ngũ phá án của bác tương đối mỏng, và bác nghĩ vụ mất tích này cần phải được điều tra. Trong vài ngày sau đó, bác đến thăm nhiều nơi Vic hay đến. Bác gọi điện cho các bệnh viện, nhà xác, cảnh sát và các văn phòng cảnh sát trưởng khắp nơi, kiểm tra các trạm xe buýt và các nhà ga, sân bay. Bác đã thẩm vấn các giám đốc, nhân viên và những bạn bè thân thiết của ông ấy. Tất cả các ghi chép đều nằm hết trong hồ sơ, nhưng ai ai cũng đồng ý rằng Vic sẽ không bao giờ rời bỏ gia đình mình. Càng nói chuyện với nhiều người bao nhiêu, bác càng thêm tin tưởng rằng Victor Kruger chưa từng rời khỏi thị trấn của mình. Bác đã khám xét căn nhà và văn phòng của ông ấy. Có vẻ như ông ấy chẳng mang theo thứ gì ngoại trừ ví và chìa khóa xe. Bác đã điều tra tất cả những người từng rời bỏ, chạy trốn - và bị bắt cóc - khỏi gia đình mình, nhưng suốt hai mươi lăm năm trong nghề của bác, Victor là người duy nhất thực sự biến mất không dấu vết. Đây không phải là một thành phố. Người ta thông thường sẽ quay về sau một chuyến đi đến cửa hàng bách hóa.”
Lance nghiên cứu tấm bảng, cố gắng giữ con mắt khách quan. Cho đến giờ, không một chi tiết nào của vụ án khiến anh bị sốc. Cuộc điều tra ban đầu của Sharp là đúng quy tắc. Nhưng dẫu vậy... khi người mất tích là cha của bạn, thấy vụ án của ông trải ra trước mắt chắc chắn khiến anh khó chịu.
Nhưng Lance cảm thấy nó thật mơ hồ, giống như anh đã cảm thấy vào năm 1994. Như thể nó không có thật. Nhưng hồi ấy, mẹ anh đã cạn kiệt cảm xúc. Về mặt tinh thần, bà suy sụp rất nhanh, bỏ lại mình Lance nhặt nhạnh các mảnh vỡ. Anh thấy như anh đã mất cả đời lắp ráp lại chiếc bình vỡ, trong khi trong tay chẳng có mảnh vỡ nào. Chẳng có loại băng keo nào đủ sức làm nó liền lại được nữa. Anh còn có thể làm gì ngoài chôn sâu những phản ứng của mình đây?
“Vậy chúng ta phải bắt đầu từ đâu?” Morgan hỏi.
Sharp nhún vai. “Bao năm qua bác đã cập nhật hồ sơ và cơ sở dữ liệu về người mất tích, cho đến khi nghỉ hưu. Đáng tiếc là chúng ta không được phép tiếp cận NCIC*, nhưng bác sẽ phải giả sử rằng cảnh sát trưởng sẽ triển khai hệ thống tìm kiếm đó như với tội hình sự.”
Trung tâm thông tin tội phạm quốc gia là cơ sở dữ liệu của FBI, chỉ các cơ quan thực thi luật pháp mới được tiếp cận, các nhà điều tra tư nhân thì không.
“Bác Sharp, cháu thấy là bác đã bao quát được toàn bộ vụ mất tích của Vic.” Morgan quét mắt qua tấm bảng. “Vậy chúng ta nên tập trung vào thông tin mới.”
“Người phụ nữ đã chết.” Lance đứng dậy bước vào văn phòng mình. Một phút sau, anh quay ra cùng chiếc laptop. “Chúng ta có thể bắt đầu vởi NamUs*. Nếu cô gái là người địa phương và một báo cáo người mất tích đã được lập, thông tin về cô ấy chắc hẳn phải được nhập vào hệ thống.”
NCIC là viết tắt của National Crime Information Center, nghĩa là Trung tâm thông tin tội phạm quốc gia.
NamUs là viết tắt của National Missing and Unidentified Persons System, nghĩa là Hệ thống quốc gia truy tìm người mất tích và hài cốt vô thừa nhận.
Hệ thống quốc gia truy tìm người mất tích và hài cốt vô thừa nhận là cơ sở dữ liệu của Bộ Tư pháp dành cho các cơ quan thực thi luật pháp và dân chúng nói chung. Hệ thống sẽ kiểm tra chéo những hài cốt vô thừa nhận và những người mất tích chưa tìm thấy trên khắp đất nước.
Lance cố gắng không nghĩ đến tỷ lệ thực sự có thể tìm thấy cha anh là bao nhiêu. Hơn bốn mươi nghìn bộ hài cốt vô thừa nhận tại Mỹ, nằm rải rác tại hơn hai nghìn văn phòng giám định pháp y và nhân viên điều tra trên khắp đất nước. Thậm chí ngay cả khi có ADN của cha anh trong hồ sơ, vẫn có khả năng thi thể ông đã được tìm thấy nhiều năm về trước. Vào hồi năm 2009, NamUs chưa được thành lập. Hài cốt của Victor Kruger có thể vẫn đang nằm trong hầm mộ ở bất kỳ đâu trên khắp đất nước này, hoặc có thể đã được chôn cất hoặc hỏa táng mà chưa hề được nhận dạng.
Tập trung vào nhiệm vụ nào.
Lance gõ phím. “Theo NamUs, có hai trăm ba sáu phụ nữ mất tích tại tiểu bang New York.”
Sharp tựa người vào tấm bảng, khoanh tay trước ngực. “Họ sẽ được liệt kê theo thứ tự ngày tháng được nhìn thấy lần cuối cùng. Bắt đầu từ tháng Bảy đến tháng Chín năm 1994. Sau đó chúng ta sẽ thu hẹp danh sách theo địa phương.”
“Thời điểm đó có bốn phụ nữ được báo mất tích.” Lance cuộn chuột xuống. “Hai người là dân địa phương.
Laura Dennis, từ Albany, mất tích khi hai mươi hai tuổi. Cô ấy được nhìn thấy lần cuối cùng vào ngày mùng Một tháng Tám năm 1994. Mary Fox mất tích ở Grey’s Hollow. Theo miêu tả, cô ấy cao một mét sáu hai và nặng năm mươi hai cân.”
“Dân địa phương, chiều cao gần bằng bộ xương theo Frank dự tính.” Sharp nói.
Lance nói tiếp. “Cô ấy được báo mất tích ngày Hai mươi lăm tháng Tám, nhưng các ghi chép hồ sơ nói rằng cô ấy đã được trông thấy lần cuối vào một hoặc hai tuần trước đó. Cho dù cô ấy sống cùng mẹ và cha dượng, mẹ cô ấy không chắc chắn cô ấy đã bỏ đi chính xác vào ngày nào. Hai người họ đã có tranh cãi, và không ít lần Mary phải ở lại nhà bạn thân vài ngày.”
“Không ai thông báo cô ấy mất tích trong suốt hai tuần liền.” Morgan ghi chép vào tập giấy của mình. “Khủng khiếp thật.”
“Cơ quan điều tra nào phụ trách thế?” Sharp hỏi.
“Văn phòng cảnh sát trưởng hạt Randolph.” Lance đáp.
“Năm 1994, King chưa làm cảnh sát trưởng.” Ghế của Morgan kêu ken két khi cô ngả người về phía sau, bắt tréo chân.
“Đúng.” Sharp lắc đầu. “Hồi ấy, Bob O’ Reilly làm cảnh sát trưởng. Ông ấy qua đời khi đang làm nhiệm vụ vì một cơn trụy tim dưới cái nóng khủng khiếp vào năm 2001. King làm phó. Ông ta chạy đua vào văn phòng và trúng cử, làm cảnh sát trưởng từ đó đến giờ.”
“Để cháu tìm kiếm thông tin về vụ này.” Lance nói. “Cháu sẽ in ảnh của Mary ra.”
Máy in kêu ầm ì rồi nhả ra một tờ giấy. Sharp rút nó ra rồi ghim lên bảng. Mary có đôi mắt nâu và mái tóc nâu dài chấm vai.
Sharp chỉ tay vào bức ảnh. “Trông cô ấy quen không, Lance?”
Lance lắc đầu. “Không ạ.”
Sharp viết tên Mary lên trên bức ảnh. “Lance, tại sao cháu không gọi cho Frank? Nếu chúng ta tìm thấy cô ấy dễ thế này, vậy thì có thể ông ấy đã biết tên cô gái này rồi.”
Sharp lại đi tới đi lui, như thể vận động thể chất khiến não bộ ông thông thái hơn.
Vị bác sĩ pháp y không trả lời. Lance để lại lời nhắn rồi bỏ điện thoại xuống.
“Trong khi chờ đợi, chúng ta nên tiến hành xem xét triệt để hồ sơ và lập danh sách những người cần xác minh và thẩm vấn.” Sharp quay lại với cái bảng. “Morgan, bác muốn cháu tập trung vào toàn bộ hồ sơ. Cháu là người có con mắt ngoài cuộc, không bị ảnh hưởng bởi những định kiến có sẵn.”
“Nếu bác không phiền, cháu muốn lấy bản sao hồ sơ này về cho ông cháu xem...” Morgan nói. "Vì ông cháu có hàng chục năm kinh nghiệm, và chẳng có gì trong tay ngoài thời gian.”
“Cảm ơn cháu.” Sharp bắt đầu tạo một cột mới mang tựa đề Thẩm vấn. Phía dưới, ông liệt kê Stanley Adams và Brian Leed. “Vic đã làm việc cho Công ty Bảo hiểm UpState. Công ty này phá sản vào năm 2012. Tên giám đốc công ty là Phil Dryer. Phil đúng là con người của công việc, trung thành với công ty trong suốt cả sự nghiệp. Địa chỉ cuối cùng của ông ấy nằm trong hồ sơ. Ngoài ra còn một thư ký, Dorothy Finch. Bà ấy đã sáu mươi tuổi vào năm 1994 và đã về hưu khi công ty đóng cửa. Lần cuối cùng bác kiểm tra thì bà ấy đang ở viện dưỡng lão.”
Lance lần tìm trên laptop. “Stan và Brian vẫn sống trong thị trấn. Địa chỉ của họ không hề thay đổi suốt năm năm qua. Cháu tìm thấy một lời cáo phó thông báo cái chết của Dorothy Finch. Phil Dryer không còn sống tại địa chỉ trên.”
Dưới mục Tìm kiếm, Sharp viết tên Phil Dryer.
Như thường lệ, Morgan tự ghi chép vào cuốn sổ riêng. “Vic còn làm gì nữa không? Chắc ông ấy có những sở thích riêng, những mối quen biết riêng. Hồi đó, ông ấy và Jenny có tích cực hoạt động xã hội không ạ?”
“Stan và Brian là tất cả trong cuộc sống xã hội của Vic.” Sharp nói. “Họ cùng chơi bóng chày và cùng đến quán PJ.”
“Có phải cũng là quán PJ nằm trên đường Fletcher Avenue không ạ?” Morgan hỏi.
“Là nó đấy.” Sharp gật đầu. “Hiện nó vẫn đang kinh doanh, vẫn do gia đình đó làm chủ.”
Morgan quay sang Lance. “Anh còn nhớ gì về bạn bè của cha không?”
“Không nhiều lắm.” Lance đáp. “Hồi ấy Stan còn độc thân. Tên vợ của Brian là Natalie. Con cái của họ còn ít tuổi hơn anh. Lần cuối cùng anh gặp, chúng vẫn còn mặc bỉm.” Lance lắc đầu, anh mím môi lại khi nhớ đến sự cô đơn tuyệt đối, u ám sau khi cha mất tích. “Sau khi cha mất tích, anh không còn gặp họ nhiều nữa.”
Sharp hít một hơi sâu. “Có vài chuyện chúng ta chưa bao giờ nói đến. Ngày xưa, khi cháu còn bé, cháu đã phải đương đầu với đủ thứ chuyện rồi, bác không muốn chất gánh nặng lên vai cháu thêm nữa. Nhưng bây giờ, nếu cháu thật sự muốn đào sâu sự mất tích của cha mình, cháu sẽ cần phải tự chuẩn bị tâm lý chấp nhận những chi tiết không mấy dễ chịu.”
Lance ngồi thẳng dậy. Ánh mắt anh nhìn thẳng vào mắt Sharp một lúc trước khi gật đầu. “Cháu biết bác đã giữ kín vài chuyện với cháu. Có thể cháu không muốn lắng nghe sự thật nếu không có cơ hội thật sự tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với ông ấy. Nhưng giờ thì có rồi, đã đến lúc rồi.”
Bao năm qua, anh đã chủ động lảng tránh tìm hiểu thêm về vụ án. Gần như thể anh biết hẳn những sự thật sẽ làm thay đổi các hồi ức về tuổi thơ của mình. Không nghi ngờ gì nữa, anh đã vẽ tranh về khoảng thời gian trước khi cha anh mất tích bằng cây cọ màu hoa hồng. Cũng dễ hiểu vì những tháng năm sau đó chẳng khác gì địa ngục.
“Được rồi.” Sharp hít một hơi sâu. “Hai người bạn của cha cháu, Stan và Brian, cho bác biết rằng Victor rất lo lắng cho sức khỏe tâm thần của vợ ông ấy. Bà đã bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu lo âu và trầm cảm. Bà vẫn đang giảng dạy tại một trường cao đẳng cộng đồng, tuy nhiên rất vất vả. Họ còn nói rằng công ty của cha cháu đang gặp phải rắc rối tài chính. Ông ấy lo lắng sẽ bị cho nghỉ việc. Trên hết, mẹ cháu đang chi tiêu ngày càng mất kiểm soát.”
Lance tiêu hóa thông tin này. Những mảnh hồi ức di chuyển và khớp vào vị trí như một khối rubic. “Vậy cha cháu mất tích không phải là nguyên nhân khiến bà ấy bị bệnh?”
“Không phải.” Sharp đồng tình. “Nhưng nó khiến bà ấy xuống dốc nhanh hơn.”
Theo thông tin này, cuộc hôn nhân của gia đình Kruger không phải là chương ngọt ngào trong cuốn sách Leave It to Beaver như Lance luôn hằng tin. Giờ khi nghĩ về điều đó, phiên bản này hợp lý hơn nhiều.
“Stan và Brian nói rằng Vic không hạnh phúc.” Sharp nói. “Ông ấy không biết nên làm thế nào với các vấn đề của Jenny. Ông ấy đã uống rất nhiều.”
Lance quay lại nhìn tấm bảng, lảng tránh Sharp. Anh vốn luôn biết rằng ông còn chưa tỏ tường hết các chi tiết. Nhưng không điều nào trong số này giải thích được tại sao một thiếu nữ lại nằm chết trong cốp xe của cha anh.
“Chúng ta sẽ chia nhau ra làm việc.” Sharp nói. “Bác sẽ tìm kiếm các ghi chép trực tuyến và Hồ sơ An sinh xã hội về giám đốc cũ của Vic, Phil Dryer. Bác cũng có thể gọi cho vài người để xem có tin đồn nào hay ho quanh vụ này không.” Sharp biết tất cả nhân viên thực thi pháp luật địa phương, những người đã theo vụ này hơn năm năm rồi. “Chúng ta cần kiểm tra lý lịch mới của tất cả những ai có liên quan, và rõ ràng không thể đề nghị Jenny làm hộ chúng ta.”
“Cháu sẽ lo việc này. Không nhanh nhẹn được như mẹ nhưng cháu có thể làm được.” Lance nói.
“Ai đó cần xuống văn phòng thư ký tòa kiểm tra các ghi chép quan trọng. Chúng ta cần tìm hiểu Phil có còn sống hay không. Nếu có thì bác muốn nói chuyện với ông ấy. Có thể vì bây giờ không còn làm việc cho Công ty Bảo hiểm UpState nữa, nên ông ấy sẽ sẵn sàng chia sẻ thông tin hơn hồi trước. Bác thực sự muốn biết công việc của Vic bấp bênh đến mức nào. Phil hẳn sẽ không bao giờ trả lời thẳng với bác về tình hình tài chính của công ty.”
“Chẳng phải các ghi chép này có trên mạng hết rồi sao?” Morgan hỏi. “Nếu ông ấy chết rồi, thì hạt sẽ phải đăng tải giấy chứng tử lên mạng mà.”
“Ở hạt Randolph, cháu có thể đề nghị xem chúng trực tuyến, nhưng cháu sẽ phải chờ một tuần, một tháng hoặc... mãi mãi.” Sharp đáp.
Morgan gật đầu. “Cháu phải đến tòa án đệ trình lên kiến nghị bắt buộc về vụ án DUI* mà cháu đang theo. Đó là vụ của Esposito, nhưng Văn phòng Công tố quá chậm chạp trong việc gửi thông tin cho cháu.”
“Lũ ngốc.” Sharp lắc đầu. “Lance, đi cùng Morgan đến tòa án đi. Cháu có thể kiểm tra các ghi chép quan trọng trong khi con bé trình kiến nghị. Bác không muốn con bé ở một mình cho đến khi thằng rình mò con bé bị tóm.”
DUI là viết tắt của Driving Under the Influence, nghĩa là lái xe trong tình trạng bị ảnh hưởng, lái xe trong khi bị suy yếu, say xỉn, sử dụng ma túy?..