Tôi đang đứng giữa cái phòng trẻ mà con trai tôi sẽ không bao giờ dùng tới.
Nắm tay tôi như hai cái đe ở bên hông; tôi muốn vung chúng lên. Tôi muốn đấm thủng vữa tường. Tôi muốn cả căn phòng chết tiệt này sụp xuống.
Đột nhiên có một bàn tay rắn chắc đặt lên vai tôi. “Con sẵn sàng chưa?”
Francis Mitchum - người bố vợ - đứng sau tôi.
Đây là căn nhà hai hộ của ông ấy - Brit và tôi ở một bên, còn ông ở bên kia. Francis băng ngang căn phòng và giật tấm rèm có hình thỏ Peter Rabbit xuống. Rồi ông đổ sơn ra khay nhỏ và bắt đầu lăn sơn cho tường trắng lại, xóa đi màu vàng nhạt mà Brit và tôi đã dùng cọ phết lên trong chưa đầy một tháng trước. Lớp đầu tiên không che được hết sơn cũ bên dưới, nên màu vàng hé ra, như một vật bị mắc kẹt trong băng giá. Với một hơi thở sâu, tôi trườn xuống dưới cái nôi. Tôi cầm cái cờ-lê Allen và bắt đầu tháo những cái bu lông mà chính tôi đã cẩn thận vặn vào, bởi vì tôi không muốn là lý do khiến chuyện không hay xảy đến với con trai.
Ai mà biết được thực ra đâu cần phải có lý do gì?
Tôi để Brit ngủ cho hết thuốc mê, thế đã là có khởi sắc so với tình trạng hồi sáng của cô ấy ở bệnh viện. Tôi tưởng không gì có thể tệ hơn tràng khóc lóc vật vã chẳng bao giờ dứt, âm thanh vợ tôi tan nát thành muôn mảnh. Nhưng rồi, vào khoảng 4 giờ sáng, tất cả dứt hẳn. Brit chìm vào im lặng. Cặp mắt trống rỗng, vô hồn, cô ấy nhìn về phía bức tường. Vợ tôi không trả lời khi tôi gọi; cô ấy thậm chí không nhìn tôi. Bác sĩ cho thuốc để cô ấy ngủ. Ngủ, họ bảo, là cách tốt nhất để cơ thể tự chữa lành.
Còn tôi, tôi không ngủ, không một chút nào. Nhưng tôi biết giấc ngủ chẳng phải cái giúp mình thấy đỡ hơn. Muốn đỡ hơn thì tôi phải làm một trận cho long trời lở đất, một khắc phá hủy tất cả. Tôi cần phải nện cho ra hết nỗi đau trong người, trút nó vào chỗ khác.
Với một cái vặn cuối cùng của cờ-lê, cái nôi ụp xuống, tấm nệm nặng đè lên ngực tôi. Francis quay lại khi nghe tiếng đổ. “Con có ổn không đó?”
“Ổn,” tôi đáp, bị chèn nghẹn thở. Đau, nhưng đây là kiểu đau tôi hiểu được. Tôi sẽ có một vết bầm; rồi nó sẽ mờ đi. Tôi trườn ra khỏi đống gỗ lộn xộn và dùng gót giày đá lên chúng. “Dù sao thì chắc cái thứ này cũng là đồ bỏ thôi.”
Francis cau mày. “Con định làm gì với nó?”
Tôi không thể giữ nó lại. Tôi biết rằng một ngày kia Brit và tôi có thể lại có con, nếu chúng tôi may mắn, nhưng để cái nôi lại phòng trẻ thì khác nào bắt đứa con sau này ngủ với một hồn ma.
Khi tôi không trả lời, Francis chùi tay vào một cái khăn và bắt đầu gom những mảnh gỗ lại. “Liên hiệp Phụ nữ Aryan[21] sẽ nhận nó,” ông nói. Brit đã đến dự vài cuộc họp của họ. Đó là một nhóm mấy bà mấy cô từng là thành viên của nhóm “da đầu”[22], đến WIC[23] với chứng minh thư giả để lấy sữa bột cho bé miễn phí, bòn rút hệ thống để đem về cho những phụ nữ mà người đàn ông của họ đang dành thời gian chiến đấu vì lý tưởng.
Lúc này thì Francis trông chẳng có gì đáng nói. Ông quản lý đội thợ xây mà tôi làm việc, được đánh giá cũng khá trên trang web dịch vụ nhà cửa Angie’s List, và theo Phong trào Tiệc trà[24]. (Thói cũ của những gã “da đầu” già không mất đi. Họ từng tham gia đảng KKK, nay thì họ theo Tiệc trà. Không tin tôi ư? Đi mà nghe một tay diễn giả già của Klan rồi so với bài nói chuyện của một tên Tiệc trà. Thay vì nói Do Thái, giờ họ nói Chính quyền Liên bang. Thay vì gọi Thằng bóng, họ nói Bọn cùng giuộc Xã hội của Đất nước Chúng ta. Thay vì nói Mọi đen, họ nói Bọn trợ cấp.) Thế nhưng vào những năm 80 - 90, ông là một huyền thoại. Đội quân Liên minh Da trắng của ông có sức ảnh hưởng không kém cạnh Quân Kháng chiến Aryan Trắng của Tom Metzger, Nhà thờ của Người sáng tạo của Matt Hale, Quân Kháng chiến Quốc gia của Pierce, và Quốc gia Aryan của Richard Butler[25]. Khi đó ông một mình nuôi Brit, và đội khủng bố của ông tung hoành khắp đường phố New Haven, mang theo búa, gậy hockey gãy, dùi cui, ống đồng - tẩn cho những thằng da đen, đồng bóng và Do Thái một trận trong khi Brit, vẫn còn là đứa bé, ngủ thiêm thiếp trong xe.
Thế nhưng khi mọi thứ bắt đầu thay đổi vào giữa thập niên 90 - chính quyền đàn áp các băng nhóm “da đầu” - những người lãnh đạo như Francis bỗng thấy mình bị treo lên bởi chính những quả cầu đồng của họ, dẫn đến nhà tù. Francis hiểu rằng nếu bạn không muốn bị bẻ gãy, bạn phải chịu cúi mình. Ông là người đã thay đổi kết cấu của phong trào Quyền lực Trắng, chuyển nó từ một tổ chức lớn thành từng nhóm đồng minh nhỏ có khuynh hướng chính trị chung, ông bảo chúng tôi để tóc mọc dài ra. Vào đại học. Gia nhập quân đội. Trà trộn với mọi người. Với sự giúp đỡ của tôi, ông tạo lập và điều hành một trang web cùng diễn đàn. Chúng ta không phải là những đội quân tách khỏi xã hội nữa, ông nhắc đi nhắc lại với tôi. Chúng ta là những nhóm người ôm bất mãn ẩn trong lòng hệ thống.
Và hóa ra, người ta còn kinh sợ hơn khi biết rằng chúng tôi đi và sống giữa xã hội của bọn họ, ẩn mình.
Tôi nghĩ về việc Liên hiệp Phụ nữ Aryan lấy cái nôi đi. Cái bàn thay tã mà tôi mua lại được từ một đợt thanh lý đồ cũ rồi đánh bóng bằng cát. Những bộ quần áo trẻ em mà Brit đã chọn ở Goodwill, gấp lại gọn gàng trong tủ. Phấn và dầu gội và bình sữa trẻ em. Tôi nghĩ về việc những đứa trẻ khác con tôi, còn sống, sẽ sử dụng chúng.
Tôi đứng dậy nhanh đến chóng mặt, và thấy mình đang nhìn vào một tấm gương có sơn những quả bong bóng nhỏ trên khung. Tôi nhớ có một ngày mình đi làm về, thấy Brit ngồi bên bàn với cọ vẽ trong tay và tôi trêu rằng vợ tôi đã biến thành Martha Stewart[26]. Brit nói rằng cô ấy chỉ có chung một thứ duy nhất với Martha Stewart và đó là một cái đĩa nhạc, nhưng cô ấy bật cười. Brit vẽ một quả bóng bay lên má tôi, tôi hôn cô ấy và trong khoảnh khắc đó, ôm người bạn đời trong vòng tay với đứa con chưa lọt lòng ở giữa, mọi thứ thật là hoàn hảo.
Bây giờ thì mắt tôi quầng thâm; râu đã bắt đầu mọc dài; tóc tai dính bết. Tôi trông như một kẻ đang trốn chạy khỏi thứ gì đó.
“Chết tiệt,” tôi lầm bầm, rồi tông cửa ra khỏi phòng trẻ vào nhà tắm.
Ở đó, tôi tìm thấy cái máy cạo râu của mình. Tôi cắm nó vào và bằng một cú lia thật gọn, cạo thẳng một đường giữa đầu. Tôi lần lượt đẩy máy qua hai bên, để những chùm tóc rơi lên vai và vào bồn rửa. Như có phép thuật, khi tóc bị cạo hết, một cái hình lộ ra ngay đỉnh đầu tôi, trên đường chân tóc: một chữ thập ngoặc đậm đen, với chữ cái đầu tên tôi và Brit bện thành điểm giữa.
Tôi đã xăm nó khi cô ấy đáp vâng, em sẽ lấy anh.
Khi đó tôi 21, và là một thằng khá là kinh tởm.
Lúc tôi đến cho Brit xem cái hình để chứng tỏ tình yêu, cô ấy chưa kịp nhận xét gì thì Francis đã bước tới và đập lên sau đầu tôi một cú rõ mạnh. “Tưởng mày nhìn ngu thôi ai dè mày ngu thật hả con?” ông hỏi. “Có chỗ nào của trà trộn mà mày không hiểu hả?”
“Đó là bí mật của con,” tôi bảo ông, và mỉm cười với Brit. “Bí mật của chúng con. Khi tóc con mọc dài ra thì sẽ chẳng ai biết có nó ở đó, ngoài hai đứa tụi con.”
“Rồi rủi mày bị hói thì sao hử?” Francis vặn hỏi.
Ông nhận ra ngay, từ vẻ mặt của tôi, rằng tôi chưa nghĩ tới chuyện đó.
Hai tuần tiếp theo Francis không để tôi ra khỏi nhà ông một bước, cho đến khi tất cả những gì bạn thấy được là một vết gì đó đen đen dưới lớp tóc đinh trông từa tựa bị ghẻ.
Giờ đây, tôi lấy một cái lưỡi thẳng, chút kem cạo và xử nốt mớ tóc còn lại. Tôi vuốt lên cái đầu nhẵn bóng. Cảm giác nhẹ hẳn ra. Tôi nghe được chuyển động của không khí sau tai.
Tôi trở lại phòng trẻ, giờ không còn là phòng trẻ nữa. Cái nôi đã biến mất, và mấy món nội thất còn lại thì chất ngoài hành lang. Các thứ khác đã nằm gọn trong thùng, nhờ Francis. Trước khi Brit được ra viện chiều nay, tôi sẽ kéo lại vào đây một cái khung giường và tủ đầu giường, vợ tôi sẽ thấy nó trong bộ dạng một phòng dành cho khách như mấy tháng trước.
Tôi nhìn Francis không chớp mắt, thách ông thách thức tôi. Mắt ông lần theo đường viền của cái hình xăm, như thể đang sờ lên một vết sẹo. “Ta hiểu rồi, con trai,” ông nhẹ nhàng nói. “Con sẽ ra trận.”
Không có gì tệ hơn là rời bệnh viện mà không có đứa con bạn đã vào đấy để sinh ra. Brit ngồi trong xe lăn (thủ tục bệnh viện) được đẩy bởi một hộ lý (cũng là thủ tục nốt). Tôi được cắt đặt đi sau cùng, một chiếc mũ kéo sụp xuống trán. Brit không rời mắt khỏi đôi bàn tay, gấp lại đặt trên đùi. Chỉ là tôi cảm thấy thế, hay đúng là mọi người nhìn chòng chọc chúng tôi? Phải chăng họ tự hỏi có vấn đề y học gì với người phụ nữ không bị trọc đầu, không bó bột và nhìn bề ngoài không có gì bệnh hoạn?
Francis đã tấp chiếc SUV vào lối xe chạy hình móng ngựa của bệnh viện. Một nhân viên bảo vệ mở cửa sau trong lúc tôi đỡ Brit đứng lên khỏi chiếc xe lăn. Tôi kinh ngạc thấy vợ mình sao mà nhẹ bỗng, và trong một khoảnh khắc, tôi e rằng cô ấy sẽ trôi xa tôi ngay khi bàn tay nhỏ buông tay vịn xe đẩy ra.
Trong một phút, nỗi hốt hoảng thoáng qua gương mặt vợ tôi. Tôi nhận ra Brit đang co lại trước cái hang động tối đen là ghế sau xe, chừng như có một con quái vật nấp trong đó.
Hoặc một chiếc ghế cho trẻ nhỏ.
Tôi choàng tay qua eo vợ. “Em yêu,” tôi thì thầm. “Không sao mà.”
Sống lưng Brit cứng cáp lên, và cô ấy lấy hết dũng khí rồi khom người trèo vào xe. Khi vợ tôi nhận ra bên cạnh chỗ ngồi không có ghế cho trẻ nhỏ, toàn bộ cơ bắp trong người cô ấy thả lỏng. Brit ngả người ra ghế và mắt nhắm lại.
Tôi ngồi vào ghế trước. Francis bắt gặp ánh mắt tôi và nhướng mày lên. “Con cảm thấy thế nào, bọ bé bỏng?” ông hỏi, dùng tên gọi yêu hồi còn bé của cô con gái.
Vợ tôi không trả lời. Cô ấy chỉ lắc đầu khi một giọt nước mắt thật to lăn dài xuống má.
Francis khởi động xe và vội vã lái đi khỏi lối xe chạy của bệnh viện, làm như chạy nhanh thế thì ông có thể bỏ lại mọi chuyện đã xảy ra nơi này.
Ở nơi đâu đó, trong một cái tủ lạnh giữa một tầng hầm, là con trai tôi. Cũng có thể lúc này thằng bé đã được đưa đi, bị mổ tung ra như một con gà tây ngày lễ Tạ ơn trên bàn nhân viên chuyên điều tra những cái chết bất thường.
Tôi có thể bảo cho ông ta biết chuyện gì đã xảy ra. Tôi có thể kể cho ông ta chuyện kinh khủng mà tôi thấy hiện rõ mồn một mỗi lần nhắm mắt: con khốn da đen đó dộng vào lồng ngực trai tôi.
Lúc đó cô ta ở một mình với Davis. Tôi tình cờ nghe được các y tá khác nói thế, ngoài hành lang. Cô ta ở một mình, trong khi cô ta không được phép làm vậy. Ai biết chuyện gì đã xảy ra, khi không có ai trông chừng?
Tôi trộm nhìn sang Brit. Khi nhìn vào mắt vợ, tôi thấy chúng trống rỗng vô hồn.
Lỡ như điều tệ hại nhất không phải là chuyện tôi đã mất con trai? Lỡ như tôi cũng mất luôn cả vợ mình?
Sau khi xong cấp ba, tôi chuyển đến Hartford và kiếm được việc làm ở hãng súng Colt. Tôi có dự vài lớp ở trường đại học địa phương nhưng mấy thứ tự do rác rưởi mà đám giáo sư rao giảng làm tôi chướng đến nỗi phải nghỉ. Thế nhưng tôi vẫn tới lảng vảng quanh cái trường đó. Thành viên đầu tiên mà tôi chiêu mộ được là một đứa chuyên trượt ván, đứa nhóc ốm nhách tóc dài đã chen ngang trước mặt một thằng da đen đang xếp hàng ở quán cà phê sinh viên. Thằng da đen xô nó ra, và Yorkey đẩy ngược lại thằng đó rồi nói, “Nếu mày ghét ở đây đến thế thì hãy cút về châu Phi đi.” Trận chiến thức ăn xảy ra sau đó thật là hoành tráng, và nó kết thúc khi tôi chìa tay ra cho Yorkey và kéo thằng nhỏ ra khỏi cuộc ẩu đả. “Mày biết không,” tôi nói khi chúng tôi đứng ngoài rít thuốc. “Mày không nhất thiết phải là nạn nhân.”
Rồi tôi đưa Yorkey một bản Lời Hiệu Triệu, tờ thông báo Dân tộc đạo Hồi mà tôi làm giả và dán lên các bảng tin trên khắp khuôn viên trường. “Mày thấy cái này không?” tôi nói, bắt đầu bước đi vì biết thằng nhóc sẽ theo chân. “Mày muốn tao bảo mày tại sao chẳng có ai hiên ngang tiến vào hội sinh viên da đen và bắt hết chúng vì phát ngôn thù hận không? Và nhân thể nói luôn, tại sao không có hội sinh viên da trắng hả?”
Yorkey khịt mũi. “Bởi vì,” thằng nhỏ nói, “thế là phân biệt đối xử.”
Tôi nhìn Yorkey như thể nó là Einstein. “Chính xác.”
Sau đó, mọi chuyện thật dễ dàng. Chúng tôi tìm những đứa bị tụi chơi thể thao bắt nạt và can thiệp, để chúng biết chúng có người bảo vệ. Chúng tôi rủ bọn này đi chơi cùng sau giờ học, và trong khi lái đi, tôi mở một danh sách toàn nhạc Screwdriver, No Remorse, Bezerker, Centurion. Những ban nhạc da trắng nghe như ma quỷ gầm rú; khiến ta muốn quấy rối và gây sự với thế giới này.
Tôi làm cho bọn nhỏ này tin rằng chúng có giá trị, đơn giản chỉ vì màu da chúng mang từ khi được sinh ra. Khi chúng phàn nàn về bất kỳ chuyện gì ở trường, từ thủ tục nhập học đến đồ ăn, tôi nhắc chúng nhớ rằng hiệu trưởng là một thằng Do Thái, và tất cả là một phần trong kế hoạch lớn của Chính quyền Do Thái Chiếm đóng[27] nhằm kim hãm chúng tôi. Tôi dạy cho chúng biết “Chúng tôi” có nghĩa là “Người da trắng”.
Tôi lấy đi “cỏ” và thuốc lắc của chúng rồi vứt hết vào thùng rác, vì bọn con nghiện là đám chuyên hớt lẻo. Tôi cải tạo chúng theo hình tượng của tôi. “Tao có một đôi Doc Martens ngon lắm,” tôi bảo Yorkey. “Đúng cỡ chân mày đấy. Nhưng không đời nào tao giao đôi giày cho một thằng đầu tóc đã nhờn lại còn buộc búi.” Ngày hôm sau, thằng nhãi xuất hiện với bộ tóc cắt ngắn gọn gàng; gáy cạo sạch. Chẳng mấy chốc, tôi đã tạo ra được một đội quân của riêng mình để tung hoành: tiểu đội mới thành lập ở Hartford của TĐBM.
Tôi cá mình đã dạy cho đám sinh viên ở cái trường đó nhiều điều hơn bất cứ lão giáo sư thứ dữ nào. Tôi chỉ cho chúng thấy sự khác biệt cơ bản giữa các sắc tộc. Tôi chứng tỏ rằng nếu không phải là thú ăn thịt, anh chính là con mồi.
Tôi choàng tỉnh giấc, người đầm đìa mồ hôi, cố vùng vẫy thoát khỏi cơn ác mộng. Ngay lập tức, tôi đưa tay sang bên tấm trải giường lần tìm Brit, nhưng không có ai ở đó.
Tôi quơ chân xuống giường và bắt đầu mò đi, chật vật luồn lách giữa bóng tối như thể đó là một đám đông. Tôi đang tỉnh nhưng chẳng khác mộng du, bị hút về căn phòng mà Francis và tôi đã vất vả sơn lại trước khi Brit được trả về từ bệnh viện.
Vợ tôi đang đứng ở lối vào, đôi tay choàng ôm lấy thân mình, như thể cô ấy cần nâng đỡ mới đứng nổi. Ánh trăng rọi qua cửa sổ, nên vợ tôi bị mắc kẹt giữa cái bóng của chính mình. Trong khi mắt tôi làm quen với bóng tối, tôi cố gắng nhìn xem vợ thấy gì: chiếc ghế bành cũ với tấm khăn lót ren phủ bên trên; cái khung sắt của chiếc giường đôi cho khách. Bức tường, đã trắng trở lại. Tôi vẫn còn ngửi được mùi sơn mới.
Tôi hắng giọng. “Bọn anh nghĩ rằng thế này em sẽ đỡ bận lòng,” tôi nói, giọng thật khẽ.
Vợ tôi quay lại, nhưng chỉ quay một nửa, nên trong một khoảnh khắc cô ấy trông như thể được làm từ ánh sáng. “Nếu như chuyện đó chưa từng xảy ra thì sao?” Brit thì thầm. “Nếu như tất cả chỉ là một cơn ác mộng?”
Vợ tôi đang mặc một chiếc áo flannel của tôi - cô ấy thích mặc chúng đi ngủ - và đôi bàn tay xòe ra úp trên bụng.
“Brit,” tôi gọi, bước một bước về phía cô ấy.
“Lỡ như chẳng ai nhớ tới thằng bé thì sao?”
Tôi vòng tay choàng ôm vợ vào lòng, nghe hơi thở của cô ấy tạo thành một vòng nóng hổi trên lồng ngực. “Em yêu,” tôi thề với người bạn đời, “anh sẽ không để họ quên đâu.”
Tôi có một bộ vét. Chính xác thì Francis và tôi có một bộ vét mà chúng tôi thay nhau mặc. Khi mà buổi sáng bạn đi xây tường và tối về điều hành trang web Quyền lực Trắng thì chẳng cần quần áo là lượt làm gì. Thế nhưng chiều hôm sau, tôi khoác vào bộ vét - đen, sọc nhỏ, kiểu đồ mà tôi nghĩ Al Capone[28] mặc thì sẽ ra dáng lắm - với sơ mi trắng cùng cà vạt, rồi Brit và tôi lái xe trở lại bệnh viện để gặp Carla Luongo, luật sư Quản lý Rủi ro đã đồng ý gặp chúng tôi.
Thế nhưng khi bước ra khỏi nhà tắm, râu tóc đã cạo sạch và cái hình xăm phía sau đầu nổi bần bật không lẫn vào đầu được, tôi ngạc nhiên thấy Brit cuộn người trên giường trong chiếc áo sơ mi và quần vải flannel của mình. “Em yêu ạ,” tôi gọi. “Chúng ta có cuộc hẹn với luật sư, em nhớ chứ?” tôi vừa bảo vợ nửa giờ trước thôi. Không đời nào cô ấy quên được.
Mắt Brit đảo về phía tôi như thể chúng là bi trong bạc đạn, đặt lỏng lẻo trong đầu. Lưỡi cô ấy lận từng từ trong miệng như thể chúng là thức ăn. “Không... muốn... trở... lại... đó.”
Vợ tôi quay lưng lại, trùm chăn lên, và đó là lúc tôi thấy cái lọ trên tủ đầu giường: những viên thuốc ngủ bác sĩ cho để cô ấy qua được giai đoạn khó khăn. Tôi hít một hơi sâu rồi kéo vợ dậy. Cô ấy như một bao cát; nặng nề và bất động. Tắm, tôi chớm nghĩ, nhưng thế thì tôi phải vào với vợ, mà chúng tôi không có thời gian. Thay vào đó, tôi lấy ly nước trên bàn cạnh bên giường và dội lên mặt vợ. Cô ấy bị sặc nước, nhưng nhờ vậy đã tự ngồi dậy được. Tôi lột bộ pijama của vợ ra và quơ lấy những thứ đầu tiên coi tạm được tôi tìm thấy trong tủ đồ - một chiếc quần và áo len đen cài nút phía trước. Trong khi mặc quần áo cho người bạn đời, tôi bất chợt thấy thoáng hiện ra trong trí cảnh chính mình làm thế cho con, và rốt cuộc đã kéo tay Brit mạnh đến nỗi cô ấy kêu lên, khiến tôi vội hôn lên cổ tay vợ. “Anh xin lỗi, em yêu,” tôi thì thầm, và nhẹ nhàng hơn, tôi lấy lược chải lên tóc vợ rồi dốc hết tài khéo của mình ra để buộc túm nó lại thành một cái đuôi ngựa. Tôi nhét chân Brit vào một đôi giày đen nhỏ nhắn mà có khi là dép đi trong nhà tắm rồi bế vợ lên tay đỡ ra xe.
Tới lúc chúng tôi đến bệnh viện, cô ấy gần như bất động. “Chỉ cần giữ cho mình tỉnh là được,” tôi nài nỉ, để vợ tựa hẳn vào bên người mình khi hai vợ chồng tôi bước vào trong. “Vì Davis.”
Có lẽ điều đó đã chạm tới Brit, bởi vì khi chúng tôi được đưa vào văn phòng luật sư, mắt của cô ấy đã mở to hơn đôi chút.
Carla Luongo là người một nước nói tiếng Tây Ban Nha, đúng như tôi đã đoán từ tên gọi. Cô này ngồi vào một chiếc ghế đơn và mời vợ chồng tôi ngồi ghế dài. Tôi thấy cô ta gần như nuốt mất cái lưỡi khi tôi cởi bỏ nón len. Tốt. Để cô ta biết mình đang phải làm việc với ai, ngay từ lúc bắt đầu.
Brit tựa vào tôi. “Vợ tôi,” tôi giải thích, “không được khỏe.”
Nữ luật sư gật đầu với vẻ thông cảm. “Anh và chị Bauer, trước hết xin cho tôi được nói rằng tôi thật sự rất xin lỗi vì mất mát của anh chị.”
Tôi không trả lời.
“Tôi chắc rằng anh chị có nhiều câu hỏi,” Luongo mở lời.
Tôi nghiêng người về phía trước. “Tôi không có câu hỏi gì cả. Tôi biết chuyện gì đã xảy ra. Y tá da đen đó đã giết con trai tôi. Tôi đã tận mắt trông thấy cô ta đập lên ngực thằng bé. Tôi đã bảo cấp trên của cô ta rằng tôi không muốn cô ta động vào đứa con nhỏ của mình, để rồi xem chuyện gì đã xảy ra? Nỗi sợ lớn nhất của tôi đã thành sự thực.”
“Tôi tin rằng anh có thể nhận ra cô Jefferson chỉ làm nhiệm vụ của cô ấy...”
“Ồ, thế à? Nhiệm vụ của cô ta là làm trái lệnh của sếp hả? Tất cả đã được ghi rõ trong hồ sơ của Davis rồi đấy.”
Nữ luật sư đứng dậy để lấy một tập hồ sơ trên bàn. Một bên nó đã được dán stickers đủ màu như kim tuyến ngày hội mà tôi đoán chắc là một thứ mật mã gì đó. Cô ta mở nó ra, và ngồi ở tận đây tôi vẫn thấy được tờ ghi chú. Cánh mũi cô này phổng ra, nhưng nữ luật sư không bình luận.
“Cô y tá đó không được phép chăm sóc con trai tôi,” tôi nói, “vậy mà người ta để cô ả ở lại một mình với nó.”
Carla Luongo nhìn tôi. “Làm sao anh biết được điều đó, anh Bauer?”
“Bởi vì nhân viên của cô không thể giữ mồm. Tôi nghe chính cô ta nói lúc đó cô ta đang làm thay cho y tá khác. Mới hôm trước, cô ta đã làm ầm lên, chỉ vì tôi yêu cầu không để cô ta phụ trách ca của con tôi. Và chuyện gì đã xảy ra? Cô ta đánh đập con tôi. Tôi trông chừng cô ta mà,” tôi nói, nước mắt bỗng dưng dâng trào. Tôi lập tức chùi đi, cảm thấy mình thật ngu ngốc và yếu đuối. “Cô biết gì không? Dẹp mẹ đi. Tôi sẽ cho bệnh viện của các người dẹp tiệm luôn. Các người đã giết con trai tôi; các người sẽ phải trả giá.”
Nói thật tình thì tôi không biết cóc khô gì về cách hoạt động của hệ thống pháp luật; trước nay tôi đã cố hết sức để tránh bị cảnh sát tóm. Thế nhưng tôi đã xem đủ quảng cáo để tin rằng nếu bạn có thể moi được tiền từ một vụ kiện đại diện cho tập thể bị bệnh phổi do a-mi-ăng gây ra, chắc chắn bạn có thể khiếu nại nếu đứa con nhỏ của bạn bị chết trong khi lẽ ra thằng bé phải được chăm sóc y tế theo lựa chọn.
Tôi chụp lấy áo vét bằng một tay và gần như lôi Brit ra cửa văn phòng. Tôi vừa xoay xở mở được nó thì nghe tiếng nữ luật sư vang lên đằng sau. “Anh Bauer,” cô ta hỏi. “Vì sao anh lại kiện bệnh viện?”
“Cô giỡn mặt tôi hả?”
Cô ta bước một bước về phía trước, nhẹ nhàng nhưng chắc chắn khép lại cửa văn phòng. “Sao anh lại kiện bệnh viện?” cô ta lặp lại, “trong khi tất cả mọi thứ đều chỉ ra rằng Ruth Jefferson là người đã giết con anh?”
Khoảng một năm sau khi bắt đầu chỉ huy đoàn TĐBM ở Hartford, chúng tôi đã có thu nhập ổn định. Tôi có thể lấy súng từ Colt bằng cách làm giả bản kiểm kê, rồi bán chúng trên đường phố. Chúng tôi chủ yếu bán cho bọn da đen, bởi vì dù sao thì bọn này cũng chỉ dùng súng giết nhau thôi, và cũng vì chúng trả cho một món vũ khí cái giá cao gấp ba lần so với tụi người Ý. Yorkey cùng tôi lo mấy vụ mua bán này, và một đêm nọ khi chúng tôi đang trên đường về nhà sau một vụ như thế thì một chiếc xe cảnh sát đậu lại sau tôi, đèn chớp sáng.
Yorkey sợ vãi cả đái. “Chết tiệt. Chúng ta làm gì bây giờ?”
“Chúng ta tấp vào,” tôi bảo thằng nhỏ. Chúng tôi cũng đâu còn giữ cái súng chôm chỉa trong xe nữa. Theo tất cả những gì bọn cảnh sát này biết thì Yorkey và tôi đang trên đường về từ một bữa tiệc ở căn hộ của người bạn. Thế nhưng khi mấy tay cảnh sát yêu cầu chúng tôi ra khỏi xe, Yorkey vã mồ hôi như một thằng thợ mỏ. Trông nó đúng kiểu một thằng tội phạm mới làm bậy, có lẽ vì thế nên cảnh sát mới lục soát xe. Tôi cứ chờ đợi thôi, vì tôi biết mình chẳng có gì để giấu.
Hóa ra là Yorkey không thể nói điều tương tự. Khẩu súng không phải là vụ mua bán duy nhất diễn ra tối đó. Trong lúc tôi đang thương lượng, Yorkey đã mua cho chính nó ba gram rưỡi ma túy đá.
Nhưng vì cái thứ đó nằm trong hộc đựng găng của tôi, tôi mới là thằng phải gánh tội.
Về chuyện đi tù, cần phải nói là tôi hiểu rõ thế giới đó, nơi mà mọi người được chia thành từng nhóm bởi sắc tộc. Bản án tôi phải thi hành vì sở hữu hàng cấm kéo dài sáu tháng, và tôi dự định sẽ dành từng phút một trong khoảng thời gian ấy để lên kế hoạch trả thù. Yorkey đã chơi thuốc trước khi gia nhập TĐBM; đó là một phần văn hóa của dân trượt ván. Nhưng đội của tôi, chúng không động tới thuốc. Và chắc chắn là chúng không tuồn hàng qua hộc đựng găng của tôi.
Trong nhà lao dài hạn, băng đảng da đen đông hơn hẳn các nhóm khác, thế nên thỉnh thoảng băng Mỹ La-tinh và băng da trắng sẽ hợp lại với nhau. Thế nhưng khi ở tù ngắn hạn, căn bản là bạn chỉ cố gắng giữ cho mình cái đầu lạnh và tránh đâm nó vào rắc rối. Tôi biết rằng nếu tình cờ có người của phong trào Quyền lực Trắng đang thi hành án, sớm muộn họ cũng sẽ tìm được tôi - tôi chỉ mong rằng bọn da đen không tìm ra tôi trước.
Tôi bắt đầu chúi mũi vào một quyển Kinh thánh. Tôi cần có Chúa trong đời mình, bởi vì vụ của tôi được giao cho một luật sư công bào chữa, mà khi bạn có một luật sư công, tốt nhất là bạn nên hy vọng rằng Chúa cũng đứng về phía mình. Thế nhưng tôi không đọc phần kinh mà tôi đã đọc trước đây, khi học giáo lý Bản sắc Kitô giáo. Thay vào đó, tôi thấy mình nghiền ngẫm đến mòn góc những trang nói về nỗi đau khổ, sự cứu rỗi và hy vọng. Tôi ăn chay, vì đâu đó trong Kinh thánh bảo vậy. Và trong kỳ ăn chay, Chúa bảo hãy làm sao để vây quanh tôi là những người giống như mình.
Vì vậy ngày hôm sau, tôi tìm đến nhóm học Kinh thánh trong tù.
Tôi là thằng duy nhất không mang màu da đen.
Thoạt đầu chúng tôi chỉ trừng mắt nhìn nhau. Rồi tay chủ trì buổi họp mặt hất cằm về phía một thằng không lớn hơn tôi là mấy, và thằng đó tránh ra chừa tôi một chỗ. Tất cả chúng tôi nắm tay nhau, và khi tôi nắm tay thằng bên cạnh, bàn tay đó cũng mềm mại, như tay của cha tôi hồi trước. Tôi chả hiểu làm thế quái nào ý nghĩ đó lại nảy ra trong đầu, nhưng đó là điều tôi nghĩ, khi họ bắt đầu đọc to Kinh Lạy Cha, bất giác tôi cũng lẩm nhẩm theo họ.
Tôi đến họp nhóm Học Kinh thánh hằng ngày. Khi đọc kinh xong, chúng tôi nói Amen rồi Ike Bự, thằng điều hành nhóm, sẽ hỏi “Ngày mai ai phải ra tòa?” Bao giờ cũng có người lên tiếng đáp rằng họ phải dự điều trần sơ bộ hoặc tay cảnh sát bắt họ làm chứng hay cái gì đó tương tự, và Ike Bự sẽ nói, “Được rồi, vậy thì hãy cầu nguyện cho thằng cha cảnh sát đó không phản anh bạn,” rồi tìm một đoạn trong Kinh thánh nói về sự chuộc lỗi.
Twinkle là cái đứa da đen cỡ tuổi tôi. Hai thằng tôi trò chuyện rất nhiều về bọn con gái, càm ràm là sao nhớ cảm giác cặp kè với bọn này quá xá. Thế nhưng tin hay không thì tùy, chúng tôi nói về mấy món bên ngoài mà hai thằng thèm ăn còn nhiều hơn. Tôi, tôi sẵn sàng phạm trọng tội để được chén Taco Bell; Twinkle chỉ muốn xơi mì hộp Chef Boyardee. Vì lý do nào đó, màu da thằng này chẳng nhằm nhò gì mấy. Nếu gặp nhau trên đường phố Hartford, hẳn tôi đã tẩn nó một trận. Thế nhưng trong tù lại khác. Hai thằng hợp sức lúc chơi bài, gian lận nhờ ra dấu bằng tay hoặc đảo mắt theo kiểu đã lén bàn riêng với nhau, vì ai mà ngờ được cái thằng Quyền lực Trắng và một đứa nhóc da đen lại bắt tay tác chiến.
Một ngày nọ, tôi đang ngồi trong phòng sinh hoạt chung cùng mấy thằng da trắng thì một vụ bắn nhau giữa băng nhóm được đề cập trong bản tin trưa. Bình luận viên trên TV nhận xét về việc xả đạn lung tung, rằng nhiều người vô tình trúng đạn lạc. “Đó là lý do nếu có bao giờ bọn tao bắn nhau với mấy băng nhóm da đen,” tôi nói, “bọn tao luôn thắng. Tụi nó không đi tập bắn bia như chúng ta. Tụi nó làm sao biết cách cầm vũ khí, coi cái tay cầm cứng chết kìa. Đúng kiểu chơi ngu quen thuộc của đám mọi đen.”
Twinkle không ngồi chung với bọn tôi, nhưng tôi có thể thấy nó ở bên kia phòng. Mắt nó sượt qua chỗ tôi, rồi trở lại với cái việc nó đang làm. Sau đó cùng ngày, chúng tôi chơi bài ăn thuốc lá, và tôi ra dấu bảo nó ra con rô, bởi vì tôi đang định cắt con rô để tới bằng lá bài chủ. Thay vào đó, thằng này đi con chuồn, làm chúng tôi thua cuộc. Khi hai thằng ra khỏi phòng sinh hoạt chung, tôi quay qua nó. “Khi nãy mày làm quái gì vậy, thằng kia? Tao ra dấu cho mày rồi mà.”
Nó nhìn thẳng vào tôi. “Chắc là kiểu chơi ngu quen thuộc của đám mọi đen đấy,” nó đáp.
Tôi nghĩ: Chết tiệt, mình đã làm nó tổn thương. Rồi tôi nghĩ lại ngay: Vậy thì sao chứ?
Sau đợt đó tôi cũng không thôi văng ra cái từ nọ. Nhưng tôi phải thừa nhận, thỉnh thoảng khi nói thế, nó mắc trong họng tôi như xương cá trước khi tôi khạc được nó ra.
Francis tìm thấy tôi khi tôi vừa thọt chiếc giày ống qua cửa sổ phía trước căn nhà, đạp mạnh khung cửa để nó đổ ụp ra hiên trong một cơn mưa vụn gỗ và mảnh kính. Ông khoanh tay, nhướng mày.
“Khung mục rồi,” tôi giải thích. “Và con không có đồ nạy.”
Với một cái lỗ toang hoác trên tường, gió lạnh lùa vào thông thốc. Cảm giác thật dễ chịu, vì tôi đang phừng phừng lửa nộ.
“Hẳn là chuyện này không liên quan gì tới cuộc họp,” Francis nhận xét, giọng điệu ám chỉ rằng nó quá liên quan tới nửa tiếng cuối cùng của tôi ở sở cảnh sát địa phương. Đó là điểm dừng chân tiếp theo của tôi sau bệnh viện. Tôi thả Brit xuống ở nhà, vợ tôi bò lại vào giường ngủ, rồi tôi lái xe thẳng tới đó.
Cuộc họp của tôi, nói trắng ra thì còn chẳng ra cuộc họp. Chỉ là tôi ngồi đối diện một tay cảnh sát mập lù tên MacDougall trong lúc gã ghi lại lời khiếu nại về Ruth Jefferson của tôi. “Thằng cha đó nói sẽ coi qua vụ này,” tôi lẩm bẩm. “Thế tức là con sẽ chẳng bao giờ nhận được phản hồi gì từ hắn.”
“Con đã nói gì với thằng chả?”
“Nói rằng con khốn đó đã giết đứa con nhỏ của con.” MacDougall không biết gì về con trai tôi hay chuyện đã xảy ra ở bệnh viện, vì vậy tôi phải kể lại toàn bộ câu chuyện đau lòng đó từ đầu. MacDougall hỏi tôi muốn thằng chả làm gì, như thể ý định của tôi chưa rõ rành rành vậy.
“Tôi muốn chôn cất con trai mình,” tôi bảo hắn. “Và tôi muốn cô ta phải trả giá cho việc cô ta đã làm.”
Tay cảnh sát hỏi có khi nào tôi chỉ đang quá đau buồn không. Lỡ như tôi đã hiểu sai cái mình trông thấy. “Cô ta không chỉ thực hiện hô hấp nhân tạo,” tôi thuật lại với MacDougall. “Cô ta làm đau con tôi. Một bác sĩ còn bảo cô ta nhẹ tay lại.”
Tối nói rằng nữ y tá đã thù tôi từ trước. Lập tức tay cảnh sát liếc nhìn hình xăm tôi mang trên đầu. “Không giỡn,” hắn ta buông một câu.
“Đó là một tội ác chết tiệt nhằm vào chủng tộc, chính xác là vậy đấy,” lúc này tôi nói với Francis. “Thế nhưng Chúa cấm người ta đứng lên chiến đấu cho người Mỹ da trắng, mặc dù bây giờ chúng ta là nhóm thiểu số.”
Bố vợ ngồi xuống bên cạnh tôi, bẻ một mẩu kim loại chống thấm nước trên lỗ cửa sổ bằng tay không. “Con đang giảng giáo lý cho dàn đồng ca nhà thờ đó Turk, ta thì còn lạ gì,” ông nói.
Có thể Francis đã không đi diễn thuyết về Quyền lực Trắng nhiều năm nay, nhưng trong một cái kho khóa kín cách đây ba dặm, tôi tình cờ được biết ông đang tích trữ vũ khí cho cuộc chiến sắc tộc thần thánh. “Ta hy vọng con có ý định trám cái lỗ này lại,” Francis nói, và tôi vờ như ông không phải đang nói chuyện cái cửa sổ.
Ngay lúc đó thì điện thoại di động của tôi đổ chuông. Tôi lôi nó ra từ trong túi, nhưng không nhận ra con số trên màn hình. “A lô?”
“Anh Bauer phải không? Đây là Trung úy MacDougall. Tôi vừa tiếp chuyện anh sớm nay?”
Tôi siết tay lại quanh điện thoại và quay đi, dựng nên một bức tường riêng tư với tấm lưng của mình.
“Tôi báo cho anh biết rằng tôi đã có cơ hội nói chuyện với bộ phận Quản lý Rủi ro ở bệnh viện, cũng như bác sĩ pháp y. Carla Luongo xác nhận câu chuyện của anh. Bác sĩ pháp y có thể nhận định rằng con trai anh mất vì tai biến hạ đường huyết, dẫn đến tình trạng ngưng thở rồi sau đó là ngưng tim.”
“Thế nghĩa là gì?”
“Ừm,” MacDougall đáp, “giấy chứng tử đã được gửi đến bệnh viện. Anh có thể chôn con trai mình.”
Tôi nhắm mắt lại, và trong một lúc, tôi không biết phải đáp lại thế nào.
“Được rồi,” sau cùng tôi cũng nói được.
“Còn một việc nữa, anh Bauer,” MacDougall tiếp. “Bác sĩ pháp y xác nhận có vết bầm trên lồng ngực con trai anh.”
Tương lai của tôi, tất cả đều trông vào hơi thở giữa câu nói đó và lời tiếp theo của tay trung úy.
“Có bằng chứng cho thấy Ruth Jefferson có thể có lỗi trong cái chết của con trai anh. Và đó có thể là một vụ tấn công vì động cơ thù ghét chủng tộc,” MacDougall nói. “Tôi sẽ gọi điện đến văn phòng công tố của quận.”
“Cảm ơn,” tôi đáp cộc lốc, rồi gác máy. Sau đó đầu gối mất hết sức lực, tôi nặng nề gục xuống trước khung cửa hỏng nát. Tôi cảm giác được bàn tay của Francis trên vai mình. Mặc dù không có gì chắn giữa tôi và không khí bên ngoài, tôi vẫn thấy khó thở.
“Bố rất tiếc,” Francis nói, hiểu nhầm phản ứng của tôi.
“Đừng.” Tôi gượng dậy và chạy tới căn phòng tối nơi Brit đang nằm mê man dưới một đống chăn. Tôi giật cho rèm mở toang ra và để ánh mặt trời chảy tràn căn phòng. Tôi nhìn vợ trở mình, nhăn mặt, nheo mắt, và tôi cầm lấy tay cô ấy.
Tôi không thể cho vợ đứa con của chúng tôi. Nhưng tôi có thể cho cô ấy thứ tốt đẹp nhất sau đó.
Công lý.
Trong khi tôi dành sáu tháng tù lập mưu trả thù Yorkey thì thằng này cũng bận rộn chẳng kém. Nó kết bè với một toán mấy thằng đua xe gọi là Pagan. Bọn này là một đám du côn to xác ngu độn mà tôi đoán là có dính dáng với ma túy kiểu gì đó, như thằng Yorkey. Và chúng hết sức hân hạnh khi được bảo kê cho thằng này, nếu điều đó có nghĩa là chúng có thể triệt hạ thủ lĩnh TĐBM Hartford. Chiến công kiểu đó sẽ giúp bọn nó được các băng đảng đường phố nể mặt.
Ngày đầu tiên ra tù, tôi cố gắng tập hợp các thành viên cũ trong đội, nhưng tụi này biết tỏng chuyện sắp xảy ra và đứa nào cũng có cớ lẩn tránh. “Tao đã từ bỏ tất cả mọi thứ vì tụi bây,” tôi nói khi đã tìm đến đứa cuối cùng. “Và tụi bây đền đáp tao như thế này sao?”
Thế nhưng điều cuối cùng tôi định làm là để người ta nghĩ rằng việc bị bỏ tù đã làm mình lụt nghề. Vậy là tối đó, tôi đến quán pizza từng là trụ sở không chính thức của đội, và chờ đến khi nghe tiếng gầm đậu lại của một tá mô tô. Tôi cởi phăng áo khoác, bẻ khớp ngón tay, và bước ra con hẻm sau nhà hàng.
Yorkey, thằng chó đẻ, đang nấp sau một bức tường cơbắp cuồn cuộn. Không nói quá, thằng Pagan nhỏ con nhất cũng cỡ mét chín và nặng trên trăm ba ký.
Tôi có thể thấp bé hơn, nhưng được cái nhanh nhẹn. Và bọn này không đứa nào từ nhỏ đến lớn phải tránh nắm đấm của ông tôi.
Tôi ước mình có thể kể lại chuyện đã xảy ra tối đó, nhưng tất cả những gì tôi biết là nhờ nghe được từ người ta. Tôi nghe nói mình đã điên cuồng xông vào thằng bự con nhất, dồn sức vào cánh tay dộng thẳng vào mồm nó để đấm văng cả hàng răng cửa. Rằng tôi đã nhấc bổng một đứa và ném nó như đạn đại bác khiến mấy thằng khác ngã ngửa. Rằng tôi đã tung cước vào thận một đứa đua xe, mạnh đến nỗi nghe đồn nó đã tiểu ra máu suốt cả tháng. Rằng máu đã đổ trong con hẻm như mưa dội xuống mặt đường.
Tất cả những gì tôi biết là tôi chẳng còn gì để mất ngoài danh dự, và chỉ thế thôi là đủ sức mạnh cho tôi chiến đấu. Tôi không nhớ gì về đêm đó hết, ngoài việc thức dậy vào sáng hôm sau trong tiệm pizza, với một túi đá chườm trên bàn tay gãy và một con mắt sưng húp.
Tôi không nhớ gì cả, nhưng tiếng lành đồn xa. Tôi không nhớ gì cả, nhưng một lần nữa, tôi lại được tôn làm huyền thoại.
Ngày tôi chôn cất con trai mình, trời nắng đẹp. Gió thổi đến từ hướng tây, châm chích làn da. Tôi đứng trước cái lỗ nhỏ xíu trên mặt đất.
Tôi không biết ai tổ chức toàn bộ lễ tang này. Phải có ai đó gọi điện lên chương trình, thông báo cho mọi người biết về buổi lễ. Tôi đoán là Francis, người mà lúc này đang đứng trước quan tài, đọc một đoạn từ Kinh thánh: “Vì đứa trẻ này con cầu nguyện, và Chúa đã đáp lại lời thỉnh nguyện của con,” Francis đọc. “Vì vậy con gửi đứa trẻ này cho Chúa; chừng nào còn sống bé vẫn thuộc về Chúa. Và thằng bé tôn thờ Chúa ở đó.”
Có vài người trong đội xây tường đến đây, và vài người bạn của Brit trong phong trào. Ngoài ra cũng có những người tôi không biết, đến để bày tỏ lòng kính trọng với Francis. Một trong số đó là Tom Metzger, người đã sáng lập Đội quân Kháng chiến Aryan. Ông giờ đã 78, sống một thân một mình như Francis.
Lúc Brit bắt đầu thổn thức khi đọc kinh Psalm, tôi vươn tay định vỗ về cô ấy, nhưng vợ tôi gạt ra. Thay vào đó, cô ấy quay sang Metzger, người cô ấy gọi là cậu Tommy từ khi còn nhỏ. Ông choàng tay qua người cô ấy, và tôi cố không cảm thấy sự thiếu vắng vợ như một cú tát vào mình.
Hôm nay tôi đã nghe nhiều lời ủi an sáo rỗng: Thằng bé đang ở một nơi tốt đẹp hơn; một chiến binh ngã xuống; thời gian sẽ làm lành mọi vết thương. Điều mà không ai bảo tôi biết về nỗi đau mất mát là cảm giác đó cô đơn đến thế nào. Bất kể còn ai thương khóc nữa thì cũng chỉ có bạn đơn độc trong căn phòng của riêng mình. Kể cả khi mọi người cố gắng an ủi bạn, bạn cũng ý thức rõ có một lớp màng chắn giữa mình và họ, tạo nên từ chuyện kinh khủng đã xảy ra, cô lập bạn với mọi người. Tôi đã nghĩ rằng, ít nhất thì cũng có Brit cùng tôi chịu đựng nỗi đau, nhưng cô ấy gần như chẳng thể nhìn tới tôi. Tôi tự hỏi vợ tôi như thế phải chăng cũng vì cùng lý do tôi né tránh cô ấy: bởi khi nhìn vào đôi mắt Brit, tôi lại thấy chúng trên gương mặt thằng nhóc Davis của tôi; bởi tôi thấy lúm đồng tiền trên má vợ và nghĩ rằng con trai tôi cũng có. Vợ tôi - người từng là tất cả những gì tôi muốn có - giờ lại là sự hiện diện thường xuyên nhắc tôi nhớ về tất cả những gì tôi đã mất.
Tôi tập trung chú ý vào cái quan tài đang được hạ vào lòng đất. Tôi giữ mắt mình mở thật to, vì khi tôi làm thế, nước mắt sẽ không trào ra, và trông tôi sẽ không giống một thằng yếu đuối.
Tôi bắt đầu lên một danh sách trong đầu, liệt kê tất cả những việc tôi sẽ không bao giờ được làm với con trai: Lần đầu tiên thấy nụ cười của con. Mở bữa tiệc mừng Giáng sinh đầu tiên trong đời chú nhỏ. Mua cho nó một khẩu súng BB. Cho thằng nhóc lời khuyên mời bạn gái đi chơi. Những cột mốc quan trọng. Thế nhưng con đường làm cha, đối với tôi, đã bị xóa sạch khỏi bản đồ.
Bỗng dưng Francis đứng trước mặt tôi với xẻng trong tay. Tôi nuốt nghẹn, cầm lấy nó, và tiến lên làm người đầu tiên bắt đầu chốn cất con trai. Sau khi hất một xẻng đất xuống huyệt, tôi cắm xẻng xuống đất trở lại. Tom Metzger giúp Brit nhấc nó lên và làm phần của cô ấy, tay vợ tôi run rẩy.
Tôi biết đúng ra mình phải đứng canh nghiêm cẩn trong lúc những người khác giúp đặt Davis vào lòng đất. Thế nhưng tôi quá bận chống lại thôi thúc muốn nhào xuống huyệt. Muốn dùng bàn tay trần cào hết đất ra. Muốn nhấc áo quan lên, nạy bật nắp, cứu lấy đứa con nhỏ. Tôi cố gắng kìm mình đến nỗi cả người run lên bần bật.
Thế rồi một chuyện xảy ra làm mọi căng thẳng tan biến, mở bung van để bao nhiêu hơi nóng trong người tôi xả hết đi. Bàn tay Brit đan vào tay tôi. Mắt cô ấy vẫn còn vẻ đờ đẫn vì thuốc và đau đớn; người cô ấy hướng đi chỗ khác tôi, nhưng cô ấy đã vươn ra. Vợ tôi cần tôi.
Lần đầu tiên trong suốt cái tuần đằng đẵng, tôi bắt đầu nghĩ rằng có lẽ, chúng tôi sẽ vượt qua tất cả và tiếp tục sống.
Khi Francis Mitchum triệu tập, bạn phải tuân theo.
Sau khi xử đẹp bọn Pagan, tôi nhận được một mẩu giấy viết tay từ Francis, nói rằng ông đã nghe được tin đồn, và muốn biết chúng có thật hay không. Ông mời tôi đến gặp ông vào thứ Bảy tiếp theo ở New Haven và ghi kèm địa chỉ. Tôi hơi ngạc nhiên khi lái xe tới đó và thấy nó nằm ngay giữa một lô đất xây nhà, nhưng khi trông thấy nhiều xe đỗ phía trước tôi đoán đó là chỗ cho đội của ông họp mặt. Tôi bấm chuông cửa, không ai trả lời, nhưng nghe tiếng động vẳng ra từ sân sau nên tôi đánh một vòng quanh hông nhà và vào qua lối hàng rào không khóa.
Gần như ngay lập tức, tôi bị một đám trẻ con túa ra đè bẹp. Bọn trẻ chắc khoảng năm tuổi, mà tôi thì không có nhiều kinh nghiệm với người có kích cỡ này. Đám nhóc đang đua nhau chạy tới chỗ một người phụ nữ cầm gậy bóng chày, cô gái đang cố điều động cho cái đám loi choi xếp thành hàng lối. “Hôm nay là sinh nhật của tớ,” một chú nhóc nói. “Nên tớ được chơi trước!” Thằng bé chụp lấy cây gậy và bắt đầu quật vào một cái pinata[29]: một thằng da đen bằng bột giấy treo trên thòng lọng.
Tốt rồi, ít ra tôi cũng biết mình đã đến đúng chỗ.
Tôi quay đi hướng khác và thấy mình mặt đối mặt với một cô gái đang cầm trên tay một nắm phi tiêu hình sao. Cô gái có mái tóc dài loăn xoăn và đôi mắt mang sắc xanh lam nhạt nhất mà tôi từng trông thấy.
Tôi đã bị chấn động hàng trăm lần trước đó, nhưng chưa bao giờ đến mức này. Tôi còn không nhớ nổi một tiếng chào.
“Hừm,” cô gái lên tiếng, “anh này hơi già, nhưng anh cũng có thể chơi thử một lượt nếu muốn.”
Tôi trơ mắt nhìn cô gái, bối rối chẳng hiểu gì, cho đến lúc nhận ra cô đang nói tới cái hình nhìn nghiêng mũi khoằm dán trên hông nhà. Tôi muốn chơi, đúng thế, nhưng Phóng tiêu vào thằng Do Thái không phải là trò tôi đang nghĩ đến lúc này.
“Tôi đang tìm Francis Mitchum,” tôi giải thích. “Ông nhắn tôi đến gặp ông ở đây?”
Cô gái nhìn tôi, mắt nheo lại. “Hẳn anh là Turk,” cô nói. “Ông đang chờ anh đấy.” Cô gái quay gót và đi vào nhà với vẻ duyên dáng nhẹ nhàng của người đã quen có kẻ theo chân.
Chúng tôi đi qua vài phụ nữ trong nhà bếp, họ thoăn thoắt nhảy qua nhảy lại giữa tủ lạnh và chạn bếp như hột bắp trên chảo rang, lần lượt nổ bung với từng mệnh lệnh: Lấy đĩa ra! Đừng quên kem đấy! Trong nhà cũng có trẻ con, nhưng bọn này lớn hơn - dưới mười ba tuổi, tôi đoán thế, vì chúng làm tôi nhớ đến chính mình trước đó không lâu - hoàn toàn bị người đàn ông đứng trước mặt át vía và chế ngự. Francis Mitchum thấp hơn tôi nhớ, nhưng nghĩ lại thì chẳng qua vì lần trước tôi thấy ông trên bục diễn thuyết thôi. Mái tóc bạc của ông óng mượt và được vén khỏi khuôn mặt, ông đang cao giọng giảng giáo lý Bản sắc Kitô giáo. “Con rắn,” ông giải thích, “đã giao cấu với Eve.” Bọn trẻ quay ngang quay ngửa nhìn nhau khi nghe ông thốt ra từ giao cấu, như thể việc nghe người ta thản nhiên nói to hai chữ đó là lời chào đón chúng bước vào chính điện của tuổi trưởng thành. “Còn lý do nào khiến Chúa bảo cô ta không được ăn trái táo nữa đâu? Họ đang ở trong một khu vườn đấy, trời ạ. Trái táo là một biểu tượng và nguyên nhân dẫn đến sự sa ngã của loài người chính là hoạt động giao cấu. Quỷ dữ đã tìm đến với Eve trong bộ dạng một con rắn, và cô ta đã bị lừa làm trò hợp hoan với nó, dẫn đến có thai. Rồi cô ta trở lại với Adam và lừa người đàn ông làm tình. Cô ta hoài thai Cain, và thằng này sinh ra trên người đã mang dấu hiệu của Quỷ dữ - số 666, Ngôi sao David. Đúng thế, Cain là thằng Do Thái đầu tiên. Nhưng Eve cũng sinh ra Abel, con trai của Adam. Và Cain đã giết Abel vì hắn ta ghen tị, và vì hắn là con của Satan.”
“Anh tin mấy lời ba lăng nhăng này à?” cô gái xinh đẹp đứng bên tôi hỏi. Giọng cô đều đều bình thản. Tôi cảm giác đó là một cái bẫy.
Người trong hội Quyền lực Trắng có kẻ tin theo giáo lý Bản sắc Kitô giáo, có kẻ không. Raine tin. Francis tin. Tôi tin. Chúng tôi tin rằng mình mới thực là Nhà Israel, là những người được Chúa trời lựa chọn. Bọn Do Thái là kẻ mạo nhận, và sẽ bị quét sạch trong cuộc chiến sắc tộc.
Tôi nhăn răng cười. “Ở vào độ tuổi của đứa nhỏ đó, tôi từng đói khát và đã chôm một cái bánh kẹp xúc xích tại trạm xăng. Tôi không trăn trở gì nhiều về hành động trộm cắp, nhưng trong suốt hai tuần tôi đã tin rằng Chúa sẽ trừng phạt tôi vì ăn thịt bò.”
Khi cô gái nhìn vào mắt tôi, tôi có cảm giác như cái khoảng không giữa thời khắc bạn bật ngọn lửa chong của bếp, và khoảnh khắc tiếp theo khi lửa bùng lên rừng rực sắc xanh. Cảm giác như có khả năng bùng nổ.
“Bố ơi,” cô gái thông báo. “Khách của bố đến rồi này.”
Bố?
Francis Mitchum liếc tôi rồi đưa mắt dò xét từ đầu đến chân. Ông quay lại đám con nít mà ông đang dạy, bọn này cũng đang chằm chằm nhìn tôi nốt.
Chuyển sự chú ý đi chỗ khác, ông bước qua một đống cẳng chân cẳng tay rối nùi của đám choai choai rồi vỗ vào vai tôi. “Turk Bauer. Thật tốt là cậu đã tới.”
“Được mời là vinh dự của cháu,” tôi đáp lại.
“Tôi thấy cậu đã gặp Brittany,” Francis tiếp tục.
Brittany. “Chưa chính thức ạ.” Tôi chìa tay ra. “Xin chào.”
“Xin chào,” Brit lặp lại và bật cười. Cô ấy nắm tay tôi lâu hơn bình thường một lúc, nhưng không đủ để thu hút sự chú ý của ai.
Ngoại trừ Mitchum, người mà - tôi cho rằng - chẳng để cái gì lọt khỏi tầm mắt. “Đi dạo với ta một lúc được không?” ông hỏi, và tôi theo chân ông bước ra trở lại khoảng sân sau.
Chúng tôi trò chuyện vẩn vơ về thời tiết (mùa xuân năm nay bắt đầu muộn) và quãng đường xe chạy từ Hartfort tới New Haven (quá nhiều công trình trên I-9IS). Khi chúng tôi đến một góc sân, gần một cầy táo, Mitchum ngồi xuống ghế bố và ra hiệu cho tôi làm theo. Từ đây, chúng tôi có thể nhìn xuống cảnh bọn nhỏ chơi đập pinata. Giờ là lượt của thằng bé sinh nhật, nhưng cho tới lúc này, không có viên kẹo nào rơi ra cả. “Con trai đỡ đầu của ta đấy,” Mitchum nói.
“Cháu đang tự hỏi tại sao mình lại được mời đến dự sinh nhật một đứa nhỏ.”
“Ta thích trò chuyện với các thế hệ sau,” ông thổ lộ. “Làm ta cảm thấy mình vẫn chưa cổ lỗ.”
“Ồ, cháu không nghĩ thế. Cháu cho rằng bác vẫn còn sức ảnh hưởng lớn lắm.”
“Nào, nói về cậu đi,” Mitchum nói. “Gần đây cậu gây được tiếng vang ra phết đấy.”
Tôi gật đầu. Tôi vẫn chưa rõ sao Francis Mitchum lại muốn gặp mình.
“Ta nghe nói anh trai cậu bị một thằng da đen giết chết,” ông tiếp tục. “Và bố cậu là một gã đồng...”
Đầu tôi ngẩng phắt dậy, má nóng phừng phừng. “Ông ta không còn là bố tôi nữa.”
“Bình tĩnh nào, con trai. Không ai trong chúng ta được chọn cha chọn mẹ hết. Quan trọng là chúng ta nghĩ gì về họ thôi.” Ông nhìn tôi. “Lần cuối cùng cậu gặp ông ta là khi nào hả?”
“Khi tôi nện ổng bất tỉnh nhân sự.”
Một lần nữa, tôi cảm thấy người ta vừa đưa cho mình một câu đố, và tôi phải trả lời sao cho chính xác, bởi vì Mitchum đã tiếp tục nói. “Cậu đã lập nên một đội quân của riêng mình, và theo lời kể của nhiều người, cậu là người tuyển mộ cừ nhất Bờ Đông. Cậu phải chịu tội thay cho cấp phó của cậu, rồi đã cho thằng phản bội một bài học ngay khi được phóng thích.”
“Chỉ làm việc cháu cần làm thôi.”
“Hừm,” Mitchum trả lời, “người như cậu bây giờ hiếm lắm. Ta còn tưởng danh dự là một mặt hàng sắp tuyệt chủng rồi.”
Đúng lúc đó thì một thằng nhỏ đập gãy cổ cái pinata và kẹo đổ ào xuống bãi cỏ. Bọn trẻ ập xuống đó, vơ lấy kẹo trong những nắm tay.
Mẹ của thằng bé sinh nhật bước ra từ nhà bếp, mang theo một khay bánh nướng. “Mừng ngày sinh nhật của con,” bà mẹ cất giọng hát và tụi nhóc túm tụm lại quanh bàn cắm trại.
“Hồi ta còn chỉ huy đội của mình,” Mitchum kể, “không đời nào có thành viên trong phong trào bị chết vì nghiện ma túy. Bây giờ thì, chúa ơi, bọn con trai Aryan đang kết bè kết phái với đám da đỏ khu bảo tồn để chế ra ma túy đá ở xó xỉnh nào đó mà liên minh không can thiệp được.”
Mừng ngày sinh nhật của con!
“Bọn chúng không kết bè kết phái với nhau,” tôi bảo Mitchum. “Bọn chúng chỉ hợp tác chống lại kẻ thù chung: dân Mexico và lũ mọi đen. Cháu không bênh vực cho việc chúng đang làm, nhưng cháu hiểu vì sao chúng có thể trở thành những người đồng minh bất ngờ của nhau.”
Mừng ngày Jackson sinh ra đời!
Mitchum nheo mắt lại. “Đồng minh bất ngờ,” ông lặp lại. “Lấy ví dụ thế này được không, một tay già đời nhiều kinh nghiệm... một chàng trai trẻ có lá gan lớn nhất ta từng thấy. Một người đàn ông quen biết thế hệ người Mỹ da trắng trước và một người có khả năng lãnh đạo lớp đàn em. Một kẻ trưởng thành từ đường phố... một người lớn lên bên công nghệ. Tại sao không chứ, đó có thể là một bộ đôi đáng gờm.”
Happy birthday to you!
Ở phía bên kia sân, Brit bắt gặp ánh mắt của tôi và đỏ mặt.
“Cháu đang nghe đây ạ,” tôi nói.
Sau tang lễ, tất cả mọi người vào lại trong nhà. Người ta đã bày ra đủ thứ thịt hầm, bánh nướng có nhân và đĩa đựng ngồn ngộn thức ăn, nhưng tôi chẳng đụng đến món nào. Mọi người cứ tỉ tê rằng họ rất tiếc cho mất mát của chúng tôi, làm như họ có liên quan gì đến sự việc đó vậy. Francis và Tom ngồi ngoài hàng hiên vẫn còn vương vài mảnh kính vỡ từ công trình sửa cửa sổ của tôi và uống chai whiskey Tom mang tới.
Brit ngồi trên ghế như nhụy hoa, những cánh hoa vây quanh là bạn bè cô ấy. Khi có người mà vợ tôi không biết rõ tiến lại gần, họ khép lại quanh người bạn đang đau khổ. Cuối cùng, họ rời đi, nhắn lại những câu đại khái như Hãy gọi mình nếu cậu cần và Ngày qua ngày nỗi đau sẽ vơi đi. Nói cách khác là: những lời dối trá.
Tôi vừa tiễn vị khách cuối cùng thì một chiếc xe đậu lại. Cửa mở và MacDougall, tay cảnh sát đã lập hồ sơ khiếu nại của tôi, bước ra ngoài. MacDougall bước lên những bậc thềm dẫn tới chỗ tôi đang đứng, tay đút túi. “Tôi chưa có tin gì mới cho anh,” tay cảnh sát nói thẳng. “Tôi đến để chia buồn với gia đình.”
Tôi nghe Brit tiến lại từ phía sau tôi như một cái bóng. “Em yêu, đây là viên cảnh sát sẽ giúp mình.”
“Khi nào?” vợ tôi hỏi cộc lốc.
“Ừm, cô Bauer, để điều tra mấy thứ này chúng tôi cần thời gian...”
“Mấy thứ này,” Brit lặp lại. “Mấy thứ này.” Cô ấy bước lên trước, đẩy tôi ra để đối mặt với tay cảnh sát. “Con trai tôi không phải là một thứ vô tri vô giác. Đã từng không phải,” vợ tôi sủa lại, giọng vỡ ra. “Đã từng không phải là một thứ vô tri.”
Rồi Brit quay gót và biến mất vào lòng căn hộ. Tôi nhìn MacDougall. “Hôm nay là một ngày rất khó khăn.”
“Tôi hiểu. Ngay khi công tố viên liên lạc lại với tôi, tôi sẽ...”
Tuy nhiên, viên trung úy không kịp nói dứt câu, bởi vì một tiếng xoảng đã vang lên lấp đầy không gian phía sau tôi. “Tôi phải đi rồi,” tôi nói với MacDougall, sập cửa lại trước mặt hắn ta.
Một tiếng xoảng nữa đã vang lên trước khi tôi tới bếp. Tôi vừa bước vào là một đĩa thịt hầm bay vèo qua sát mặt, đập vào bức tường sau lưng tôi. “Brit,” tôi kêu lên, chạy về phía vợ, và cô ấy huơ một cái ly về phía đầu tôi. Nó sượt qua chân mày và trong một lúc, tôi thấy nổ đom đóm mắt.
“Bày ra mấy thứ này là để làm em cảm thấy khá hơn đó ư?” Brit gào lên. “Em ghét nui với phô mai.”
“Em yêu.” Tôi nắm lấy vai vợ. “Họ chỉ cố an ủi mình thôi.”
“Em không muốn họ an ủi mình gì hết,” vợ tôi òa lên, nước mắt lăn dài trên gương mặt. “Em không muốn có sự thương hại của họ. Em không muốn gì hết, trừ trả thù con khốn đã giết đứa con nhỏ của em.”
Tôi choàng tay quanh người vợ, mặc dù cô ấy vẫn gồng người cứng đờ trong tay tôi. “Chuyện này chưa xong đâu.”
Brit đẩy tôi mạnh đến nổi tôi loạng choạng ngã về sau vì bất ngờ. “Nên như thế,” vợ tôi gắt, lời lẽ chua cay đến nỗi tôi phải sững sờ. “Phải là như thế, nếu anh còn là một thằng đàn ông.”
Một sợi cơ giật giật ở hàm tôi và tôi siết tay lại thành nắm đấm, nhưng không phản ứng. Francis, chẳng biết đã vào phòng tự lúc nào, tiến lại đằng sau Brit và vòng tay quanh eo cô con gái. “Thôi nào, bọ bé bỏng. Để bố đưa con lên lầu.” Rồi ông dìu vợ tôi ra khỏi nhà bếp.
Tôi biết Brit muốn nói gì: rằng một chiến binh đâu phải là chiến binh thực thụ nếu hắn chỉ chiến đấu sau máy tính. Đúng, chuyển phong trào sang hoạt động ngầm là ý tưởng của Francis, và đó là một kế hoạch sáng suốt thâm sâu - nhưng Brit không sai. Có một sự khác biệt lớn giữa cảm giác thỏa mãn tức thời khi nắm đấm dộng vào kẻ thù, và niêm kiêu hãnh mãi sau mới đến khi lan truyền nỗi sợ hãi rộng khắp qua Internet.
Tôi chụp lấy chìa khóa xe trên bàn bếp và chỉ trong giây lát, tôi đã lái vù vù xuống phố, gần đường ray xe lửa. Trong một thoáng, tôi nghĩ tới việc lùng tìm địa chỉ của con y tá da đen. Tôi có kỹ năng công nghệ để làm được điều đó trong vòng chưa đến hai phút.
Cũng trong khoảng chừng đó thời gian, cảnh sát sẽ biết và hướng mối nghi ngờ về phía tôi nếu có chuyện gì xảy ra với y tá đó và ngôi nhà của ả ta.
Thay vì làm vậy, tôi đậu lại dưới một đoạn cầu vượt xe lửa và ra khỏi xe. Tim tôi đập thình thình, adrenaline sôi réo. Lâu rồi tôi không đi đập phá một trận cho hả nên đã quên mất cảm giác say máu của những chuyến tung hoành như thế, khác hẳn cái ngây ngất mà men rượu, thể thao hay tình yêu mang lại.
Người đầu tiên chắn đường tôi không còn tỉnh táo. Vô gia cư, hắn ta đang xỉn hay phê thuốc hoặc say ngủ trên một tấm pallet các-tông dưới một núi bao ni-lông. Hắn thậm chí không phải da đen. Hắn chỉ là một mục tiêu dễ dàng.
Tôi túm cổ hắn, và hắn giật mình bừng tỉnh từ một cơn ác mộng để rồi rơi ngay vào một cơn ác mộng khác. “Mày đang nhìn cái gì đó?” tôi gào vào mặt hắn, mặc dù đã giữ chặt cổ tên này, để hắn không thể nhìn đâu khác ngoài tôi. “Mày bị cái chó chết gì thế hử?”
Rồi tôi húc đầu vô miệng thằng này, đánh cho răng hắn lung lay. Tôi vật hắn xuống đường trở lại, rồi nghe một tiếng rạn đẩy thỏa mãn khi đầu hắn đập lên mặt đất.
Với mỗi cú nện, tôi dần cảm thấy dễ thở hơn. Đã nhiều năm rồi tôi mới lại làm một trận thế này, nhưng cảm giác như mới hôm qua - nắm tay của tôi vẫn còn lưu lại ký ức trong cơ bắp. Tôi giã kẻ lạ mặt này cho đến khi chẳng ai còn nhận ra hắn nữa, vì đó là cách duy nhất để tôi nhớ được mình là ai.
Chú thích:
[21] Aryan: theo quan điểm phân biệt chủng tộc của phát xít, Aryan là chủng tộc người da trắng gốc Âu, chủng tộc thượng đẳng.
[22] Nguyên văn là skinchicks, chỉ thành viên nữ của nhóm skinheads, một nhóm nổi tiếng với kiểu tóc cạo trọc hoặc cắt sát da đầu, chuyên mặc trang phục lao động. Khi mới xuất hiện ở Anh vào những năm 1960, nhóm này không đặc biệt kỳ thị chủng tộc, nhưng điều đó đã thay đổi vào những năm 1970.
[23] WIC (The Special Supplemental Nutrition Program for Women, Infants, and Children): Chương trình Bổ sung Dinh dưỡng Đặc biệt cho Phụ nữ, Trẻ sơ sinh và Trẻ em.
[24] Phong trào Tiệc trà (Tea Party) là một phong trào chính trị phân quyền tại Mỹ, kêu gọi giảm nợ công quốc gia và ngân sách liên bang bằng cách giảm chi phí và thuế má.
[25] Trừ nhóm của ông Francis, đây đều là những người và hội nhóm có thật trong lịch sử.
[26] Martha Stewart là một nữ doanh nhân, tác giả và nhân vật nổi tiếng trên truyền hình nước Mỹ. Các tạp chí và chương trình của bà thường nói về chủ đề lối sống, cụ thể là cách làm những món đồ thủ công, nấu ăn, làm vườn, thiết kế nội thất...
[27] Nguyên văn là Zionist Occupation Government, đấy là tên một tổ chức xuất hiện trong các thuyết âm mưu của những người theo chủ nghĩa da trắng thượng đẳng, bài Do Thái. Thuyết này cho rằng người Do Thái âm thầm nắm quyền kiểm soát chính quyền các nước phương Tây.
[28] Trùm mafia khét tiếng nước Mỹ.
[29] Món đồ bằng bột giấy, gốm hoặc vải, đựng kẹo hoặc đồ chơi bên trong. Vào những dịp lễ hội, tiệc tùng, người Mexico thường cho trẻ con đập vỡ pinata để lấy kẹo, đồ chơi bên trong.